Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên kiểm tra tuyến đường Hồ Chí Minh tại khu vực Tuy Đức (Đắc Nông). Cùng đi có Đại tá Trần Văn Phúc - Phó Tư lệnh Binh đoàn 12 (bên phải) ngày 9/5/1998 - Ảnh: baovanhoa
Với riêng tôi, tuy ít khi gần gũi, nhưng lại có chút “duyên nợ” với vị “Tướng Trường Sơn”. Nói vậy, vì cách đây 7 năm, khi anh bạn kỹ thuật từng chung tay xây dựng đường 12A lên đèo Mụ Giạ năm xưa là Trần Văn Phúc đưa tặng tôi cuốn hồi ký “Trọn một con đường” của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vừa xuất bản, Phúc bảo: “Hay tôi và ông đến thăm ông Đồng Sĩ Nguyên đi!...” Phúc quê Thái Bình, hồi còn là bạn kỹ thuật, thuộc lớp đàn em, năm 1965, trong khi tôi ở lại bám trụ đường 12A thì Phúc ra Bắc, tưởng là tránh được tuyến lửa, nhưng rồi anh chuyển sang công binh, đi sâu vào Trường Sơn phía nam, lên chức to; tuy vậy, ngày gặp lại vẫn lái xe hon-đa rủ tôi đi thăm những chiến binh xưa, như đại tá- nhà văn Nguyễn Việt Phương từng là Chính ủy Binh trạm 12, tác giả của cả chục cuốn sách về đường Trường Sơn… Thật tiếc, hôm Phúc rủ tôi đến thăm ông Đồng Sĩ Nguyên, vì đã lỡ mua vé về Huế, tôi hẹn Phúc lần sau. Không ngờ, thế là chẳng có“lần sau” nào nữa!
Phúc có thể rủ tôi cùng đến thăm Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên vì anh là đại tá, từng là Phó tư lệnh Binh đoàn 12, đã nhiều lần làm việc với Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên. Mặt khác, anh biết tôi mặc dù chung “một con đường” với Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên nhưng do hoạt động thuộc các đơn vị dân sự, nên ít có dịp gặp gỡ ông “Tướng Trường Sơn” nổi tiếng. Vậy mà thật tiếc…
Với tướng Đồng Sĩ Nguyên, tôi không chỉ mang món nợ bỏ lỡ lần đến thăm ông mà vì chưa bao giờ nghĩ tới việc tặng ông các tác phẩm viết về đường Trường Sơn của mình. Bởi ngại mang tiếng “thấy người sang bắt quàng làm họ” và cũng do nếp nghĩ có lẽ của không ít người: lãnh đạo cấp to như ông, hơi đâu đọc sách… Thì ra ông quan tâm đến cả từng bài báo tôi viết, coi trọng ý kiến của cả những người không có “mấy gờ-ram” trọng lượng trên chính trường và văn giới như tôi! Bây giờ hiểu ra thì đã muộn…
Nguyên do là khi tập hồi ký đầu tiên của ông (“Đường Xuyên Trường Sơn” - Nxb. Quân đội nhân dân in 5/1999) xuất bản trong dịp kỷ niệm 40 năm mở đường Trường Sơn, tôi là một trong số người viết bài giới thiệu đầu tiên. Trong bài đó có đoạn:
“…Mặc dầu trong mấy lời “Cùng bạn đọc” đầu sách, vị tư lệnh đã khiêm tốn viết: “...mọi sự kiện lớn - nhỏ trên tuyến chi viện chiến lược diễn ra với tốc độ dồn dập, đan xen, liên quan đến nhiều đơn vị, nhiều người. Nhưng sự kiện, nhân vật mà tôi biết đến, nhớ được lại quá nhỏ nhoi so với những việc không biết, không nhớ...”, nhưng với cương vị chỉ huy suốt cả thời kỳ dài quan trọng nhất (1966 - 1975) trên tuyến Trường Sơn, lại là vị chỉ huy từng nổi tiếng xông xáo, bám sát hiện trường, trọng điểm, nên tác giả không chỉ tái hiện được đầy đủ những ý đồ chiến lược, những chiến dịch lớn, những hoạt động ở tầm vĩ mô của một mặt trận đặc biệt kéo dài hàng chục năm trời, xuyên qua địa bàn 20 tỉnh đông và tây Trường Sơn, quân số lúc cao điểm lên tới gần 120.000 bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân giao thông, văn nghệ sĩ; mà còn diễn tả được bầu không khí hào hùng và bi tráng trên mỗi cung đường với nhiều chi tiết sống động, nên cuốn sách có sức hấp dẫn và truyền cảm mạnh mẽ…
…Những trang viết về cuộc đời riêng vị tư lệnh tuy ít ỏi nhưng thật cảm động. Người đọc khó quên cảnh những đứa con nơi sơ tán vui mừng được gặp bố, lần ông ghé thăm mẹ già ở quê, đám cưới tổ chức gấp cho cậu con trai là chiến sĩ lái máy bay chiến đấu trước ngày ông vào chiến dịch mới...”.
