ĐÔNG HÀ
Tôi không biết từ đâu, tôi lại tha thiết yêu những câu hát đẹp như mơ được cất lên từ chị, có khi mưa ngoài trời là giọt nước mắt em đã nương theo vào đời làm từng nỗi ưu phiền…
Ảnh: internet
Đó có thể là tiếng hát từ những tháng năm thời trẻ tuổi, tôi đã được nghe dưới vòm xanh vô ưu trên con đường Long não đi về giữa tiếng chuông ngân. Đã có một lần, nơi ngôi nhà xanh trên con đường đó, tôi đã thảng thốt nghe những dòng chữ nhảy nhót dưới những trang sách vàng nâu dại dột gọi tên mình, khi tựa vào kệ sách Người hái phù dung ngẩng đầu nhìn ra bắt gặp ánh chớp đôi mắt từ thiên thu gọi.
Buổi đó, tôi biết căn gác khô gầy ấy, là nơi trú ngụ của những tâm hồn nghệ sĩ của một thời giờ trở thành yêu mến của biết bao người còn mong muốn gìn giữ ký ức vàng son.
Nhưng âm nhạc Trịnh Công Sơn với tôi, phải từ một nơi đầy hoa cỏ may, đầy gió bụi, đầy cát bay và nắng chao chát trong quán nhỏ trên một ngọn đồi có tên Cheo Leo xứ gió Lào bụi đỏ của những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Nơi đó, tôi đã trải qua thời của những bông hoa vàng mỏng manh cuối trời để nghe những lời chia tay thật hiền, thật dịu dàng, thật buồn và thật hồn nhiên ở quãng tuổi đời chưa vướng bụi. Và những năm tháng ấy, thế hệ chúng tôi lớn lên cùng âm nhạc của anh, lấy thanh âm làm niềm đắm đuối vô biên, lấy lời ca làm mật ngọt đời mình, để sống an bình và hạnh phúc trong cái nghèo khổ mà sao mỗi ngày mới đến là một nỗi hân hoan.
Trong những tháng ngày ấy, mỗi hiện hữu trần gian là một “ở trọ” kiếp người nương nhờ âm thanh của con người tài hoa ấy đã tạo khởi. Mỗi lời anh nói, mỗi dòng tâm sự trên những cuốn tạp chí, hay trong những lời phi lộ ngắn ngủi trong những cuốn băng cát-xét xưa cũ, luôn đưa đến cho người nghe những ân cần nồng ấm và an nhiên tự tại trong dòng thác vui buồn đời người cát bụi. Lạ lùng, chỉ vài câu nói của anh, và sau đó, âm nhạc cất lên, đủ làm ấm áp và ngập tràn yêu thương về trong căn buồng tim người cô đơn lộng lẫy của chính mình. Tôi gọi đó là những hạt thuốc ngọt lành dỗ cơn đau đắng chát tự tâm. Mỗi niềm vui, nỗi buồn tự tâm mình khởi sự, không ai có thể đến cùng an ủi, sẻ chia. Nhưng âm nhạc Trịnh Công Sơn, hay đúng hơn là những lời tâm tình rứt ruột của anh, lại đi vào vùng mờ của những cơn đau làm lành được nỗi niềm tự tính đó. Là những hạt thuốc được viên thành tự trong những căn nguyên nỗi niềm của chính mỗi người trong cuộc đời này mà thôi. Lạ lùng thay, nỗi niềm của ai, cũng thấy âm nhạc của anh chờ sẵn đó, để lặn vào, để sẻ chia, ủi an và “chìm xuống cơn đau” hay vào “mãi thiên thu” cùng riêng nỗi mỗi hạt cát nhỏ nhoi mà tận tụy của đời này.
Tôi đã nghe tiếng hát của anh, vào những năm tháng khó khăn của đời người, và nhận được thật nhiều yêu thương chỉ từ thanh âm vang lên trong căn nhà gỗ một mình cô độc. Ở đó, tôi nghe tiếng côn trùng rỉ rả, tiếng mưa đêm thiết tha, tiếng con thạch sùng rượt đuổi nhau tí tách, tiếng chân loài bò sát quẫy mình trên lá khô, và con đường xa ngái phận người mở ra trong tâm trí một đứa bé mồ côi hóng mẹ vang lên bởi tiếng hát rát bỏng xót xa của Khánh Ly dội vào lòng đêm xát muối, mẹ bỏ con đi đường xa vạn dặm, đường xa vạn dặm mẹ bỏ con đi… Tôi đã nghe con đường dài biết mấy, xa thăm thẳm và cái rứt ruột đớn đau của sự chia lìa… Tôi tưởng mình đã lịm đi trong tiếng hát khô gầy và mong manh kia. Nhưng âm nhạc của anh, luôn luôn, bên cạnh nỗi buồn thiết tha, là niềm cứu rỗi dịu dàng hiện hữu, để khi tận cùng vực sâu người nghe lại được an ủi từ những lời nói thiết tha ân cần, đừng tuyệt vọng tôi ơi đừng tuyệt vọng…
Có bao giờ bạn gặp một người xa lạ, mà người đó đủ sức nhấn bạn xuống vực thẳm cô đơn lòng mình rồi lại kéo bạn dậy sững sững đối diện cùng nỗi buồn của mình để nhận ra cái cô độc của mình đang phản tư cái tôi lộng lẫy riêng bạn nhận biết cho chính mình không? Trong hành trình đơn độc của mình, những lúc rơi xuống vực sâu, tôi lại được tiếng hát của loài liêu trai đưa tôi lên và quay lại cuộc đời, trong nỗi huy hoàng rực rỡ của những nỗi buồn kết tủa lại, để vui buồn với chính mình như một ân sủng trời trao, trong từng nốt nhạc, trong từng hạt thanh âm rơi xuống trái tim mình.
