CHÚT “DUYÊN NỢ” VỚI VỊ “TƯỚNG TRƯỜNG SƠN”

08:33 19/05/2019
Kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh (19/5/1959 - 19/5/2019)

NGUYỄN KHẮC PHÊ

Đã nhắc đến đường Trường Sơn, có lẽ hầu như ai cũng nghĩ đến Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nhất là khi vị tư lệnh các lực lượng chiến đấu trên con đường huyền thoại này trong những năm chiến tranh ác liệt vừa ra đi ngay giữa lúc các hoạt động tiến tới kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Trường Sơn đang diễn ra ở nhiều địa phương, đơn vị quân đội…

Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên kiểm tra tuyến đường Hồ Chí Minh tại khu vực Tuy Đức (Đắc Nông). Cùng đi có Đại tá Trần Văn Phúc - Phó Tư lệnh Binh đoàn 12 (bên phải) ngày 9/5/1998 - Ảnh: baovanhoa

Với riêng tôi, tuy ít khi gần gũi, nhưng lại có chút “duyên nợ” với vị “Tướng Trường Sơn”. Nói vậy, vì cách đây 7 năm, khi anh bạn kỹ thuật từng chung tay xây dựng đường 12A lên đèo Mụ Giạ năm xưa  là Trần Văn Phúc đưa tặng tôi cuốn hồi ký “Trọn một con  đường” của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vừa xuất bản, Phúc bảo: “Hay tôi và ông  đến thăm ông Đồng Sĩ Nguyên đi!...” Phúc quê Thái  Bình,  hồi  còn  là bạn  kỹ thuật,  thuộc  lớp  đàn  em,  năm 1965, trong khi tôi ở lại bám trụ đường 12A thì  Phúc ra Bắc, tưởng là tránh được tuyến lửa, nhưng  rồi anh chuyển sang công binh, đi sâu vào Trường  Sơn  phía  nam,  lên  chức  to;  tuy  vậy,  ngày  gặp  lại  vẫn lái xe hon-đa rủ tôi đi thăm những chiến binh  xưa, như đại tá- nhà văn Nguyễn Việt Phương từng  là Chính ủy Binh trạm 12, tác giả của cả chục cuốn  sách  về  đường  Trường  Sơn…  Thật  tiếc,  hôm  Phúc  rủ tôi đến thăm ông Đồng Sĩ Nguyên, vì đã lỡ mua  vé về Huế, tôi hẹn Phúc lần sau. Không ngờ, thế là  chẳng có“lần sau” nào nữa! 

Phúc  có  thể  rủ tôi  cùng  đến  thăm Trung  tướng  Đồng  Sĩ Nguyên  vì anh  là  đại  tá,  từng  là  Phó tư  lệnh Binh đoàn 12, đã nhiều lần làm việc với Trung  tướng Đồng Sĩ Nguyên. Mặt khác, anh biết tôi mặc  dù chung “một con đường” với Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên nhưng do hoạt động thuộc các đơn vị dân  sự,  nên ít  có dịp  gặp  gỡ ông  “Tướng  Trường  Sơn”  nổi tiếng. Vậy mà thật tiếc…

Với tướng Đồng Sĩ Nguyên, tôi không chỉ mang  món  nợ bỏ lỡ lần  đến  thăm  ông  mà  vì chưa  bao  giờ  nghĩ tới  việc  tặng  ông  các  tác  phẩm  viết  về  đường Trường Sơn của mình. Bởi ngại mang tiếng  “thấy  người  sang  bắt  quàng  làm  họ”  và  cũng  do  nếp nghĩ có lẽ của không ít người: lãnh đạo cấp to  như  ông,  hơi  đâu  đọc  sách…  Thì  ra  ông  quan  tâm  đến cả từng bài báo tôi viết, coi trọng ý kiến của cả những  người  không  có “mấy gờ-ram”  trọng  lượng  trên chính trường và văn giới như tôi! Bây giờ hiểu  ra thì đã muộn…  

Nguyên  do  là  khi  tập  hồi  ký đầu  tiên  của  ông  (“Đường Xuyên Trường Sơn” - Nxb. Quân đội nhân  dân in 5/1999) xuất bản trong dịp kỷ niệm 40 năm  mở đường Trường  Sơn,  tôi  là  một  trong  số người  viết bài giới thiệu đầu tiên. Trong bài đó có đoạn:  

