Liệu với 2 mức đầu tư cho con người như đề án, đến năm 2030, chúng ta có đội ngũ sáng tác, sản xuất mạnh trong khu vực Đông Nam Á và châu Á?
Một cảnh trong vở kịch hình thể Hồn Trương Ba, da hàng thịt do NSND Lan Hương dàn dựng
Cũng lý tưởng như việc xây 51 nhà hát, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch (VH-TT-DL) đặt mục tiêu đến năm 2020, nền nghệ thuật nước nhà sẽ có những nghệ sĩ tiêu biểu, có nhiều tác phẩm đỉnh cao; từng bước phấn đấu xây dựng nghệ thuật biểu diễn Việt Nam trở thành nền nghệ thuật biểu diễn mạnh trong khu vực Đông Nam Á và châu Á; đến năm 2030 có đội ngũ sáng tác, sản xuất mạnh trong khu vực Đông Nam Á và châu Á, trong đó có những tài năng được quốc tế công nhận…
Mục tiêu lớn lao, đầu tư hạn chế
Tuy nhiên, ngược hẳn với kinh phí dành cho xây dựng cơ sở vật chất lên tới gần 7.000 tỉ đồng, ngân sách đặt hàng sáng tác (50 tác phẩm) và dàn dựng các tác phẩm nghệ thuật biểu diễn chất lượng cao (25 tác phẩm) từ nay đến năm 2020 chỉ 31,1 tỉ đồng. Đầu tư cho con người cũng rất hạn chế với dự kiến mỗi năm đào tạo 15-20 đạo diễn, 10-15 nhà sản xuất, 10-15 biên kịch, 10 lý luận - phê bình, 150-170 diễn viên… tại các trường đào tạo chính quy về nghệ thuật của Việt Nam, đồng thời lập dự án hằng năm cử sinh viên đi đào tạo tại nước ngoài các ngành nghề chủ yếu như sân khấu, ca múa nhạc, tạp kỹ với số lượng từ 3-5 đạo diễn, nhà sản xuất, biên kịch, kỹ thuật - công nghệ. Không có dòng nào nói về cơ chế đào tạo nguồn nhân lực, nguồn kinh phí đào tạo cũng như cơ chế, chính sách khuyến khích văn nghệ sĩ hoạt động sáng tạo, nhất là với nghệ sĩ biểu diễn các bộ môn nghệ thuật truyền thống. Khi nói về kinh phí đào tạo, Bộ VH-TT-DL chỉ nêu chung “ngân sách nhà nước chiếm 50%, phần còn lại huy động từ các nguồn khác”.
Một NSND nhận xét Bộ VH-TT-DL đưa ra những mục tiêu quá cao trên nền móng quá yếu, lại không có đầu tư thích đáng về nhân lực mà chỉ chăm chăm vào xây dựng cơ bản, dường như những người xây dựng quy hoạch nghệ thuật biểu diễn lại không làm trong ngành nghệ thuật biểu diễn. Rõ ràng, với đội ngũ nghệ sĩ và với cơ chế như hiện nay, nghệ thuật biểu diễn không thụt lùi với chính mình là may, nói gì đến tầm khu vực hay thế giới.
Tụt hậu so với thế giới vài chục năm
Ông Trương Nhuận, Giám đốc Nhà hát Tuổi Trẻ, thẳng thắn nhận xét sân khấu Việt Nam đã từng có một thế hệ nghệ sĩ vàng được đào tạo tại Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức… như NSND Đình Quang, NSND Phạm Thị Thành, sau này là NSND Lê Hùng… Thế nhưng, chỉ đến đó là dừng. Nhiều năm qua, vì không có kinh phí cho nghệ sĩ đi học ở nước ngoài nên việc phát triển nghệ thuật ở mức độ cao bị ngắt quãng. “Các đạo diễn được đào tạo trong nước không tiếp cận được với sân khấu thế giới, thậm chí là sự sáng tạo của họ lạc hậu với thế giới vài chục năm. Đến giờ vẫn chỉ tả thực, mô phỏng chứ không có gì mới, thua kém hẳn so với điện ảnh” - ông Nhuận thất vọng. Chuyên gia này khẳng định với những gì đang có hiện nay, tạo được tác phẩm có sức hấp dẫn trong nước đã là quá khó, đừng nói đến ra nước ngoài.
