Các nhà thơ Huế với chuyện “ông già gân” một thời

08:25 27/05/2019

VŨ SỰ

Ngày xưa, chuyện “chồng già vợ trẻ” cũng là chuyện thường tình. Xứ Huế đầu thế kỷ 20, cũng có những chuyện thường tình như thế. Nhưng trong những chuyện  thường  tình ấy, cũng có vài chuyện “không thường tình”, ngẫm lại cũng vui.

Minh họa: Nhím

Nhà thơ Hoàng Trọng Thược kể lại trong sách “Tinh thần trào phúng trong thi ca xứ Huế”. Hồi đó tại đường Mai Thúc Loan, trong Nội Thành Huế, có cụ già 82 tuổi cưới một cô gái 20 tuổi. Chú rể già đội khăn đóng, mặc áo gấm xanh trông rất bảnh, cô dâu chít vành khăn có vẻ mệnh phụ phu nhân. Đám cưới rất linh đình, cau lồng rượu ché, có kẻ bồng ngỗng, có cả lính áo đỏ, quấn xà cạp, đội nón dấu… Người Huế đổ xô đi coi đám cưới rất đông, lại nhiều người xầm xì: “Ông già kề miệng lỗ rồi mà còn mê gái tơ”… Riêng thi sĩ Vân Am Nguyễn Bá Nhiệm thì lại làm thơ bào chữa:

“Ông kia đã trở về già
Cùng cô gái nọ la cà kết duyên
Có người lại bảo ông điên
“Đã già sao lại còn ghiền gái tơ?”
Ông bèn vác gậy ông quơ:
“Tuy ta già thật nhưng ta thiếu tình”
Người kia lại bảo cô mình:
“Gái tơ sao lại kết tình ông tra?”
Cô kia vừa nói vừa la:
“Tuy ta trẻ thật, nhưng ta thiếu tiền”
………
Đời sao lắm chuyện cũng phiền
Vì tình là một, vì tiền là hai
Hai điều cũng thiết cả hai
Mặc ma với đuốc chê bai làm gì
Thằng tôi cứ việc cười khì
Để cho thiên hạ mần chi thì mần
Nửa lời không dám can ngăn”…

                (Thiếu tình, thiếu tiền)

Các ông già đã tra mà còn tơ vương gái tơ, người Huế xưa gọi là “Ông già gân”. Cũng đầu thế kỷ, ở làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, có một hưu quan triều Nguyễn tên là T.T.NG. Ông góa vợ, tuổi quá thất tình mà vẫn còn đa tình quá xá. Các con cháu của ông nhiều người đã ra làm quan, có địa vị. Theo tập tục thời đó, nhất là ở các gia đình danh gia vọng tộc, chúng chung tiền sắm trước cho ông một cái “thọ đường” (tức quan tài). Hàng ngày thấy áo quan, nhưng ông cứ nghĩ mình còn lâu mới mặc cái “sơ mi gỗ” này. Cho nên một ngày kia, ông gọi người đến bán quách cái “thọ đường”, lấy tiền cưới một cô hầu non. Con cháu chứng kiến chuyện, tá hỏa tam tinh, nhưng vì chữ hiếu nên cũng đành chiều ông. Không ngờ ông hưu quan ấy lại là ông già gân, còn cô hầu cũng là người “tốt nái”. Cho nên hai vợ chồng này cứ sồn sồn sinh con năm một, có năm còn sinh đôi, sinh một loạt lít nhít khiến các con cháu lớn phải lo chạy tiền nuôi dưỡng các em, các chú cũng bở hơi tai.

Nghe chuyện, thi sĩ Hương Thủy sáng tác ngay bài thơ vui:

“Thấy ông râu tóc bạc như sương
Con cháu chung lo sắm “thọ đường”
Để nữa mai sau lìa cõi thế
Sẵn “nhà” ông ở chốn Tây phương
Tưởng đâu gối mỏi với chân chồn
Ai biết rằng ông “chiến” vẫn dòn
Bán quách “thọ đường” ông đã quyết
Sắm sanh lễ vật… cưới hầu non!