“…Mặc dầu trong mấy lời “Cùng bạn đọc” đầu sách, vị tư lệnh đã khiêm tốn viết: “...mọi sự kiện lớn - nhỏ trên tuyến chi viện chiến lược diễn ra với tốc độ dồn dập, đan xen, liên quan đến nhiều đơn vị, nhiều người. Nhưng sự kiện, nhân vật mà tôi biết đến, nhớ được lại quá nhỏ nhoi so với những việc không biết, không nhớ...”, nhưng với cương vị chỉ huy suốt cả thời kỳ dài quan trọng nhất (1966 - 1975) trên tuyến Trường Sơn, lại là vị chỉ huy từng nổi tiếng xông xáo, bám sát hiện trường, trọng điểm, nên tác giả không chỉ tái hiện được đầy đủ những ý đồ chiến lược, những chiến dịch lớn, những hoạt động ở tầm vĩ mô của một mặt trận đặc biệt kéo dài hàng chục năm trời, xuyên qua địa bàn 20 tỉnh đông và tây Trường Sơn, quân số lúc cao điểm lên tới gần 120.000 bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân giao thông, văn nghệ sĩ; mà còn diễn tả được bầu không khí hào hùng và bi tráng trên mỗi cung đường với nhiều chi tiết sống động, nên cuốn sách có sức hấp dẫn và truyền cảm mạnh mẽ…

…Những trang viết về cuộc đời riêng vị tư lệnh tuy ít ỏi nhưng thật cảm động. Người đọc khó quên cảnh những đứa con nơi sơ tán vui mừng được gặp bố, lần ông ghé thăm mẹ già ở quê, đám cưới tổ chức gấp cho cậu con trai là chiến sĩ lái máy bay chiến đấu trước ngày ông vào chiến dịch mới...”.

Công trạng cũng như chuyện về Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên thì sách báo đã nói rất nhiều, tôi chỉ xin kể thêm là mặc dù về chức vị, tôi và Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên xa cách… - diễn đạt theo “ngôn ngữ Trường Sơn” là một trời một vực (lúc tôi còn là một kỹ thuật viên không có chức tước gì, suốt ngày đêm xuôi ngược trên chặng đường đầy những hố bom, luôn lo lắng bị khiển trách để tắc đường thì Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên đã ở đỉnh cao quyền lực trên đường Trường Sơn) nhưng khi tôi mạnh dạn “góp ý” cuốn sách nên bổ sung đôi điều, ông không tự ái đã đành mà còn lịch sự ngỏ lời cảm ơn.

Một chuyện thật nhỏ trong sự nghiệp lớn của một vị tướng, vậy mà ông không quên. Thú thật là bản thân tôi đã quên. Không ngờ, gần một chục năm sau, tôi bỗng nhận được điện thoại của ông. Đó là khi báo “Văn nghệ” ngày 1/11/2008 đăng bài “Làm gì để chặn tư bản man rợ?” của tôi trong mục “Tiếng nói nhà văn” rồi được Đài Tiếng nói Việt Nam sử dụng như một bài xã luận của cơ quan truyền thông quan trọng này, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên gọi điện cho tôi tỏ ý hoan nghênh và nói đại ý: “Nếu có thế lực nào gây sức ép thì chúng tôi sẽ lên tiếng ủng hộ cậu…”. Thì ra, mặc dù xa cách cả về chức vị và nơi cư trú, ông vẫn lặng lẽ dõi theo công việc của một cây bút mọc lên từ các trọng điểm Trường Sơn năm xưa…

Cũng là một chuyện nhỏ, nhưng theo tôi đã thể hiện những vẻ đẹp phẩm cách, đức độ rất cần thiết trong cuộc cuộc xây dựng xã hội mới hôm nay. Đó là sự khiêm tốn, chung thủy và ý chí chiến đấu không phai mờ, ngay cả khi đã già, trước những điều hư hỏng, mờ ám trong cuộc sống hôm nay. Nhân đây cũng xin nhắc, ông Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên là một trong số ít người đầu tiên tố cáo việc cho nước ngoài thuê khai thác những khu rừng hiểm yếu, có thể nguy hại đến an ninh quốc gia…  
 

Cuốn hồi ký “Trọn một con đường” của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên

Trần Văn Phúc đưa tặng tôi cuốn hồi ký “Trọn một con đường” của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên dày 700 trang khổ lớn là vì thế. Cuốn sách do đại tá Nguyễn Duy Tường thể hiện, thực ra là gồm 2 cuốn trước, được bổ sung, gia công thêm, được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in năm 2012, nhân mừng Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên lên tuổi thượng- thượng-thọ 90. Trong lần xuất bản này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết những lời rất tốt đẹp về Đồng Sĩ Nguyên:

“Đồng chí Đồng Sĩ Nguyên là một vị tướng tài ba, một nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước có đức độ và tài năng, một người học trò ưu tú của Bác Hồ… Đồng chí là một cán bộ đảng viên mẫu mực có phẩm chất trong sáng, sống trung thực, đoàn kết khiêm tốn, giản dị… Đối với tôi, tướng Đồng Sĩ Nguyên là một trong những người đồng chí, người bạn chiến đấu thân thiết, gần gũi suốt cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc mà tôi rất tin và quý mến.”

Những “dòng chữ vàng” này làm chúng ta càng thêm nhớ tiếc vị “Tướng Trường Sơn” vừa ra đi để được “gặp lại” hàng vạn đồng đội đã hy sinh trong cuộc chiến trường kỳ bảo vệ tuyến đường đã trở thành huyền thoại đang yên nghỉ trên nhiều Nghĩa trang ở khắp các vùng đất nước…

N.K.P  
(SHSDB33/06-2019)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • BỬU Ý

    Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí) từng sống mấy năm ở Huế khi còn rất trẻ: từ 1928 đến 1930. Đó là hai năm học cuối cùng cấp tiểu học ở nội trú tại trường Pellerin (còn gọi là trường Bình Linh, thành lập năm 1904, do các sư huynh dòng La San điều hành), trường ở rất gần nhà ga tàu lửa Huế. Thời gian này, cậu học trò 17, 18 tuổi chăm lo học hành, ở trong trường, sinh hoạt trong tầm kiểm soát nghiêm ngặt của các sư huynh.

  • LÊ QUANG KẾT
                   

    Giai điệu và lời hát đưa tôi về ngày tháng cũ - dấu chân một thuở “phượng hồng”: “Đường về Thành nội chiều sương mây bay/ Em đến quê anh đã bao ngày/ Đường về Thành nội chiều sương nắng mới ơ ơ ơ/ Hoa nở hương nồng bay khắp trời/ Em đi vô Thành nội nghe rộn lòng yêu thương/ Anh qua bao cánh rừng núi đồi về sông Hương/ Về quê mình lòng mừng vui không nói nên lời…” (Nguyễn Phước Quỳnh Đệ).

  • VŨ THU TRANG

    Đến nay, có thể nói trong các thi sĩ tiền chiến, tác giả “Lỡ bước sang ngang” là nhà thơ sải bước chân rong ruổi khắp chân trời góc bể nhất, mang tâm trạng u hoài đa cảm của kẻ lưu lạc.

  • TRẦN PHƯƠNG TRÀ

    Đầu năm 1942, cuốn “Thi nhân Việt Nam 1932-1941” của Hoài Thanh - Hoài Chân ra đời đánh dấu một sự kiện đặc biệt của phong trào Thơ mới. Đến nay, cuốn sách xuất bản đúng 70 năm. Cũng trong thời gian này, ngày 4.2-2012, tại Hà Nội, Xuân Tâm nhà thơ cuối cùng trong “Thi nhân Việt Nam” đã từ giã cõi đời ở tuổi 97.

  • HUYỀN TÔN NỮ HUỆ - TÂM
                                      Đoản văn

    Về Huế, tôi và cô bạn ngày xưa sau ba tám năm gặp lại, rủ nhau ăn những món đặc sản Huế. Lần này, y như những bợm nhậu, hai đứa quyết không no nê thì không về!

  • LƯƠNG AN - NGUYỄN TRỌNG HUẤN - LÊ ĐÌNH THỤY - HUỲNH HỮU TUỆ

  • BÙI KIM CHI

    Nghe tin Đồng Khánh tổ chức kỷ niệm 95 năm ngày thành lập trường, tôi bồi hồi xúc động đến rơi nước mắt... Con đường Lê Lợi - con đường áo lụa, con đường tình của tuổi học trò đang vờn quanh tôi.

