VŨ SỰ
Ngày xưa, chuyện “chồng già vợ trẻ” cũng là chuyện thường tình. Xứ Huế đầu thế kỷ 20, cũng có những chuyện thường tình như thế. Nhưng trong những chuyện thường tình ấy, cũng có vài chuyện “không thường tình”, ngẫm lại cũng vui.
Minh họa: Nhím
Nhà thơ Hoàng Trọng Thược kể lại trong sách “Tinh thần trào phúng trong thi ca xứ Huế”. Hồi đó tại đường Mai Thúc Loan, trong Nội Thành Huế, có cụ già 82 tuổi cưới một cô gái 20 tuổi. Chú rể già đội khăn đóng, mặc áo gấm xanh trông rất bảnh, cô dâu chít vành khăn có vẻ mệnh phụ phu nhân. Đám cưới rất linh đình, cau lồng rượu ché, có kẻ bồng ngỗng, có cả lính áo đỏ, quấn xà cạp, đội nón dấu… Người Huế đổ xô đi coi đám cưới rất đông, lại nhiều người xầm xì: “Ông già kề miệng lỗ rồi mà còn mê gái tơ”… Riêng thi sĩ Vân Am Nguyễn Bá Nhiệm thì lại làm thơ bào chữa:
“Ông kia đã trở về già
Cùng cô gái nọ la cà kết duyên
Có người lại bảo ông điên
“Đã già sao lại còn ghiền gái tơ?”
Ông bèn vác gậy ông quơ:
“Tuy ta già thật nhưng ta thiếu tình”
Người kia lại bảo cô mình:
“Gái tơ sao lại kết tình ông tra?”
Cô kia vừa nói vừa la:
“Tuy ta trẻ thật, nhưng ta thiếu tiền”
………
Đời sao lắm chuyện cũng phiền
Vì tình là một, vì tiền là hai
Hai điều cũng thiết cả hai
Mặc ma với đuốc chê bai làm gì
Thằng tôi cứ việc cười khì
Để cho thiên hạ mần chi thì mần
Nửa lời không dám can ngăn”…
(Thiếu tình, thiếu tiền)
Các ông già đã tra mà còn tơ vương gái tơ, người Huế xưa gọi là “Ông già gân”. Cũng đầu thế kỷ, ở làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, có một hưu quan triều Nguyễn tên là T.T.NG. Ông góa vợ, tuổi quá thất tình mà vẫn còn đa tình quá xá. Các con cháu của ông nhiều người đã ra làm quan, có địa vị. Theo tập tục thời đó, nhất là ở các gia đình danh gia vọng tộc, chúng chung tiền sắm trước cho ông một cái “thọ đường” (tức quan tài). Hàng ngày thấy áo quan, nhưng ông cứ nghĩ mình còn lâu mới mặc cái “sơ mi gỗ” này. Cho nên một ngày kia, ông gọi người đến bán quách cái “thọ đường”, lấy tiền cưới một cô hầu non. Con cháu chứng kiến chuyện, tá hỏa tam tinh, nhưng vì chữ hiếu nên cũng đành chiều ông. Không ngờ ông hưu quan ấy lại là ông già gân, còn cô hầu cũng là người “tốt nái”. Cho nên hai vợ chồng này cứ sồn sồn sinh con năm một, có năm còn sinh đôi, sinh một loạt lít nhít khiến các con cháu lớn phải lo chạy tiền nuôi dưỡng các em, các chú cũng bở hơi tai.
Nghe chuyện, thi sĩ Hương Thủy sáng tác ngay bài thơ vui:
“Thấy ông râu tóc bạc như sương
Con cháu chung lo sắm “thọ đường”
Để nữa mai sau lìa cõi thế
Sẵn “nhà” ông ở chốn Tây phương
Tưởng đâu gối mỏi với chân chồn
Ai biết rằng ông “chiến” vẫn dòn
Bán quách “thọ đường” ông đã quyết
Sắm sanh lễ vật… cưới hầu non!
Càng già càng dẻo lại càng dai
“Đêm bảy ngày ba” chẳng kém ai
Chớ tưởng trâu tra sừng cũng thế
Đúng ngày vợ trẻ đẻ con trai
Máy tốt ông chăm “sản xuất” hoài
Mới vừa năm một lại năm đôi
Mặc cho con cháu lo nuôi dưỡng
Mặc kệ người đời tiếng mỉa mai”…
Ông Vân Am Nguyễn Bá Nhiệm lúc đó nổi danh là nhà thơ trào phúng đất Thần Kinh, giữ mục “Thơ ngược dòng” trên báo “Công Dân”, đã sáng tác ngay bài ca trù rất dí dỏm sau đây:
Mưỡu:
Tuổi trời vừa mới bảy mươi
So bề sức khỏe, kém ai đâu nào?
