Chuông vọng kinh thành

10:30 12/01/2009
LÊ HUỲNH LÂMCó thể gọi xứ Huế là thành phố của những tiếng chuông. Sự khởi đầu của một ngày, một ngày mai hun hút trong tương lai cũng như một ngày tận trong nghìn trùng quá khứ. Một ngày mà âm thanh từ đại hồng chung phát ra; vang, ngân, vọng và im bặt. Người ta gọi âm thanh đó là tiếng chuông. Vậy thì, im bặt cũng là một phần của tiếng chuông.

Sự khởi đầu của một ngày ở thành phố này cũng bắt đầu bằng: vang, ngân, vọng và im bặt. Và đó cũng là sự khởi đầu của mỗi kiếp người! Khởi đầu bằng tiếng khóc chào đời.
Mỗi sớm, thật sớm, thời khắc mà chỉ có những người lao động nghèo mới cảm nhận được. Họ thức dậy như một bản năng sống, thức dậy cùng tiếng chuông để chuẩn bị ra đồng, chuẩn bị những nồi bún, nồi cháo,… để gánh cuộc sinh tồn trên đôi vai tím gầy, và mỗi ngày như vậy tiếng chuông cũng dậy lên trong tâm thức họ. Bốn mùa, nắng cũng như mưa, lạnh buồn, héo hắt. Những người lao động nghèo đều thức dậy như một đức hạnh tu tập. Và trong sự tịnh yên của đất trời họ tiếp nhận tiếng chuông nguyên sơ qua nhĩ căn. Cứ thế, mỗi lần tấm màng mỏng trong lỗ tai rung lên theo chu trình tiếng chuông vang, ngân, vọng và im bặt như một quy luật của tạo hóa để khơi dậy tâm từ. Và tâm lực từ bi của người dộng chuông len theo làn sóng âm thanh thức tỉnh người nghe, mà đa số là dân lao động nghèo. Và có một điều kỳ diệu, là khi tiếng chuông từ các ngôi chùa cùng phát ra thì chúng hòa quyện vào nhau và tiếp tục lan tỏa.

Thành phố nhỏ được bao bọc loanh quanh bởi những con đường, cũng như chiếc lá và những đường gân hao gầy. Thành phố hình chiếc lá cũng úa vàng man mác theo giấc mơ mùa thu, mịt mờ, quạnh vắng như mùa đông, bừng dậy như mùa xuân và cháy đỏ như mùa hạ. Một thành phố nhạy cảm thì con người cũng rất nhạy cảm. Những con đường gân lá bao quanh phố với những hàng cây xanh, những con sông nho nhỏ đã gợi lên trong tâm tưởng tôi về một ngôi làng trong cổ tích yên bình. Và lạ thay, trên mảnh đất bé nhỏ nhưng mật độ các ngôi chùa, nhà thờ, tịnh thất, thánh thất lại rất dày đặc ở xứ sở này, đó là chưa kể đến các khuôn hội, những đình làng xưa đang còn bao quanh vùng đất này. Vì thế mà tiếng chuông rất gần gũi với những người sống ở miền đất mang nhiều dấu ấn tâm linh. Âm hưởng tiếng chuông mỗi nơi mỗi khác, nơi thanh thoát, nơi u trầm, có những tiếng chuông lạnh lùng, có tiếng chuông đầm ấm yên bình, có khi xôn xao, bồn chồn, có lúc căm giận, ai oán,… tiếng chuông hay sự biểu hiện tâm trạng của một vùng đất, tâm thức của cộng đồng người ở một xứ sở. Ôi, tiếng chuông Thiên Mụ, tiếng chuông Diệu Đế, tiếng chuông Phủ Cam, dòng Chúa Cứu Thế, tiếng chuông Cồn Hến, tiếng chuông Tây Linh,… tiếng chuông trong mỗi gia đình, trong mỗi cõi lòng miên man đang trông ngóng về cố hương.

