Đến với bài thơ hay: “Gói” của Nguyễn Khắc Thạch

10:45 12/08/2009
MINH QUANG                Trời tròn lưng bánh tét                Đất vuông lòng bánh chưng                Dân nghèo thương ngày Tết                Gói đất trời rưng rưng...

Nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch

Lời bình:

Theo quan niệm của người xưa, bánh chưng, bánh tét có hình dáng của đất, trời. Thành thử, hai câu đầu của bài thơ như là một lời giải thích, một lời giải thích rất dân dã nhưng không kém phần điệu nghệ. Nguyễn Khắc Thạch đã khéo vận dụng sự tích bánh chưng, bánh dầy vào GÓI một cách tinh tế đầy gợi cảm:

                        Trời tròn lưng bánh tét
                        Đất vuông lòng bánh chưng

Cho nên khi năm hết Tết đến, ở trong một gia đình Việt Nam ta, hương vị Tết tất thảy đều phải có bánh chưng, bánh tét. Đó là một nét đẹp truyền thống làm giàu thêm bản sắc văn hóa của dân tộc, cần phải được giữ gìn. Người lao động sống bằng nghề nông, vất vả quanh năm, chỉ thầm mong đủ miếng cơm manh áo, dễ gì có được “ngày Tết” theo như ý muốn đâu. Bởi thế, “Dân nghèo thương ngày tết” cũng chính là thương mình, là lo cho mình có tạo nên được “ngày Tết” chu tất hay không?!

Cũng vì bánh chưng, bánh tét có hình dáng của đất trời, do vậy gói bánh chưng, bánh tét là “gói đất trời”. Đất trời thật thiêng liêng. Gói đất trời rưng rưng... là “gói” bao nỗi niềm tâm trạng trong đó. Nỗi niềm tâm trạng của dân nghèo mà Nguyễn Khắc Thạch muốn nói lên ở đây chứa đựng đầy đủ qua hai từ rưng rưng này. Trên hết, đó là niềm vui sướng hạnh phúc về thành quả lúa gạo mà họ làm ra, nhưng làm ra được hạt lúa, hạt gạo, biết bao mồ hôi họ đã đổ xuống, biết bao công sức bỏ ra họ có quản đâu. Họ thấm thía hơn ai hết cái giá “đắng cay muôn phần” mà mình từng trải. Nguyễn Khắc Thạch đã thực sự đồng cảm với người dân nghèo khó ở cả hai cực biên độ của nỗi niềm tâm trạng này. Chính vậy mà rưng rưng quả thật là xuất thần về tài dùng chữ của anh!

Bài thơ đã lay động mạnh mẽ, gây được khoái cảm bất ngờ cho người đọc, điều tiên quyết là độ sâu chín trong cảm xúc của người viết. Nhà thơ qua GÓI thực sự “trải lòng” chứ không phải là “trải lời” trên giấy như cách nói của một nhà văn có uy tín khi nhận xét về thơ ta từ thực tế thơ xuất hiện trên các báo, tạp chí, đầu sách trong nhiều năm qua.

Mới hay, Nguyễn Khắc Thạch đã nói được rất nhiều qua bài thơ này. GÓI là bài thơ có tứ lạ, chất liệu thơ không mới nhưng thật cảm động. Một bài thơ tứ tuyệt chỉ vỏn vẹn hai mươi từ mà sức chứa, sức tỏa của nó thật lớn lao, thật bao la tựa như Trời-Đất. Lời thơ được lọc kỹ, tuyệt không cầu kỳ. Cách biểu đạt sự vật ở Gói có tính chuẩn mực cao. Các lời thơ như tròn lưng, vuông lòng, thương ngày tết, rưng rưng, thiết tưởng rất có sức nặng. Cấu trúc thơ GÓI chặt, các từ trong bài đều được xác lập vị trí rất vững chắc. Bấy nhiêu thôi, đủ tin tưởng GÓI của Nguyễn Khắc Thạch sẽ có sức sống lâu bền với thời gian và trong lòng công chúng mến mộ.

M.Q
(184/06-04)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN HIỆP

    Dù muốn dù không thì hình thức được lựa chọn là đối tượng của nhà văn. Vậy các nhà văn “khó đọc” của ba miền Bắc, Trung, Nam chọn hình thức nào để xác lập lối viết?

  • NGUYỄN HIỆP

    Dù muốn dù không thì hình thức được lựa chọn là đối tượng của nhà văn. Vậy các nhà văn “khó đọc” của ba miền Bắc, Trung, Nam chọn hình thức nào để xác lập lối viết?

  • LƯƠNG THÌN

    Có những cuốn sách khi đọc ta như được dẫn dắt vào một thế giới huyền bí của tâm hồn, trái tim và khơi dậy lên bao khát khao mơ ước. Làm dâu nước Pháp của nữ nhà văn Hiệu Constant (Lê Thị Hiệu, Nxb. Phụ Nữ, 2014) là một cuốn tự truyện như thế.

  • VƯƠNG TRỌNG

    Thật khó xác định chính xác thời gian Nguyễn Du ở Phú Xuân, nhưng trước khi ra làm quan dưới triều Gia Long, Nguyễn Du chỉ đến Phú Xuân một lần vào năm 1793, khi nhà thơ vào thăm người anh là Nguyễn Nễ đang coi văn thư ở Cơ mật viện, điều này chúng ta biết được từ bài thơ của Nguyễn Nễ nhan đề “Tống Tố Như đệ tự Phú Xuân kinh Bắc thành hoàn” (Tiễn em trai Tố Như từ Phú Xuân trở về Bắc).

