Chú bé mục đồng

16:33 17/03/2009
KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.

Người tôi ướt sũng và tôi đốt một đống lửa. Từng làn khói mỏng mảnh bốc lên tận những ngọn cây thông và diệp lục tùng cao vút. Loài diệp lục tùng đang thời kì rụng lá. Những chiếc lá hình kim thanh, mảnh như những sợi tóc ngắn màu vàng óng ánh lác đác không ngừng rơi xuống kể cả những khi gió lặng. Trên một cây diệp lục tùng gần đống lửa có con chim nào đó đang cắn lá nghe tanh tách, dường như nó là thợ cắt tóc ở khu rừng này. Với chiếc mỏ nhọn, sắc, con chim cần mẫn tỉa những chiếc lá hình kim và rắc đầy lên mặt sông, lên đống lửa và lên cả đầu tôi.
Vừa ngồi sưởi tôi vừa ngắm dòng sông chảy. Những đụn lá vàng nổi bồng bềnh trên sông nom như những hòn đảo nhỏ di động. Dòng nước xô đẩy, gom chúng lại ở những nơi có gốc cây cong queo chìa ra.
Những đụn lá đầy lên, xoay xoay, đổi hướng và thoát ra khỏi những mấu bám của gốc cây, tiếp tục cuộc hành trình về xuôi. Từ phía xa những đám lá khác lại trôi đến và cứ như thế, liên tục. Khi đi vào bóng râm của những lùm cây ven bờ phủ xuống, đám lá vàng chuyển sang màu hồng thẫm, tựa như vàng khi tắt ánh mặt trời thì vẽ sáng đẹp rực rở không còn nữa và bị đổi màu.

Nơi đây, dòng sông còn lưu lại dấu tích của những trận chiến đấu chống quân Đức - đó là những bãi đổ quân và những chiếc bè kết bằng gỗ cây trăn đang nằm lăn lóc trên các bãi cạn.   
Mấy khóm cây cạnh đống lửa bắt đầu nổ lép bép. Bỗng từ trong bụi cây nhô ra một cái mõm bò ướt nhẫy. Con bò ngửi thấy mùi củi cháy và dường như cuộc nghỉ ngơi vụng trộm của nó giữa lùm cây đang bị đánh động. Nó ngúc ngoắc cái đầu trắng pha những đốm đen về phía tôi như ra vẻ chào hỏi. Cùng lúc đó, ngay bên cạnh, bỗng có tiếng cành cây gãy rắc, nghe khô gọn và đanh như một phát súng. Tiếp theo có tiếng roi vun vút và tiếng người nào đó gọi vang lên:
- Paraxca, mày trốn đi đâu rồi hở con trời đánh thánh vật?
Con bò nghe tiếng chủ réo, luống cuống đạp gãy bụi cây, nhảy phóc ra và chỉ sau một loáng lại mất hút.

Cậu bé chăn bò từ trong khóm cây bước ra. Đó là một cậu bé chăn bò bình thường mà ta có thể gặp ở bất cứ làng quê nào. Cậu bé vóc người nhỏ nhắn, tóc trắng, đội chiếc mũ lưởi trai rộng quá cỡ, mặc chiếc áo bông cũ kĩ đã sờn rách, một tay kéo lê cái roi lùa bò trên cỏ ướt. Cậu bé đang thò lò mũi và liền đưa ống tay áo lòng thòng gần sát đất lên quẹt mũi. Khi đến gần tôi, cậu bé cất tiếng, giọng khàn khàn:
- Xin chào bác ! Hôm nay sương đậm như xối nước. Vất vã quá.
- Cháu lại đây sưởi cho ấm ! - Tôi giục cậu bé.
- Bác đi du lịch, có phải không ạ ?
- Cứ cho là thế đi. - Tôi trả lời.
- Cháu tên là Alêchxây Kuđưskin - thợ chăn bò, - cậu bé nói. Cháu làm việc thay bố, vì bố cháu đang chiến đấu ngoài mặt trận. Đúng ra là cháu được đi chăn ngựa, nhưng bác chủ tịch nông trang không cho. Bác ấy bảo cháu còn nhỏ nên đã chỉ định thằng Lenca làm việc này. Thằng Lenca là cái quái gì, thế nào rồi cháu cũng bụp cho nó một trận, cháu nhất định thắng. Người đàn ông có sức mạnh hay không là thể hiện ở đôi vai. Mà vai của nó thì hẹp như vai con dê đực ấy.