Còn nhớ một thời xa xưa, gia đình tôi thường nghe tiếng chuông từ Cồn Hến để mọi người biết giờ về nhà ăn cơm trưa và chiều tối, cứ mỗi ngày ba buổi tiếng chuông lại vang lên khi thúc giục mời gọi, lúc thì khô khốc, lạnh lẽo… Và thuở đó trong ngôi nhà nhỏ ba gian, ngay chính gian giữa có cái tủ được sử dụng làm bàn thờ tôn nghiêm, bên dưới bàn thờ là cái bàn nhỏ, trên đó có những cuốn sách, một bên là cái chuông đồng khiêm tốn, bên kia cái mõ nho nhỏ và hai cái đùi gõ. Bộ chuông mõ mà những ôn, mệ thường khai chuông và trì tụng kinh sách, âm hưởng lời kinh đã đem lại sự bình tâm cho mỗi thành viên trong gia đình.

Sau những âm thanh huyên náo của một ngày ở xứ Huế, sắc màu không gian chìm lắng, phía trời xa xăm là một ánh vàng mong manh, đang tàn dần, tan dần và rải nhẹ lên dòng Hương, lên lá cỏ, chấp chới trên những con thuyền đang lênh đênh trên sông. Gam màu hư huyễn đó khiến tôi liên tưởng đến đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời trong bài “Như một lời chia tay” của Trịnh Công Sơn, mà sinh thời văn hữu Nguyễn Xuân Hoàng thường hát cho anh em nghe vào những chiều hoang mộng bên dòng sông vắng. Vào thời khắc này tiếng đại hồng chung lại gióng lên qua bốn giai đoạn: vang, ngân, vọng và im bặt. Đất trời lúc này đã chạng vạng, mỗi sinh linh đều tiếp nhận tiếng chuông tùy theo căn nghiệp của mình. Trong loài người, có những người cảm nghiệm lẽ vô thường qua tiếng chuông để vơi dịu đi nỗi khổ đau, có người lặng lẽ rút mình về chốn yên tịnh, có người tỉnh thức trước mịt mờ của tham vọng và cũng rất nhiều người vẫn còn mê đắm trong tham, sân, si mỗi khi chiều xuống; nơi mà chỉ có những ảo tưởng nặng nề thường lãng vãng.

Một khi trong không gian bất chợt vang lên một tiếng chuông, một âm thanh gọn lỏn phát ra từ tháp chuông của nhà thờ vào một thời khắc khác thường, âm thanh đó như lời loan báo đến mọi người rằng, có một linh hồn về với chúa, chúng ta hãy chúc bình an cho cuộc biệt ngộ. Ôi, tiếng Chuông nguyện hồn ai mà Hemingway đã gửi cảm thức hư vô đến với mọi người. Một huyền điệp mà Giê su phải chịu khổ nạn để cứu chuộc tín đồ của mình, còn Thích ca thì mỉm cười, một nụ cười bình thản, trống rỗng như một vòng tròn trắng trong của Lão Tử mất dạng ở phía tây xa xăm, còn Nietzsche đã phải im lặng trong cuồng loạn và Bùi Giáng đã đặt lại sứ mệnh của chữ Việt.
Dù sao trong cuộc sống chúng ta vẫn còn âm vang tiếng chuông, sự tồn tại của tiếng chuông là một sự thật ngân vọng trong tâm thức người dân Cố đô. Và bây giờ là thời khắc im bặt của tiếng chuông.
Hãy lắng nghe!
  L.H.L

(nguồn: TCSH số 238 - 12 - 2008)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • BẮC ĐẢOBắc Đảo sinh 1949, nhà văn Mỹ gốc Trung Quốc. Ông đã đi du lịch và giảng dạy khắp thế giới. Ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học và là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Văn chương Mỹ. Đoản văn “Những biến tấu New York” của nhà văn dưới đây được viết một cách dí dỏm, với những nhận xét thú vị, giọng điệu thì hài hước châm biếm và những hình ảnh được sáng tạo một cách độc đáo. Nhưng trên hết là một cái nhìn lạ hoá với nhiều phát hiện của tác giả khi viết về một đô thị và tính cách con người ở đó. Nó có thể là một gợi ý về một lối viết đoản văn kiểu tuỳ bút, bút ký làm tăng thêm hương vị lạ, mới, cho chúng ta.