Công trạng cũng như chuyện về Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên thì sách báo đã nói rất nhiều, tôi chỉ xin kể thêm là mặc dù về chức vị, tôi và Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên xa cách… - diễn đạt theo “ngôn ngữ Trường Sơn” là một trời một vực (lúc tôi còn là một kỹ thuật viên không có chức tước gì, suốt ngày đêm xuôi ngược trên chặng đường đầy những hố bom, luôn lo lắng bị khiển trách để tắc đường thì Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên đã ở đỉnh cao quyền lực trên đường Trường Sơn) nhưng khi tôi mạnh dạn “góp ý” cuốn sách nên bổ sung đôi điều, ông không tự ái đã đành mà còn lịch sự ngỏ lời cảm ơn.
Một chuyện thật nhỏ trong sự nghiệp lớn của một vị tướng, vậy mà ông không quên. Thú thật là bản thân tôi đã quên. Không ngờ, gần một chục năm sau, tôi bỗng nhận được điện thoại của ông. Đó là khi báo “Văn nghệ” ngày 1/11/2008 đăng bài “Làm gì để chặn tư bản man rợ?” của tôi trong mục “Tiếng nói nhà văn” rồi được Đài Tiếng nói Việt Nam sử dụng như một bài xã luận của cơ quan truyền thông quan trọng này, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên gọi điện cho tôi tỏ ý hoan nghênh và nói đại ý: “Nếu có thế lực nào gây sức ép thì chúng tôi sẽ lên tiếng ủng hộ cậu…”. Thì ra, mặc dù xa cách cả về chức vị và nơi cư trú, ông vẫn lặng lẽ dõi theo công việc của một cây bút mọc lên từ các trọng điểm Trường Sơn năm xưa…
Cũng là một chuyện nhỏ, nhưng theo tôi đã thể hiện những vẻ đẹp phẩm cách, đức độ rất cần thiết trong cuộc cuộc xây dựng xã hội mới hôm nay. Đó là sự khiêm tốn, chung thủy và ý chí chiến đấu không phai mờ, ngay cả khi đã già, trước những điều hư hỏng, mờ ám trong cuộc sống hôm nay. Nhân đây cũng xin nhắc, ông Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên là một trong số ít người đầu tiên tố cáo việc cho nước ngoài thuê khai thác những khu rừng hiểm yếu, có thể nguy hại đến an ninh quốc gia…
![]() |
Cuốn hồi ký “Trọn một con đường” của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên |
Trần Văn Phúc đưa tặng tôi cuốn hồi ký “Trọn một con đường” của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên dày 700 trang khổ lớn là vì thế. Cuốn sách do đại tá Nguyễn Duy Tường thể hiện, thực ra là gồm 2 cuốn trước, được bổ sung, gia công thêm, được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in năm 2012, nhân mừng Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên lên tuổi thượng- thượng-thọ 90. Trong lần xuất bản này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết những lời rất tốt đẹp về Đồng Sĩ Nguyên:
“Đồng chí Đồng Sĩ Nguyên là một vị tướng tài ba, một nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước có đức độ và tài năng, một người học trò ưu tú của Bác Hồ… Đồng chí là một cán bộ đảng viên mẫu mực có phẩm chất trong sáng, sống trung thực, đoàn kết khiêm tốn, giản dị… Đối với tôi, tướng Đồng Sĩ Nguyên là một trong những người đồng chí, người bạn chiến đấu thân thiết, gần gũi suốt cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc mà tôi rất tin và quý mến.”
Những “dòng chữ vàng” này làm chúng ta càng thêm nhớ tiếc vị “Tướng Trường Sơn” vừa ra đi để được “gặp lại” hàng vạn đồng đội đã hy sinh trong cuộc chiến trường kỳ bảo vệ tuyến đường đã trở thành huyền thoại đang yên nghỉ trên nhiều Nghĩa trang ở khắp các vùng đất nước…
N.K.P
(SHSDB33/06-2019)
HỒ DZẾNH
Hồi ký
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
NGUYỄN DU
LÝ HOÀI THU
Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.
PHẠM THỊ CÚC
(Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)
Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.
CAO THỊ QUẾ HƯƠNG
Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.
THÁI KIM LAN
Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.
Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?
Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.
Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.
DƯƠNG PHƯỚC THU
LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.
NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN
(Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)
BÙI KIM CHI
Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…
LÊ MINH
Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)
… Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.
NGUYỄN KHOA BỘI LAN
Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.
(SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.
NGUYỄN CƯƠNG
Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.
HOÀNG HƯƠNG TRANG
Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.
PHẠM HỮU THU
Với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đầu năm 1942, sau khi vượt ngục trở về, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có quãng thời gian gắn bó với vùng đầm Cầu Hai, nơi có cồn Rau Câu, được Tỉnh ủy lâm thời chọn làm địa điểm huấn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Để đảm bảo bí mật và an toàn, Tỉnh ủy đã chọn một số cơ sở là cư dân thủy diện đảm trách việc bảo vệ và đưa đón cán bộ.
Số cơ sở này chủ yếu là dân vạn đò của làng chài Nghi Xuân.
TRẦN NGUYÊN
Thăm Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, như được trở về mái nhà thân thương nơi làng quê yêu dấu. Những ngôi nhà bình dị nối nhau với liếp cửa mở rộng đón ánh nắng rọi vào góc sâu nhất.
PHẠM HỮU THU
Nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12
“Có những sự thật quá lớn lao của một thời, đến nỗi hậu thế nhìn qua lớp sương mù của thời gian, không thể nào tin nổi” (Nhà văn Phùng Quán).