Cậu bé im lặng sau đó bất ngờ hỏi tôi :
- Bác đã nhìn thấy sông Mitxixipi ở bên Mỹ bao giờ chưa ?
- Bác chưa thấy, nhưng mà sao ?
- Ước gì cháu được nhìn thấy con sông ấy một lần cho biết. Người ta nói rằng nó dài và rộng hơn sông Vonga. Thế bác đã có lần nào đến Xtalingrat chưa ?
- Bác đã đến rồi.
Cậu bé mỉm cười.
- Bố cháu đã bị thương trong khi chiến đấu bảo vệ Xtalingrat và được thưởng Huân chương. Trước chiến tranh bố cháu là thợ chăn nuôi gia súc ở vùng này.
- Do đâu mà cháu biết có sông Mitxixipi ? - Tôi hỏi.
- Dạ, ở trường học và bố cháu kể. Bố cháu cái gì cũng biết, thậm chí biết rõ từng ngọn cỏ. Bố cháu giải thích tại sao con sông này mang tên như thế, nó chảy qua những miền nào,nó đem lại nguồn lợi gì và gây tác hại ra sao...Bố cháu còn kể về Đất nước ta và những quốc gia khác trên thế giới. Còn nữa, ở sâu trong lòng đất có những mỏ kim cương rất lớn. Muốn khai thác được chúng phải dùng rất nhiều máy móc đào bới, phải đến cả 100 năm. Có phải thế không bác ?
- Bác cũng không được rõ lắm, - Bác chưa nghe nói có những mỏ kim cương lớn như thế bao giờ.
- Bố cháu đã nghe như vậy . Tuy bố cháu không phải là một nhà du lịch nhưng lại biết rất rõ về du lịch. Thế bác có biết chuyện những chiếc vỏ chai không ?
- Cháu muốn nói đến những chiếc vỏ chai nào ?
- Chiếc vỏ chai bưu điện ấy !
- Không, bác chưa được biết.

Thế thì bây giờ cháu sẽ giải thích cho bác rõ : Có một người đi du lịch, anh ta đang ở trên một con tàu bơi trong Đại dương. Trên tàu tất nhiên là có các thủy thủ. Họ không muốn đi nên họ làm loạn. Ở nhà họ có vợ con, ăn uống, sinh hoạt tốt. Buổi tối có thể sang nhà hàng xóm chơi saski để giết thời gian. Còn ở đây chẳng có quái gì cả ngoài nóng bức và nước biển. Và thế là họ nổi loạn. Họ đưa người du lịch xuống một chiếc thuyền nhỏ và đẩy anh ta ra giữa Đại dương mênh mông. Sóng gió Đại dương ném người du lịch này lên một hòn đảo hoang vu. Thế bác đã nhìn thấy đảo hoang bao giờ chưa ?
- Bác chưa thấy, - Tôi trả lời.
- Ở ngay đây, trong vùng cháu có khối. Những đảo này như những hòn cù lao giữa sông ấy, - cậu bé nói, ánh mắt sáng lên vẻ khoái chí và nét mặt ửng đỏ vì xúc động. Trên mỗi hòn đảo như thế có một con rái cá  sống.

Cậu bé kể tiếp: Sóng biển đẩy người du lịch lên một hòn đảo hoang. Ở đó quanh năm suốt tháng chỉ có tiếng lá cọ xào xạc. Bầy vẹt bay đi bay lại và lũ quạ lúc nào cũng kêu quang quác. Người du lịch tìm thấy trong thuyền có một cái vỏ chai. Anh ta viết một mẩu giấy kể lại việc bị ném lên đảo hoang, cho vào chai, nút kín lại và quẳng ra biển. Sẽ có một chiếc tàu nào đó thấy và nhặt được. Qua làn sóng vô tuyến người ta thông báo rằng, người du lịch đang gặp nạn và anh ta sẽ được cứu. Sau đó tòa án xét xử bọn thủy thủ.
- Vì hành vi nổi loạn ư ?
- Và cả vì hành động vô đạo đức nữa !
- Aliôsa! - Có một giọng phụ nữ tức giận vang lên từ phía xa, - Mày mất mặt đi đâu mà để con bò điên này vào xéo nát cả vườn cải bắp hả ?
- Con đang ở đây,- cậu bé kêu lên,- con sẽ đến lùa nó đi ngay.
Nói đoạn, cậu bé đứng dậy, khép lại vạt áo bông  và nói :
- Con bò này quái lắm bác ạ, chỉ thích đi ăn lẻ. Thôi, cháu xin tạm biệt bác đây.
Cậu bé băng  qua bụi cây. Tôi nghe rõ tiếng roi vun vút và tiếng làu bàu từ phía xa: “ Ai cho mày mò ra đây, hở con quỷ !”, và tiếng con bò rống lên, khuất phục.