  • PHONG LÊTrong dằng dặc của giòng đời, có những thời điểm (hoặc thời đoạn) thật ấn tượng. Với tôi, cuộc chuyển giao từ 2006 (năm có rất nhiều sự kiện lớn của đất nước) sang 2007, và rộng ra, cuộc chuyển giao thế kỷ XX sang thế kỷ XXI là một trong những thời điểm như thế. Thời điểm gợi nghĩ rất nhiều về sự tiếp nối, sự xen cài, và cả sự dồn tụ của hiện tại với quá khứ, và với tương lai.

  • XUÂN TUYNHĐầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, tên tuổi của Lê Thị K. xuất hiện trên báo chí được nhiều người biết tới. K. nhanh chóng trở thành một nhà thơ nổi tiếng. Với các bài thơ: “Cỏ”, “Gần lắm Trường Sa” v.v... Nhiều nhà phê bình, nhà thơ không tiếc lời ngợi khen K.

  • NGUYỄN QUANG HÀTrần Văn Thà cùng các bạn chiến binh thân thiết tìm được địa chỉ 160 chiến sĩ năm xưa của đảo Cồn Cỏ, các anh mừng lắm, ríu rít bàn cách gọi nhau ra thăm đảo Tiền Tiêu, nơi các anh đã chiến đấu ngoan cường, in lại dấu son đậm trong đời mình, các anh liền làm đơn gởi ra Tỉnh đội Quảng Trị giúp đỡ, tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ này.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN- Đừng ra xa nữa, coi chừng... hỏng cẳng chết trôi con ơi!Nhớ ngày xưa, mẹ tôi vẫn thường nhắc tôi như thế mỗi buổi chiều ra tắm sông Bồ. Hai phần đời người đi qua. Mẹ tôi không còn nữa. Bến Dấu Hàn trên khúc sông Bồ viền quanh phía Đông làng Liễu Hạ năm xưa nay đã “cũ”.

  • NGUYỄN NGUYÊN ANChúng tôi đến Đông trong những ngày cuối hạ. Thị trấn Khe Tre rực rỡ cờ hoa long trọng kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh liệt sĩ. Sau bão số 6 năm 2006, tôi lên Nam Đông, rừng cây hai bên đường xơ xác lá, hơn 700 ha cao su gãy đổ tơi bời và hơn 3.000 ngôi nhà bị sập hoặc tốc mái, đường vào huyện cơ man cây đổ rạp, lá rụng dày mấy lớp bốc thum thủm, sức tàn phá của bão Xangsane quả ghê gớm!

  • Trang Web văn học cá nhân là một nhu cầu tương thuộc giữa tác giả và độc giả của thời đại thông tin điện tử trên Internet. Hoặc nói cách khác, nó là nhu cầu kết nối của một thế giới ảo đang được chiếu tri qua sự trình hiện của thế giới đồ vật.So với đội ngũ cầm bút thì số lượng các nhà văn có trang Web riêng, nhất là các nhà văn nữ còn khá khiêm tốn nhưng dù sao, nó cũng đã mở thêm được một “không gian mạng” để viết và đọc cho mỗi người và cho mọi người.

  • NGUYỄN NGỌC TƯSinh năm 1976. Quê quán: huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.Hiện là biên tập viên Tạp chí Bán đảo Cà MauNguyễn Ngọc Tư từng đạt nhiều giải thưởng trung ương và địa phương. Trong đó, truyện vừa Cánh đồng bất tận (giải thưởng Hội Nhà văn Việt ) đã được chuyển ngữ qua tiếng Hàn Quốc. http://ngngtu.blogspot.com

  • VÕ NGỌC LANThuở nhỏ, tôi sống ở Huế. Mỗi lần nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, tôi vẫn gọi đó là ký ức xanh.

  • TÔN NỮ NGỌC HOATôi còn nhớ như in cảnh cả nhà ngồi há miệng nghe chính cậu em tôi là thanh niên xung phong trở về từ Đắc Lắc sau đợt đi khai hoang chuẩn bị đưa dân lập vùng kinh tế mới kể chuyện.

