Bàn tay Chúa

09:41 06/06/2011
L.T.S: Miguel Rojas Mix, sinh năm 1934 tại thủ đô Chi-lê. Giám đốc viện Nghệ thuật châu Mỹ La tinh thủ đô San Chiago. Bỏ Chi lê sang Pháp dạy học ở Đại học Paris VIII. Viết tiểu luận, truyện ngắn, sách thiếu nhi. “Bàn tay Chúa” là truyện ngắn ác liệt tố giác chính quyền Pi-nô-chê khát máu tại Chi-lê chỉ có thể gây ra khổ đau, chết chóc, ly hương và quật khởi cho nhân dân xứ này. Truyện mang ý hướng ngụ ngôn, gợi ý, gợi hình, vừa có nét thần kỳ mà vẫn không xa hiện thực.

Miguel Rojas Mix - Ảnh: miguelrojasmix.com

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]

“Lạy Chúa toàn năng! Chúa là người minh triết vô biên đã giúp chúng con tuốt gươm cho Tổ quốc thân yêu tìm lại được tự do. Trước mặt đồng bào, con cầu xin Chúa điều mà con đã bao phen khẩn nguyện Chúa trong đêm vắng trước ngày 11 tháng 9; nay xin Chúa rủ lòng giúp sức cho dân tộc này tìm ra sinh mệnh sáng sủa nhất của nó trong đức tin”.
Tướng Pi-nô-chê
(Diễn văn đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ nhất cuộc đảo chính ngày 11 tháng 9 năm 1974)



MIGUEL ROJAS MIX


Bàn tay Chúa


Hôm ấy tôi bắt gặp lão đang bày trò với bàn tay Chúa. Tuân theo một lối nghi lễ cử hành mỗi buổi ngủ trưa, lão rút bàn tay trong hộp ra, đặt lên bàn, tắt đèn để cho vùng tam giác sáng viền quanh đấy nổi bật lên, mân mê mẫu bàn tay, nhấc nó lên và đứng lặng ngắm nghía hồi lâu giống như các bà mẹ trong loại tranh hiện thực đôn hậu ngắm nhìn con cái. Kế đó lão vỗ nhẹ vào đầu ngón tay, vào phía trần nhà, và bàn tay cất mình lên, lên, lừng lững một hồi (nó đã thường lên cao vì chỉ có nó là lên tới trên trời được), rồi chầm chậm hạ mình xuống trên mặt bàn gỗ đào. Nơi đây, lão cầm lấy bàn tay, chăm chú khảo sát nó một hồi, vuốt lưng bàn tay và, sau một hồi im lặng, lần lượt thoăn thoắt ra lệnh cho bàn tay thi hành đủ thứ trò lão nghĩ ra: bắt nó tỉa râu cho lão, gãi tai, đút ngón tay nó vào mũi lão… Nhưng cái lão khoái hơn cả và bắt nó làm liên hồi là đi lấy mấy hạt dẻ lùi trong lửa đang cháy trong lò sưởi ở cuối cái bàn làm việc to tướng.

Bàn tay Chúa thi hành bao nhiêu điều một cách nhẫn nhịn và tự tin, nhưng lâu lâu nó làm hỏng, chẳng hạn như dí bẹp một con ruồi thì chịu. Thế là, để phạt nó, lão bắt nó vào góc tường hí hoáy, và bàn tay chìa ra một ngón sáng viết ngoằn ngoèo bằng nét chữ ba-bi-lon, tùy theo lỗi nặng nhẹ, hai chục, năm chục hay một trăm lần câu nhận tội mình.

Không nên nghĩ rằng bàn tay Chúa có mang một dấu tích riêng biệt nào. Tôi thì đinh ninh rằng bàn tay có màu thiên thanh, còn móng tay thì màu mây hồng, nhưng không phải. Nó giống đúc bàn tay kẻ sử dụng nó. Lúc nào lão bày trò ra với nó, thì nó y hệt như hai bàn tay lão: cũng lông lởm chởm trên mặt lưng, cũng ngón tay ngắn ngủn dày dặn, cũng móng tròn… Và sau này, đến lượt đệ nhất phu nhân sử dụng bàn tay, thì tôi lại nom thấy bàn tay có ngón mảnh mai, lòng tay phớt hồng và móng tay dài bôi đỏ.