Tôi dập tắt lửa và đi xuống dọc bờ sông. Qua mỗi bước đi con sông dường như chứa thêm những điều bí ẩn mới và cũng có thêm những vẻ đẹp ngọan mục. Có những đoạn bờ sông dốc đứng trông như những bức tường màu xám. Những lùm cây thấp có rất nhiều nấm hoàn diệp liễu. Trên những cây hoàn diệp liễu đứng độc lập có những cây húp lông rủ lòng thòng, tựa hồ như ai đó mang những tấm vải gai mới dăng ra phơi dưới ánh nắng mặt trời. Có một cây liễu rỗng ruột nằm vắt qua sông trông như một chiếc cầu, bên cạnh nó những chú cá Lơxicút thò đầu lên mặt nước hít thở. Dòng sông chảy vắt qua những cánh rừng Thu màu xanh, vàng sặc sỡ đan xen nhau tựa như sự trang điểm lễ hội long trọng của tự nhiên.
Hai bên bờ sông dòng nước cuốn theo đất cát bị xói lở mang xuống những vực sâu. Ngoài rìa của vũng nước xoáy có mấy khúc gỗ sồi không có hình dạng nhất định lăn đi lăn lại. Xa xa có một sườn đồi phủ đầy cây phong đỏ. Thấp thoáng trong rặng phong um tùm là ngôi nhà nguyện cũ kỹ với mái vòm đã rêu phong, han rỉ.

Mặt trời bắt đầu chạm những đỉnh núi phía xa. Tôi rảo bước theo con đường làng chạy dọc bờ sông. Lại một lần nữa thấy trên sông những chiếc bè kết bằng thảo mộc bỏ không, trông xa chúng tựa như những hòn đảo. Trên một chiếc bè gần nhất có một vật gì đó lấp loáng mờ mờ rất khó nhận diện. Dù đã cố gắng nhìn rất chăm chú nhưng tôi cũng không thể nào phân biệt được đó là ánh bóng loáng của một vỏ đồ hộp hay  của một mảnh thủy tinh bị vỡ. Tôi thận trọng lần theo khúc gỗ đi ra phía chiếc bè. Cúi xuống xem kỹ thì ra đó là một chiếc vỏ chai bia bình thường, quanh miệng chai có quấn mấy vòng dây bìm bìm. Tôi nhặt chiếc vỏ chai lên và chìa ra phía ánh sáng. Miệng chai nút kín bằng sáp. Bên trong có vật gì trăng trắng - đó là một bức thư được gấp thành hình tam giác. Tôi ghè vỡ miệng chai và lấy bức thư ra. Nhưng tôi đã không thể nào đọc nổi : Phần vì bức thư viết bằng bút chì đã phai màu, phần vì ánh hoàng hôn đang sẫm dần ; và tôi nghĩ cũng chẳng nên suy đoán những dòng chữ ngoằn ngoèo này làm gì. Hơn nữa tôi  đang rất vội ra ga cho kịp tàu trước lúc màn đêm buông xuống. Hơi lạnh bắt đầu phả ra từ các lùm cây rậm rạp hai bên đường. Ở những quãng rừng thưa chỉ còn vương lại chút ánh sáng lờ mờ. Trên cao những đám mây nhuộm sắc đỏ ráng chiều không còn nữa.