Vội gì tính chuyện “mai sau”
Thọ đường sắm sửa, tào lao thế mà!
Nói:
Ai già, ai trẻ
Tuổi bảy mươi chưa thể gọi rằng già
Vẫn còn đang sống giữa cõi ta bà
Thì cái chuyện “trăng hoa” còn eo ót
Thế sự dẫu thua ông bảy mốt
Nhân tình còn xứng gái mười lăm
Trâu tuy già, sừng vẫn còn hang
Lo hậu sự trăm năm chừng sớm quá
Thôi, bán quách quan tài đi cái đã
Để sớm hôm rỉ rả với giai nhân
Sống no một lúc còn hơn”…
Bài ca trù này vừa trào lộng, vừa có nhiều thú vị trong cách dùng ngạn ngữ, tục ngữ, tiếng Huế xưa: “Eo ót” tiếng Huế là ao ước, trông mong. Huế cũng có câu “ông bảy mươi còn học ông bảy mốt”. Ngạn ngữ xưa có câu “Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm”. Tục ngữ cũng có câu “sống no hơn chết thèm”…
Nhắc lại đôi chuyện xưa các nhà thơ Huế làm thơ trào phúng về đề tài “ông già gân”, để bạn đọc có thể hình dung một thời xã hội Huế có chuyện “chồng già vợ trẻ” cách biệt biên độ tuổi rất lớn như vậy. Một điều nữa là để nhớ lại một thời xưa, Huế cũng là mảnh đất giàu truyền thống thi ca trào phúng…
V.S
(SHSDB32/03-2019)
TRẦN THỊ KIÊN TRINH
Mùa hè năm nay tôi có dịp trở lại Sài Gòn. Thành phố với bao đổi thay nhưng tôi chưa kịp nhận thấy hết bởi thời gian tôi lưu lại Sài Gòn quá ngắn ngủi.
HOÀNG HƯƠNG TRANG
Cũng lạ cho cái xứ Huế của tôi, cái chi cũng khác hơn thiên hạ. Nắng thì nắng cháy da phỏng trán, mưa thì mưa thúi đất thúi đai, dầm dề không dứt. Vài ba năm lại một trận lụt, trận bão to đùng.
BÙI KIM CHI
“Tháng 7 nước nhảy lên bờ”. Mà lên bờ thiệt. Mưa. Mưa. Mưa… kéo dài lê thê. Lúc đầu nhỏ sau lớn dần. Nặng hạt. Xối xả. Cây cối trong vườn ngả nghiêng theo mưa và gió. Cây Lựu trước sân nhà tôi tơi tả. Trời tối dần. Mưa càng lúc càng to. Ào ào như thác đổ. Mưa suốt đêm. Sấm đất cuốn vào mưa. Ầm ầm. Ào ào. Âm thanh rộn rã…
Khi những giọt mưa ngâu tháng bảy bất ngờ trở về, làm xao động cả bầu trời mệt mỏi đang chìm lặng trong lòng sông Hương, Huế bỗng rùng mình chợt tỉnh cơn mê mùa hạ. Đó cũng là thời khắc mùa Vu lan đang về trên đất trời cố đô.
Hồi còn học ở Trường Đại học Sư phạm Huế, tôi có hai người bạn, hợp thành một nhóm, thường uống rượu với nhau khi vui cũng như khi buồn.
LTS: Tác giả của câu chuyện dưới đây, sinh ra và lớn lên ở làng quê Triều Sơn Nam, xã Hương Vinh, Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Anh sinh ra trong sự oan nghiệt khủng khiếp của cuộc sống khi buổi sáng mẹ anh quằn quại nghe tin đau xé mất chồng, buổi chiều mẹ đón nhận tiếng khóc chào đời của anh.
NGUYỄN LỆ BA
Gia phả họ Nguyễn Quang ghi chép, tổ tiên chúng tôi là những người đã ra đi từ đất Huế. Thuở dong buồm về phương Nam đi tìm đất mới, những lưu dân đầu tiên đến dựng làng lập ấp trên vùng sông nước quê tôi chỉ vỏn vẹn vài dòng họ với đôi ba chục con người.
BÙI KIM CHI
Đã có một lần tôi được trở về thăm Huế vào một mùa trăng. Cảnh vật thiên nhiên trời ban riêng cho Huế làm Huế duyên dáng và đẹp lạ lùng vào những đêm trăng. Trăng Huế vì thế mà có nét đẹp rất riêng, là lạ, duyên dáng, lộng lẫy và quyến rũ trong phong cảnh vừa thơ, vừa duyên và lãng mạn của trời đất Huế về đêm.