Càng già càng dẻo lại càng dai
“Đêm bảy ngày ba” chẳng kém ai
Chớ tưởng trâu tra sừng cũng thế
Đúng ngày vợ trẻ đẻ con trai

 
Máy tốt ông chăm “sản xuất” hoài
Mới vừa năm một lại năm đôi
Mặc cho con cháu lo nuôi dưỡng
Mặc kệ người đời tiếng mỉa mai”…


Ông Vân Am Nguyễn Bá Nhiệm lúc đó nổi danh là nhà thơ trào phúng đất Thần Kinh, giữ mục “Thơ ngược dòng” trên báo “Công Dân”, đã sáng tác ngay bài ca trù rất dí dỏm sau đây:

Mưỡu:

Tuổi trời vừa mới bảy mươi
So bề sức khỏe, kém ai đâu nào?
Vội gì tính chuyện “mai sau”
Thọ đường sắm sửa, tào lao thế mà!

 
Nói:

Ai già, ai trẻ
Tuổi bảy mươi chưa thể gọi rằng già
Vẫn còn đang sống giữa cõi ta bà
Thì cái chuyện “trăng hoa” còn eo ót
Thế sự dẫu thua ông bảy mốt
Nhân tình còn xứng gái mười lăm
Trâu tuy già, sừng vẫn còn hang
Lo hậu sự trăm năm chừng sớm quá
Thôi, bán quách quan tài đi cái đã
Để sớm hôm rỉ rả với giai nhân
Sống no một lúc còn hơn”…


Bài ca trù này vừa trào lộng, vừa có nhiều thú vị trong cách dùng ngạn ngữ, tục ngữ, tiếng Huế xưa: “Eo ót” tiếng Huế là ao ước, trông mong. Huế cũng có câu “ông bảy mươi còn học ông bảy mốt”. Ngạn ngữ xưa có câu “Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm”. Tục ngữ cũng có câu “sống no hơn chết thèm”…

Nhắc lại đôi chuyện xưa các nhà thơ Huế làm thơ trào phúng về đề tài “ông già gân”, để bạn đọc có thể hình dung một thời xã hội Huế có chuyện “chồng già vợ trẻ” cách biệt biên độ tuổi rất lớn như vậy. Một điều nữa là để nhớ lại một thời xưa, Huế cũng là mảnh đất giàu truyền thống thi ca trào phúng…

V.S  
(SHSDB32/03-2019)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • HỒ DZẾNH
             Hồi ký

    Mai sau dù có bao giờ
    Đốt lò hương ấy, so tơ phím này

                                 NGUYỄN DU

  • LÝ HOÀI THU

    Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.

  • PHẠM THỊ CÚC

    (Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)

  • Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.

  • CAO THỊ QUẾ HƯƠNG

    Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.

  • THÁI KIM LAN

    Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.

  • Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?

  • Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.

  • Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập  thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.

  • DƯƠNG PHƯỚC THU

    LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.

  • NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN

    (Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)

  • BÙI KIM CHI

    Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…

  • LÊ MINH
    Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)

    … Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.

  • NGUYỄN KHOA BỘI LAN

    Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.

  • (SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.

  • NGUYỄN CƯƠNG

    Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.

  • HOÀNG HƯƠNG TRANG

    Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.

  • PHẠM HỮU THU

    Với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đầu năm 1942, sau khi vượt ngục trở về, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có quãng thời gian gắn bó với vùng đầm Cầu Hai, nơi có cồn Rau Câu, được Tỉnh ủy lâm thời chọn làm địa điểm huấn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
    Để đảm bảo bí mật và an toàn, Tỉnh ủy đã chọn một số cơ sở là cư dân thủy diện đảm trách việc bảo vệ và đưa đón cán bộ.
    Số cơ sở này chủ yếu là dân vạn đò của làng chài Nghi Xuân.

  • TRẦN NGUYÊN

    Thăm Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, như được trở về mái nhà thân thương nơi làng quê yêu dấu. Những ngôi nhà bình dị nối nhau với liếp cửa mở rộng đón ánh nắng rọi vào góc sâu nhất.

  • PHẠM HỮU THU
           Nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12

    “Có những sự thật quá lớn lao của một thời, đến nỗi hậu thế nhìn qua lớp sương mù của thời gian, không thể nào tin nổi” (Nhà văn Phùng Quán).