NSND Lê Tiến Thọ - nguyên Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam - cho biết hội này có khoảng 2.000 hội viên, trong đó tác giả khoảng 200 người, số lượng đạo diễn cũng tương tự nhưng tài năng nghệ thuật thật sự là của hiếm. “Đội ngũ nghệ sĩ đã báo động cấp ba, cấp bốn” - ông Thọ nói. Nghệ sĩ này cũng thừa nhận những khó khăn về tài chính, đặc biệt là việc đầu tư cho văn hóa, chưa được quan tâm đúng mức nên chưa có đạo diễn sân khấu nào được cử đi học nước ngoài. Không tiếp cận được với nền sân khấu tiên tiến, cũng không có kinh phí cho việc giao lưu, biểu diễn ở nước ngoài để tiếp thu tinh hoa thế giới, mục tiêu nghệ thuật biểu diễn Việt Nam từng bước vươn ra tầm khu vực thực sự là một thách thức.
Con người phải được đặt lên đầu
“Chúng ta cứ yêu cầu nghệ sĩ nâng cao chất lượng nghệ thuật nhưng lại không sửa đổi chế độ đãi ngộ thì làm sao đủ sức giữ chân họ với nghệ thuật. Bộ VH-TT-DL không quan tâm đến người diễn thì xây chỗ diễn để làm gì?” - ông Trương Nhuận đặt vấn đề.
NSND Lê Tiến Thọ cho rằng để có sự phát triển đồng bộ, chúng ta phải quan tâm đến cả 3 vấn đề: đội ngũ, cơ chế chính sách và cơ sở vật chất. “Đội ngũ nghệ sĩ phải được đặt lên đầu bởi chúng ta phải biết rõ đến năm 2020-2030, đội ngũ sáng tạo nghệ thuật sẽ thế nào, trình độ ra sao thì mới có thể xác định được hướng đầu tư thích hợp. Muốn có đội ngũ, không chỉ trong vòng 5-10 năm là có được mà phải “nuôi” họ lâu hơn thế. Quy hoạch nghệ thuật biểu diễn phải đưa ra tính khả thi chứ không thể duy ý chí. Phải chinh phục xã hội bằng một đề án khoa học” - ông Thọ nhấn mạnh.
(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 2-6
Lương như thế, làm sao có tài năng? Ông Lê Tiến Thọ nói thêm rằng phải đầu tư chiều sâu mới thu hút được nhân tài nhưng chế độ chính sách hiện nay không đủ giúp các nghệ sĩ sống bằng nghề. Tác phẩm ra đời chưa ráo mực, tiền đã hết! Dưới góc độ giám đốc một nhà hát, ông Trương Nhuận cho rằng đời sống các nghệ sĩ trong các đoàn nghệ thuật nhà nước quá khó khăn, không đủ động lực giúp họ sáng tạo nghệ thuật. “Chế độ lương của các nghệ sĩ là một bất cập lớn. NSND vẫn chỉ được hưởng mức lương “hạng 3”, không có chế độ chuyển ngạch, nâng ngạch cho diễn viên. NSND Lê Khanh, NSND Hoàng Dũng, NSND Lan Hương cống hiến cả đời cho nghệ thuật giờ vẫn nhận lương 5 triệu đồng/tháng, chúng tôi kêu 10 năm nay mà bất hợp lý này không được giải quyết. Đồng lương như thế làm sao có được tài năng?” - ông Trương Nhuận bức xúc. NSND Lê Tiến Thọ nói thêm những nghệ sĩ cống hiến cả cuộc đời cho nghệ thuật đều là tự phát chứ không phải nhờ một chiến lược đầu tư của nhà nước. |
Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.
Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
“Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.
Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.
I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.
Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.
(Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.
Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.