NHÂN KỶ NIỆM 50 NĂM BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC VỊ PHÁP THIÊU THÂN
NGUYỄN BỘI NHIÊN
Một nam sinh như tôi lại học trường nữ trung học Đồng Khánh (trường THPT Hai Bà Trưng hiện nay), có thể một số người cho đó là chuyện lạ đời. Nhưng đấy lại là sự thật 100%! Tuy tôi chỉ học ở trường Đồng Khánh một năm lớp năm bậc tiểu học (bây giờ là lớp 1) vào khoảng những năm cuối thập kỷ 40 đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước. Nhưng không hiểu tại sao tôi lại còn nhớ nhiều những kỷ niệm về năm học đầu đời ấy mãi tới tận bây giờ.
TRIỆU BÔN
Hồi ký
Mùa mưa năm 1968 ở mặt trận đường Chín - Khe Sanh, trung đoàn 246 chúng tôi được gọi đùa là trung đoàn hai bốn đói. Ngày ngày chúng tôi sống bằng ba nguồn chính: thịt thú rừng, rau môn thục, và đỗ xanh.
NGUYỄN MẠNH QUÝ
Có lẽ bởi một nỗi niềm đau đáu về quê hương, nơi mình được sinh ra và chắt chiu nuôi dưỡng trong từng hạt cát, từng trận mưa dầm dề thúi trời thúi đất hay nắng lửa trên cồn khô cát cháy, mà những con người ở đây sẵn mang một tấm lòng lồng lộng gió trời trải đi khắp muôn phương...
BÙI KIM CHI
Tôi đang đứng ở đây. Bến xe đò Đông Ba của thế kỷ trước. Bùi ngùi. Xúc động. Bến xe đã không còn. Thật buồn khi nơi này đã vắng bóng những chiếc xe đò dân dã, thân thương thuở ấy cùng những tà áo trắng học trò dung dị với giọng Huế trong trẻo ơi ới gọi nhau lên xe kẻo trễ giờ học.
NGUYỄN VĂN UÔNG
Tùy bút
Tuổi càng cao càng có nhiều nỗi nhớ vu vơ. Tôi đang trong tình trạng đó. Nhớ cồn cào đến xao xuyến là mỗi dịp xuân về: Nhớ Tết quê tôi. Nhớ tuổi thơ tôi và nhiều nỗi nhớ khác nữa.
HOÀNG HƯƠNG TRANG
Thuở nhỏ, tôi thường trốn ngủ trưa đi nghe hát vè. Ở Huế lúc ấy gọi là nói vè, như theo tôi phải gọi là hát vè thì đúng hơn, bởi người hát có bài có bản, có giai điệu, trầm bổng, có cả nhạc cụ.
HỒ XUÂN MÃN
(Nguyên UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế)
Năm 1973, để chuẩn bị cho ký kết hiệp định Paris, Khu ủy và Quân khu Trị Thiên - Huế chủ trương tổ chức các lực lượng (bao gồm cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) tổ chức đánh chiếm các căn cứ và phân chi khu địch để giành đất, nắm dân, cắm cờ giành quyền làm chủ.
TRẦN THỊ NHƯ MÂN
Tôi sinh ra trong gia đình quan lại, đã mấy đời làm quan với triều đình Huế(1). Khi tôi lớn lên thì chế độ cai trị của thực dân Pháp đã bước vào giai đoạn ổn định sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Chiếc ngai vàng của nhà Nguyễn từ nay trở đi chắc không còn phải chịu những cơn sóng gió đáng kể chi nữa.
HUY CẬN - XUÂN DIỆU
Trích "Hồi ký song đôi"
Tháng 8 năm 1928 cậu tôi được lệnh của Sở học chính Trung kỳ đổi về Huế làm hiệu trường trường tiểu học Queignec ở phố Đông Ba.
LÊ QUANG KẾT
Bông hồng dâng mẹ
Vua Tự Đức - ông vua tại vị gặp cơn biến động trong lịch sử dân tộc, sinh thời nhà vua đã tán dương công ơn mẹ: “Nuôi ta là mẹ, dạy ta cũng là mẹ: Mẹ là Thầy vậy. Sinh ra ta là mẹ, hiểu ta cũng là mẹ: Mẹ là Trời vậy”.
TRẦN HOÀN
Hồi ký
Năm 1941 thi vào trường Quốc Học, tôi đỗ vào loại khá nhưng chưa đủ mức để được cấp học bổng toàn phần.