  • NHỤY NGUYÊN  

    Con người khá trầm tĩnh Lê Huỳnh Lâm không thuộc típ quan hệ rộng. Những ai đến với anh và anh tìm đến (dẫu chỉ thông qua tác phẩm) rồi in đậm dấu ấn phần nhiều lớn tuổi; là một sự thận trọng nhất định.

  • LÊ THỊ BÍCH HỒNG

    Với ý thức đi tìm cái mới, cái đẹp, hơn 30 năm qua, Hứa Vĩnh Sước - Y Phương lặng lẽ thử nghiệm, không ngừng lao động sáng tạo, miệt mài làm “phu chữ” để ngoài một tập kịch, bảy tập thơ, ba tập tản văn, anh đã bổ sung vào văn nghiệp của mình hai trường ca đầy ấn tượng, đó là Chín tháng (1998) và Đò trăng (2009).

  • THÁI KIM LAN

    Thường khi đọc một tác phẩm, người đọc có thói quen đọc nó qua lăng kính định kiến của chính mình, như khi tôi cầm tập thơ Ký ức hoa cẩm chướng đỏ của Phan Lệ Dung và lướt qua tựa đề.
     

  • HOÀI NAM

    Nguyễn Du (1765 - 1820) là một trong số những nhà thơ lớn, lớn nhất, của lịch sử văn học dân tộc Việt Nam. Đó là điều không cần phải bàn cãi.

  • ĐỖ LAI THÚY   

    Trước khi tầng lớp trí thức Tây học bản địa hình thành vào đầu những năm 30 thế kỷ trước, thì đã có nhiều thanh niên Việt Nam sang Pháp du học.

  • TRẦN NHUẬN MINH   

    Truyện Kiều, bản thánh kinh của tâm hồn tôi. Tôi đã nói câu ấy, khi nhà thơ, nhà phê bình văn học Canada Nguyễn Đức Tùng, hỏi tôi đã chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất tác phẩm nào của nhà thơ nào, trong toàn bộ sáng tác hơn 50 năm cầm bút của tôi, in trong tập sách Đối thoại văn chương (Nxb. Tri Thức, 2012).

  • YẾN THANH   

    “vùi vào tro kỷ niệm tàn phai
    ngọn lửa phù du mách bảo
    vui buồn tương hợp cùng đau”

                     (Hồ Thế Hà)

  • Sự hưởng ứng của công chúng thời bấy giờ đối với Cô Tư Hồng* của Đào Trinh Nhất, bất chấp những giai thoại xung quanh cô chủ yếu được thêu dệt nên bởi những định kiến đạo đức có phần khắc nghiệt, cho thấy sự chuyển biến rất nhanh trong nhận thức của đại chúng, hệ quy chiếu của đạo đức truyền thống, cho dù được bảo đảm bởi những bậc danh nho, đã không còn gây áp lực đối với tầng lớp thị dân mới.

  • NGÔ THẢO

    Việc lùi dần thời gian Đại hội, và chuẩn bị cho nó là sự xuất hiện hàng loạt bài phê bình lý luận của khá nhiều cây bút xây dựng sự nghiệp trên cảm hứng thường trực cảnh giác với mọi tác phẩm mới, một lần nữa lại đầy tự tin bộc lộ tinh thần cảnh giác của họ, bất chấp công cuộc đổi mới có phạm vi toàn cầu đã tràn vào đất nước ta, đang làm cho lớp trẻ mất dần đi niềm hào hứng theo dõi Đại hội.

  • Tiểu thuyết "Sống mòn" và tập truyện ngắn "Đôi mắt" được xuất bản trở lại nhân kỷ niệm 100 năm sinh của nhà văn (1915 - 2015).

  • NGÔ ĐÌNH HẢI

    Tôi gọi đó là nợ. Món nợ của hòn sỏi nhỏ Triệu Từ Truyền, trót mang trên người giọt nước mắt ta bà của văn chương.

  • NGÔ MINH

    Nhà thơ Mai Văn Hoan vừa cho ra mắt tập thơ mới Quân vương &Thiếp (Nxb. Thuận Hóa, 6/2015). Đây là tập “thơ đối đáp” giữa hai người đồng tác giả Mai Văn Hoan - Lãng Du.

  • DƯƠNG HOÀNG HẠNH NGUYÊN

    Nhà văn Khương Nhung tên thật là Lu Jiamin. Cùng với sự ra đời của Tôtem sói, tên tuổi ông đã được cả văn đàn thế giới chú ý.

  • NGUYỄN HIỆP

    Thường tôi đọc một quyển sách không để ý đến lời giới thiệu, nhưng thú thật, lời dẫn trên trang đầu quyển tiểu thuyết Đường vắng(1) này giúp tôi quyết định đọc nó trước những quyển sách khác trong ngăn sách mới của mình.

  • Hà Nội lầm than của Trọng Lang đương nhiên khác với Hà Nội băm sáu phố phường của Thạch Lam. Sự khác biệt ấy không mang lại một vị trí văn học sử đáng kể cho Trọng Lang trong hệ thống sách giáo khoa, giáo trình văn chương khi đề cập đến các cây bút phóng sự có thành tựu giai đoạn 1930 – 1945. Dường như người ta đã phớt lờ Trọng Lang và vì thế, trong trí nhớ và sự tìm đọc của công chúng hiện nay, Trọng Lang khá mờ nhạt.

  • PHẠM PHÚ PHONG

    Trước khi đưa in, tôi có được đọc bản thảo tiểu thuyết Phía ấy là chân trời (1), và trong bài viết Đóng góp của văn xuôi Tô Nhuận Vỹ (tạp chí Văn Học số 2.1988) tôi có nói khá kỹ về tiểu thuyết nầy - coi đây là một thành công mới, một bước tiến trên chặng đường sáng tác của nhà văn, cần được khẳng định.