  • TRẦN HẠ THÁPThời gian tuôn chảy vô tình. Con người mê mải cuốn theo dòng cho đến khi nhìn lại thì tuổi đời chồng chất… Ngày thơ dại đã mịt mờ trong kỷ niệm. Mặt trăng rằm tỏa rạng còn đó nhưng dường như không còn là màu trăng xưa cũ. Thứ ánh sáng hồn nhiên một thuở mang sắc màu kỳ diệu không thể nào vẽ được. Dường như chưa trẻ thơ nào ngước nhìn trăng mà sợ hãi.

  • TRẦN HOÀNGCũng như nhiều bạn bè cùng thế hệ, vào những năm cuối thập niên năm mươi của thế kỷ trước, chúng tôi đã được tiếp xúc với Văn học Nga - Xô Viết thông qua nhiều tác phẩm được dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt. Lứa tuổi mười bốn, mười lăm học ở trường làng, chúng tôi luôn được các thầy, cô giáo dạy cấp I, cấp II động viên, chỉ bảo cho cách chọn sách, đọc sách…

  • MAI TRÍHễ có dịp lên A Lưới là tôi lại đến thăm gia đình mẹ Kăn Gương. Song, lần này tôi không còn được gặp mẹ nữa, mẹ đã đi xa về cõi vĩnh hằng với 6 người con liệt sỹ của mẹ vào ngày 08/01/2006.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCNếu cắt một lát cắt tương đối như cơ học trong hành trình trùng tu di tích, cắt thời gian dương lịch của năm 2007, sẽ thấy đây là năm mà người ta nhận ra di sản Huế đang mỉm cười từ trong rêu cỏ dẫu đây đó vẫn còn có nhiều công trình đang thét gào, kêu cứu vì đang xuống cấp theo thời gian tính tuổi đã hàng thế kỷ.

  • NGUYỄN QUANG HÀBấy giờ là năm 1976, đất nước vừa thống nhất. Bắc trở về một mối. Người miền Bắc, miền xôn xao chạy thăm nhau, nhận anh em, nhận họ hàng. Không khí một nhà, vui không kể xiết.

  • HÀ VĂN THỊNH Trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quãng thời gian ở Huế không phải là ngắn. Lần thứ nhất, từ mùa hè 1895 đến tháng 5 - 1901 và lần thứ hai, từ tháng 5 - 1906 đến tháng 5 - 1909. Tổng cộng, Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (NTT - tên được đặt vào năm 1901) đã sống ở Huế 9 năm, tức là hơn 1/9 thời gian sống ở trên đời. Điều đặc biệt là, bước ngoặt quyết định của NTT đã diễn ra ở Huế; trong đó, việc tham gia vào phong trào chống thuế có ý nghĩa quan trọng nhất.

  • NGÔ ĐỨC TIẾNVào những năm 1950 đến năm 1954, tại khu rừng Khuổi Nậm, Tân Trào. Ở chiến khu Việt Bắc, người ta thấy một cán bộ khoảng trên dưới 40 tuổi, người tầm thước, nói giọng Nghệ trọ trẹ, thường có mặt ở các cuộc họp quan trọng của Chính phủ kháng chiến để làm thư ký tốc ký cho Trung ương và Hồ Chủ tịch.

  • LÊ HUỲNH LÂMNhững ngày mưa gió lê thê của mùa đông ngút ngàn vừa đi qua, những trận lụt bất thường gây nên bao tan tác, để lại những vệt màu buồn thảm trên gương mặt người dân nghèo xứ Huế, các con đường đầy bùn non và mịt mùng từng đám bụi phù sa, những vết thương còn âm ỉ trong hồn người…

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCCâu chuyện tôi sắp kể với các bạn dưới đây không phải là một câu chuyện thuộc huyền sử về lửa cỡ như ngọn lửa Prométe hay biểu tượng lửa trong đạo Hinđu, hay lửa trong Kinh Dịch tương ứng với phương nam, màu đỏ, mùa hè...

  • PHAN VĂN LAITrong cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, Huế đã nổi lên là một chiến trường xuất sắc, được Đảng, Chính phủ tặng danh hiệu: “Tiến công nổi dậy, anh dũng kiên cường”, được Bác Hồ khen ngợi: “Bác rất vui mừng vừa qua Huế đã đánh giỏi, công tác giỏi, thu được nhiều thắng lợi to lớn” và được cả nước tự hào về Huế.