Tàu xuôi Matxcơva đến vào giữa đêm. Những toa tàu chật ních, đầy tiếng ồn ào và khói thuốc biểu thị sự ấm cúng như đang đối nghịch với những khu rừng hoang vắng, âm u, giá lạnh và đơn độc. Tôi gieo mình trên giường phía trên cạnh một ngọn đèn lồng và bắt đầu moi thư ra đọc. Bức thư quá cũ . Xét về thời gian thì nó nằm trong chai đã gần hai năm nay, và không hiểu tại sao lại được viết bằng một nét chữ rất to :
“ Bố yêu quý ! Con trai Alêchxây Kuđưskin viết thư  cho bố đây. Khi bố đang chiến đấu ngoài mặt trận thì mẹ và con sống ở nhà chẳng có ý nghĩa gì cả. Nhà ta ai cũng mong ngày bố được trở về. Mẹ nhận làm chân chăn nuôi gia súc, còn con phụ thêm với mẹ. Nhưng con sẽ cố gắng để trở thành người chăn ngựa. Bởi chăn bò đối với con là một công việc tẻ nhạt, chỉ có mỗi việc trông chừng chúng thôi, ngoài ra chẳng được đi đâu để mở mang thêm điều gì mới cả. Ngồi trên lưng ngựa con có thể đi đây đi đó và làm gì tùy thích. Ở đàn bò chỉ có mỗi một con đường đi quá ư quen thuộc : ra đồng cỏ Gôrelưi rồi đến cánh rừng Mỉtrina mà thôi. Ở đó chắc bố không có điều kiện để ngắm nhìn mọi thứ. Con muốn nhìn thấy tất cả và muốn biết tất cả. Con muốn đến mặt trận Xtalingrat với bố trên một chiếc bè, nhưng mẹ không cho con đi. Với lại ai cũng bảo, muốn đến mặt trận phải có giấy phép. Bằng cách nào đó bố hãy cho con đến bên bố, con vác đạn hay làm bất cứ một việc gì đó nơi chiến trận. Con nhất định sẽ cố gắng làm được. Bố ơi ! Nếu như có chút thời gian rảnh hiếm hoi giữa hai trận đánh, bố hãy kể cho con đủ mọi chuyên linh tinh bố nhé. Bức thư này con gửi cho bố trong một cái chai, như là một người đi du lịch vậy. Bởi gửi qua đường bưu điện không có gì thú vị cả. Con sông quê hương ta sẽ hòa vào con sông mẹ Vonga bao la và cái chai thư của con sẽ xuôi theo dòng sông đến mặt trận Xitalingrat. Và chắc chắn sẽ có một người lính  nhặt được, đọc địa chỉ và sẽ chuyển đến cho bố  nếu như trên đường đi cái chai không bị vỡ  vì vướng phải thủy lôi hay bị những bánh xe quạt nước của tàu thủy quệt phải. Bọn trẻ con nói rằng, mặt trận Xtalingrat trải dài hơn 48 cây số, và trên mỗi bước đi đều có chiến sự xảy ra.

Con giấu cái thư trong chai là cũng không muốn cho mẹ đọc. Nhớ bố, mẹ khóc và trái tim mẹ quặn đau. mẹ không muốn con hay bà nhìn thấy những giọt lệ nhớ mong trong lòng  mẹ. Bố hãy biết như vậy. Cả nhà nhớ bố từng ngày và mong bố bình an, lành lặn trở về. Và cũng bởi trong nhà mình còn có con- con trai Alêchxây rất yêu bố nữa.
Anh Pêtka con nhà bác Mennhit cũng đã trở thành phi công rồi bố ạ. Mọi người nói rằng, có lần bay qua làng mình, anh ấy nghiêng cánh chào, chỉ có con là không nhìn thấy thôi. Ở vực sâu nơi khúc sông làng ta, lũ cá nước ngọt nép dưới khúc gỗ sồi sao mà khỏe thế, chúng đánh nhau suốt cả ngày đêm. Bên nhà ông thợ săn Pôpap đêm hôm qua có một con  cáo già ngốc nghếch ăn trộm một cái lồng, bên trong có một con vịt nhồi-nó bị nhầm. Ông già tức lắm chửi rủa suốt hai ngày liền. Bố hãy viết thư trả lời con nhé. Hôn bố”
           
Ở Matxcơva, tôi lâm vào một tình thế khó xử - sẽ giải quyết bức thư này thế nào đây? Địa chỉ của bố Aliôsa tất nhiên là đã thay đổi. Có lẽ phải nói khác đi một tý, cốt sao không để Aliôsa buồn. Bức thư đã được gửi trở lại cho cậu bé và có viết thêm vào một đoạn như sau : Tàu chỉ huy “KRAXNÔVÔTSK” của Hải quân ta đã vớt được cái chai thư trên biển Caspiên. Sau khi nghiên cứu người ta quyết định gửi bức thư theo địa chỉ ngược lại. Bởi vì những trận chiến đấu của quân ta ở mặt trận Xtalingrat đã kết thúc thắng lợi và người nhận thư đã rời chiến trường trong đoàn quân tiến về phía Tây giành thắng lợi cuối cùng.
   1944.
HÀ VĂN LÂM  dịch
(Theo bản Tiếng Nga “ Chú bé mục đồng” )

(197/07-05)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.

  • MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

  • PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.

  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.

  • KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.