Bày trò một lát xong, lão phát hiện ra tôi. Lão hấp háy mắt mấy lượt, bối rối vì bị bắt gặp với món đồ chơi quái dị như thế, hoặc có thể là khó chịu vì tôi chứng kiến lão liên hệ với bàn tay Chúa, lão hấp tấp đút bàn tay vào lại trong hộp giấy dày. “Chú thấy cái gì trong này chưa?” lão vừa chỉ tay vào hộp vừa xẵng giọng hỏi tôi. “Thưa đại tướng, có thấy ạ”, tôi ngập ngừng đáp, lo sợ sự thập thò của mình gây lụy cho mình.

Lão nhìn tôi qua khóe mắt, quay người lại nửa vời và, sau một hồi lâu im tiếng, ý chừng nghĩ rằng có thể tin tưởng tôi được… cuối cùng lão giao cái hộp phát quang cho tôi (tôi phải bọc chiếc hộp vào một lớp giấy vải màu đen để cho ánh sáng khỏi lọt ra khe) rồi hạ lệnh cho tôi đưa chiếc hộp đến bà vợ lão đang cần đến nó cho bài diễn văn bà sẽ đọc chiều nay tại quãng trường Võ Binh. Trước khi ra đi, lão dặn dò thêm là phải coi ngó nó cực kỳ chu đáo, vì đây là một di vật vô giá, ích dụng lớn cho chính thể và lại càng có ích hơn nữa - lời của lão nếu như cái tốp giám mục kia, cái bọn không cha không mẹ ấy! không thường xuyên ngoan cố cãi lời lão, nhưng dù có như vậy, di vật vẫn rất có ích. “Di vật lịch sử đấy”, lão nói lại. Rồi nói tiếp là thừa kế nó từ mấy người Tây Ban Nha đầu tiên đến Châu Mỹ- bàn tay Chúa nhuốm nặng cái tính Tây Ban Nha. Để dẫn chứng, lão moi óc đọc thuộc lòng lời lẽ một người chép sử thế kỷ 16 có viết về vụ tàn sát ở So-luy-la như sau: “Người Tây Ban Nha được bàn tay Chúa dẫn đường và không nghĩ rằng họ phạm trọng tội - vì ý Chúa là đất đai kia phải được chinh phục, cứu độ và tước lấy từ quyền năng của ma quỷ”.

[if gte mso 9]> Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 <![endif][if gte mso 9]> <![endif][if gte mso 10]> <![endif]Minh họa: Bửu Chỉ

Trước khi bắt đầu bài diễn văn, và một khi hàng tướng tá, huy chương băng dải đầy mình, sắp lớp sau lưng như một hàng cột, Đệ Nhất Phu Nhân mở dây hộp và lấy bàn tay Chúa đưa lên cho mọi người thấy. Công chúng há mồm và chói mắt theo cái ánh sáng tỏa ra từ bàn tay, ngoại trừ một đoàn đàn bà điên chiều nào cũng quanh quẩn bên quảng trường, như thể một ai đó có quyền phép trao trả cho mấy bà những thân nhân mất tích. Người mất tích tái hiện hoặc không tái hiện, nhưng còn trao trả thì chẳng ai trao trả được. Ngoài ra, chính quyền đã lên tiếng rằng, nếu sau một tháng mà họ không xuất hiện, thì có thể chính thức công bố là mất tích và như thế là mấy bà khỏi cần tiếp tục quẩn quanh quảng trường, vì kẻ nào đã chính thức mất tích mà hiện ra lại thì đó là điều trái phép. Nhưng mấy mụ điên không cảm thấy hài lòng… Người ta cũng không thể phủ nhận rằng chính quyền đã làm đủ mọi cách trong vòng luật pháp để giải quyết vấn đề…

Sự có mặt của mấy bà điên khiến cho Đệ Nhất Phu Nhân phập phồng cao độ - bà vốn nhạy cảm, - bởi lẽ bà sợ một sự cố nào làm cho bà vấp váp trong bài diễn văn đã được tập dượt ráo riết mấy ngày nay trước gương soi, nhấn từng câu, ngắm từng động tác, và như thế thì sẽ u ám cho cái ngày sinh nhật thứ ba kỳ diệu này để kỷ niệm cuộc đảo chính đưa chính quyền mới lên thay thế. Nói vậy chứ bàn tay Chúa trấn an bà và tiếp đó, sau khi đã đưa bàn tay Chúa ra cho bốn phương tám hướng đều thấy xong xuôi, bà khai từ:

