Hiện nay, nguy cơ mai một giá trị truyền thống làng xã rất lớn, ở cả chiều rộng và chiều sâu. Việc bảo tồn các giá trị di sản trong quá trình quy hoạch không gian kiến trúc làng không thể chậm trễ và trì hoãn. Trong đó, bảo tồn thích ứng và phát triển tiếp nối là phương thức mà giá trị tinh thần của di sản được kế thừa, hoàn thiện.
Làng cổ Phước Tích (Thừa Thiên - Huế) đang được bảo tồn theo phương pháp tiếp cận thích ứng
Thích ứng trong môi trường mới
Làng xã truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng chứa đựng hệ thống di sản văn hóa đồ sộ, cả vật thể và phi vật thể, tiêu biểu là văn hóa xây dựng môi trường sống cộng đồng nông thôn. Trong vùng có khoảng 3.500 làng, hình thành từ khoảng 500 năm hoặc lâu hơn, trải qua nhiều biến động nhưng nhìn chung làng xã nào cũng vẫn còn di sản. Tại hội thảo “Lịch sử quy hoạch Đông Á và bảo tồn văn hóa” ngày 1.10, các nhà khoa học trong nước và quốc tế đều cho rằng các làng xã truyền thống đang phải đối mặt với sự mất mát giá trị truyền thống một cách nhanh chóng trước tác động của đô thị hóa và những biến đổi về đời sống kinh tế - xã hội.
Theo nhiều chuyên gia, công tác bảo tồn di sản làng xã đang triển khai chậm, thiếu tính tổng thể và gặp nhiều vướng mắc. Về bảo tồn tổng thể, cả nước hiện chỉ có 2 khu vực làng xã được công nhận Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia là làng cổ Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội) và làng cổ Phước Tích (Thừa Thiên - Huế). Phần lớn di tích khác bảo tồn ở dạng quần thể nhỏ hoặc công trình đơn lẻ, cơ bản tập trung vào đình, chùa, đền… Các công trình truyền thống trong làng như nhà cổ, cổng nhà, giếng, cầu đá, lũy tre, ao làng… đã và đang bị phá bỏ hoặc thay thế bởi nó không còn chức năng phù hợp trong môi trường sống mới; phương pháp bảo tồn chủ yếu do người dân tự thực hiện, kết hợp bảo tồn với tôn tạo, cải tạo hoặc xây mới trên nền công trình cũ.
PGS.TS. Phạm Hùng Cường, Trưởng Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, Trường ĐH Xây dựng cho biết, từ những hạn chế của cách thức bảo tồn hiện nay, cần bảo tồn giá trị hệ thống hơn là những giá trị đơn lẻ. Bảo tồn cần thực hiện đồng thời theo phương pháp bảo tồn thích ứng, nghĩa là bảo tồn các di sản mà giá trị tinh thần của nó được kế thừa, hoàn thiện trong quá trình phát triển.
Bảo tồn thích ứng chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia của cộng đồng. Trong đó, tuyên truyền các giá trị di sản của làng xã, cho cộng đồng nhận thức được giá trị của nó trong cuộc sống ngày nay và tự thực hiện các biện pháp bảo tồn thích ứng. Chỉ khi cộng đồng nhận thức rõ giá trị và có ý thức gìn giữ, có hành động bảo vệ trực tiếp thì mới giữ được. GS. Kubota Aya, Khoa Kỹ thuật đô thị, ĐH Tổng hợp Tokyo (Nhật Bản) đồng quan điểm, cùng cộng đồng nên chăng có sự vào cuộc của các nhà chuyên môn trong việc khảo cứu để nhận diện các giá trị di sản đặt trong bối cảnh mới, từ đó có định hướng giải pháp khoa học trong việc tạo nên sự thích ứng của di sản.
Tránh “đóng băng” di sản
Một trong những nguyên nhân dẫn đến quá trình hủy hoại di sản nhanh nhất chính là việc hiểu lầm, nhận diện sai giá trị di sản. Nguyên Viện trưởng Viện Bảo tồn di tích, KTS. Lê Thành Vinh cho hay, sự tồn tại và phát triển của làng Việt luôn như một dòng chảy không ngừng. Nhu cầu nâng cao chất lượng sống trong làng là đòi hỏi tự nhiên của một cơ thể sống. Song nếu sự biến động tất yếu đó tạo ra nguy cơ làm giảm hay mất đi những giá trị tốt đẹp vốn có của làng, thì cần có sự can thiệp để chống lại xu hướng đó.
“Sẽ là phù hợp khi sự can thiệp ấy không đối kháng với nhu cầu phát triển tự nhiên, không chặn đứng sự chuyển hóa tất yếu, mà thiên về điều tiết để giải quyết mâu thuẫn giữa những đòi hỏi về bảo tồn và nhu cầu phát triển tự nhiên. Có thể gọi phương pháp đó là bảo tồn giá trị truyền thống trong sự phát triển tiếp nối, đó là các ứng xử thích hợp để duy trì những giá trị truyền thống mà không ngăn cản sự phát triển”, KTS. Lê Thành Vinh cho hay. Quan điểm cơ bản là không để mất giá trị truyền thống nhưng cũng không bó cứng hay đóng băng chúng mà tạo điều kiện để những giá trị ấy có thể được duy trì trong sự cộng sinh với các nhân tố mới, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống đương đại. Từ đó, các giá trị truyền thống sẽ chung sống với các nhân tố được bổ sung và tạo ra những giá trị mới mà các thế hệ tương lai có sứ mệnh bảo tồn.
Đây cũng là cách Nhật Bản áp dụng những thập niên gần đây. GS. Kubota Aya cho biết, trước những năm 1960, ở Nhật không có ý thức gìn giữ các làng cổ truyền thống. Tuy nhiên, quá trình phát triển thần tốc sau đó, người Nhật nhận thức được sự cần thiết phải tuyên truyền, hướng dẫn cộng đồng tìm hiểu và bảo tồn giá trị di sản truyền thống thông qua hoạt động du lịch, biết thích ứng và cân bằng giữa kinh doanh du lịch và làm nông nghiệp, trên cơ sở bảo tồn những giá trị truyền thống làng xã. “Bảo tồn phải có phát triển tiếp nối, miễn sao không làm mất đi giá trị truyền thống. Do vậy, vẫn phải tìm một phương án cân bằng để phát triển trong thời điểm hiện nay và tương lai. Người Nhật hiện có những mô hình thử nghiệm tại các làng mẫu, chúng tôi xác định khu nào cần phát triển, khu nào giữ nguyên để tìm giải pháp bảo tồn thích hợp nhất cho các ngôi làng nhiều năm tuổi”, GS. Kubota Aya nói.
Theo Hồng Hà - ĐBND
Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.
Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
“Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.
Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.
I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.
Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.
(Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.
Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.