  • KIM THOA

    Sao anh không về chơi Thôn Vỹ
    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên        
          
                       (Hàn Mạc Tử)

  • NGUYỄN VĂN UÔNG

    Hôm nay có một người du khách
    Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên         
     

    (Xóm Ngự Viên - Nguyễn Bính)

  • HOÀNG THỊ NHƯ HUY

    Tôi biết Vân Cù từ tấm bé qua bóng hình người đàn bà gầy đen, gánh đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, rảo khắp các xóm nhỏ ở Thành Nội, với giọng rao kéo dài: “Bún…bún…ún!” mà mẹ đã bao lần gọi mua những con bún trắng dẻo mềm.

  • LÊ QUANG KẾT                
                      Tùy bút

    Hình như văn chương viết về quê hương bao giờ cũng nặng lòng và giàu cảm xúc - dù rằng người viết chưa hẳn là tác giả ưu tú.

  • TỪ SƠN… Huế đã nuôi trọn thời ấu thơ và một phần tuổi niên thiếu của tôi. Từ nơi đây , cách mạng đã đưa tôi đi khắp mọi miền của đất nước. Hà Nội, chiến khu Việt Bắc, dọc Trường Sơn rồi chiến trường Nam Bộ. Năm tháng qua đi.. Huế bao giờ cũng là bình minh, là kỷ niệm trong sáng của đời tôi.

  • LÊ QUANG KẾT

    Quê tôi có con sông nhỏ hiền hòa nằm phía bắc thành phố - sông Bồ. Người sông Bồ lâu nay tự nhủ lòng điều giản dị: Bồ giang chỉ là phụ lưu của Hương giang - dòng sông lớn của tao nhân mặc khách và thi ca nhạc họa; hình như thế làm sông Bồ dường như càng bé và dung dị hơn bên cạnh dòng Hương huyền thoại ngạt ngào trong tâm tưởng của bao người.

  • HUY PHƯƠNG

    Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
    Mà mưa trắng đất, trắng trời Thừa Thiên         
                          
                                              (Tố Hữu)

  • PHAN THUẬN AN

    Huế là thành phố của những dòng sông. Trong phạm vi của thành phố thơ mộng này, đi đến bất cứ đâu, đứng ở bất kỳ chỗ nào, người ta cũng thấy sông, thấy nước. Nước là huyết mạch của cuộc sống con người. Sông là cội nguồn của sự phát triển văn hoá. Với sông với nước của mình, Huế đã phát triển theo nguyên tắc địa lý thông thường như bao thành phố xưa nay trên thế giới.

  • MAI KIM NGỌC

    Tôi về thăm Huế sau hơn ba thập niên xa cách.Thật vậy, tôi xa Huế không những từ 75, mà từ còn trước nữa. Tốt nghiệp trung học, tôi vào Sài Gòn học tiếp đại học và không trở về, cho đến năm nay.

  • HOÀNG HUẾ

    …Trong lòng chúng tôi, Huế muôn đời vẫn vĩnh viễn đẹp, vĩnh viễn thơ. Hơn nữa, Huế còn là mảnh đất của tổ tiên, mảnh đất của trái tim chúng tôi…

  • QUẾ HƯƠNG

    Năm tháng trước, về thăm Huế sau cơn đại hồng thủy, Huế ngập trong bùn và mùi xú uế. Lũ đã rút. Còn lại... dòng-sông-nước-mắt! Người ta tổng kết những thiệt hại hữu hình ước tính phải mươi năm sau bộ mặt kinh tế Thừa Thiên - Huế mới trở lại như ngày trước lũ. Còn nỗi đau vô hình... mãi mãi trĩu nặng trái tim Huế đa cảm.

  • THU TRANG

    Độ hai ba năm thôi, tôi không ghé về Huế, đầu năm 1999 này mới có dịp trở lại, thật tôi đã có cảm tưởng là có khá nhiều đổi mới.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ

    Có lẽ bởi một nỗi nhớ về Huế, nhớ về cội nguồn - nơi mình đã được sinh ra và được nuôi dưỡng trong những tháng năm dài khốn khó của đất nước, lại được nuôi dưỡng trong điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt. Khi đã mưa thì mưa cho đến thúi trời thúi đất: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi/ Mà mưa xối xả trắng trời Trị Thiên…” (Tố Hữu). Và khi đã nắng thì nắng cho nẻ đầu, nẻ óc, nắng cho đến khi gió Lào nổi lên thổi cháy khô trời thì mới thôi.