“Thưa các đại biểu lực lượng vũ trang, quý ông quý bà cùng toàn dân yêu quý. Hôm nay là ba năm kể từ ngày bàn tay Chúa hiện ra với chúng ta để cứu vớt chúng ta”, đó là lời tuyên bố mở đầu. Và chiếc bàn tay bây giờ có vẻ như sung sức và sáng ánh hơn thêm, nó nằm yên phía đằng sau gáy Đệ Nhất Phu Nhân, giúp cho bà có cái vẻ một hình tượng thời cổ đại. Đắc ý với lời phi lộ, bà sửa soạn tiếp lời thì bỗng, giữa đám đông nổi lên giọng ê a đục khàn của một bà điên rõ tiếng mồn một giữa khi diễn giả im tiếng: “Trả con cho tôi”.

Đệ Nhất Phu Nhân luống cuống thấy rõ. Làm sao nói tiếp nếu bị ngắt ngang đúng vào lúc mình định bụng trích dẫn một đoạn của Boóc-giơ mà gã cận vệ phụ trách văn hoá của đức ông chồng khuyến dụ bà chen vào giữa chừng. “Các … bạn thân … mến”, bà ấp úng lấy lại can đảm và nhìn qua nhìn lại kéo dài thì giờ, hy vọng lực lượng đặc biệt cứu gỡ cho mình và tống con mẹ điên này đi bằng công lực. Nhưng, ngay trước lúc lực lượng đặc biệt xuất hiện, một giọng khác lại vang lên từ phía đằng kia quảng trường: “Trả chồng tôi cho tôi”, “Thả con tôi ra”, “Trả em tôi cho tôi”.

Đến đây thì bàn tay Chúa hành sự và, sau khi rời gáy Đệ Nhất Phu Nhân, bắt đầu nhúc nhích các ngón tay phía trên cao khán đài, tiến xuống đám đông, đồng thời lớn dần ra, trương phồng thêm, đành đứng lại, biến đổi màu sắc. Những hòn đạn kim khí hiện ra trên lòng bàn tay, và các ngón cứng lại, long lanh màu nâu thẫm. Trên các đốt ngón tay mọc lên những chiếc đinh tán dài mấy phân, các móng đỏ biến thành họng đại bác, chân móng thành ống nhắm và các khớp thành lỗ châu mai bịt sắt, từ đây ngoi lên những chiếc đầu nón sắt chĩa vào đám đông khắp các hướng. Năm khẩu đại bác bắt đầu khạc đạn, và từng tản người nguyên khối gục ngã vô danh giữa quảng trường. Và trong khi nỗi kinh hoàng xâm chiếm những kẻ toan bài tháo chạy, thì riêng những người đàn bà điên có vẻ thản nhiên trước cuộc tàn sát và vẫn đứng trơ trơ tại chỗ, lớn tiếng gào lên nhất loạt: “Trả chồng con cho chúng tao”, “Buông tha con gái chúng tao ra”, “Để cho chúng tao có cháu”. Nhưng, cuối cùng, đám đàn bà này ngã theo xuống bởi vì bàn tay Chúa, giống hệt thời chinh phạt So-luy-la, đã muốn tận tụy phục dịch Chúa thì không để cho kẻ nào sống sót.

Và đến khi trên quảng trường không còn một mống nào đứng thẳng người thì các họng đại bác trở lại làm móng tay, các ngón mềm mại trở lại, các khớp và da nhũn mềm trở thành lòng bàn tay và bàn tay trăn qua trở lại mặt lưng mặt lòng, như thể có con mắt Chúa nhìn vào; lập tức nó kỳ cọ vào đất và vào một tượng đài dựng lên tưởng niệm một kỵ sĩ lẫy lừng để chùi máu dính vào nó, rồi trở lại nạm ánh vàng cắt thành hình tam giác và đậu xuống bàn tay run rẩy lật bật của Đệ Nhất Phu Nhân.

Hôm sau, tất cả báo chí trong nước đăng tải trên trang nhất hàng chữ sau đây:

Tại quảng trường Võ Binh mưu sát Đệ Nhất Phu Nhân, một lần nữa bàn tay Chúa giáng xuống giữa chúng ta để cứu giúp chúng ta”.

BỬU Ý dịch
(16/12-85)







Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

  • PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.

  • KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.

  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.

  • KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.