Và tôi nhận ra, âm nhạc Trịnh Công Sơn thường nói về niềm vui sau cái chết. Đó là niềm vui được trở về với Mẹ. Chữ Mẹ viết hoa đẹp nhất trong đời này mà tôi cứ đồ rằng, khi chạm đến chữ này, anh bao giờ cũng đã mỉm cười. Đề tài về tình yêu, thân phận và con người rộng lớn hiện diện trong nhạc của anh thật nhiều và bao khắp, nhưng không hiểu sao, tôi vẫn thấy tất cả những điều đó đều nằm trong sự phủ trùm của tâm tình Mẹ. Tôi vẫn thấy người Mẹ ấy đang ôm con, đang lau sạch những nát tan con mình mà vỗ về ôm vào lòng những yêu thương còn sót lại trên đời này riêng dành cho mẹ. Bao giờ, khi âm nhạc của anh đến những thanh âm này vang lên trong đêm thẳm, tôi lại nhớ về câu thơ trong lời đề từ một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Trần Nhã Thụy, “Có bao nhiêu nát tan/ Đội cả lên đầu mà Hát”. Và lúc này, niềm vui không phải chỉ là niềm vui, nỗi buồn không chỉ là nỗi buồn. Mà chính “buồn vui kia là một”, là xem như “phút đó tình cờ”.
Mà suy cho cùng đời này, có gì đến, đi, xuất hiện, biến mất, khởi tạo, rốt sau… đều không phải là sự “tình cờ” đâu!
Như một lời thơ tinh khôi anh đã từng viết đâu đó, để sau này muôn người hát lên: “Trăm năm ở đậu ngàn năm/ Đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn/ Ơ hay là một vòng xinh/ Tôi như người bỗng lênh đênh giữa đời”. Trăm năm hay ngàn năm, buồn hay vui, hạnh phúc hay đau khổ… cũng chỉ trong một vòng xinh giữa nhân gian này. Và con người ấy, đã biết mình ở trọ, thì hai chữ lênh đênh giữa đời cũng là một quê hương neo đậu riêng trong trái tim tâm tưởng mình đó thôi. Để cho những người như tôi, dẫu tuổi đời vừa xanh hay tóc mình chớm bạc hoặc mai này mắt hiền ngóng núi, vẫn được sống trong những âm thanh thật hiền, thật buồn nhưng vẫn lộng lẫy yêu thương mà người nhạc sĩ tài hoa đẫm tình ấy đã để lại cho đời, cho mỗi ngày được đi về trên xanh lối vô ưu tấm lòng mình.
Dù chốn trọ ơ hờ này, thiên hạ đã tiếc thương người vắng bóng hai mươi năm.
Đ.H
(TCSH386/04-2021)
Báo Tin Tức Chúa Nhựt, 3.11.1940 mở đầu bằng mấy hàng như sau: “Hai mươi chín tháng Chín Annam (20 Octobre 1940). Thêm một ngày đáng ghi nhớ. Một người đã mất: cụ Sào Nam Phan Bội Châu”
Với giọng văn sinh động, pha chút hài hước, hình minh họa ngộ nghĩnh, phù hợp với lứa tuổi học trò: “Chuyện kể về thầy trò thời xưa”, “Những tấm lòng cao cả” hay bộ văn học teen “Cười lên đi cô ơi”… sẽ đem đến cho độc giả nhiều cung bậc cảm xúc và hoài niệm.
Trong tất cả các Ni sư Phật giáo mà tôi được biết và chịu ơn hoằng pháp vô ngôn, có lẽ người gần gũi với tôi nhất trong đời là Cố Đại Trưởng lão Ni chúng – Sư Bà Cát Tường - nguyên trụ trì chùa sư nữ Hoàng Mai ở Thủy Xuân – Huế.
LTS: Nhà thơ, nhà văn Thanh Tịnh năm 78 tuổi sức khỏe không còn như buổi thanh niên, nhưng ngòi bút của ông vẫn còn cái sung sức của một người đã từng yêu du lịch và làm nghề hướng dẫn khách du lịch toàn Đông Dương. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc những trang hồi ký đầy lý thú của Thanh Tịnh.
NGUYỄN XUÂN HOA
Tôi không có dịp được học với thầy Phạm Kiêm Âu, người thầy nổi tiếng ở Huế, nhưng lại có cơ duyên cùng dạy ở trường nữ trung học Đồng Khánh với thầy trong các năm 1974 - 1975.
Vậy là nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh đã về cõi thiên thu giữa một sáng mùa thu Hà Nội lay phay gió mù u!...Trước khi chưa kịp được vuốt mắt, dường như đôi đồng tử của ông vẫn còn lưu giữ lại hình ảnh đau đáu về con sông Cụt quê nhà.
Với một tướng lãnh võ biền, thì mục tiêu cuộc dẹp loạn là đánh tan loạn quân, rồi ca khúc khải hoàn, ăn mừng chiến thắng.
PHÙNG TẤN ĐÔNG
“Đời của nó như thể bềnh bồng
Cái chết của nó như thể an nghỉ”
F.Jullien
(Dẫn nhập cuốn “Nuôi dưỡng đời mình - tách rời hạnh phúc” - Bửu Ý dịch, 2005)
THANH TÙNG
Hiệp định Genève ký kết, sông Bến Hải tưởng chỉ là giới tuyến tạm thời, không ngờ đã trở thành ranh giới chia cắt đất nước Việt Nam hơn 20 năm. Nỗi đau chia cắt và biết bao câu chuyện thương tâm, cảm động đã diễn ra ở đôi bờ Hiền Lương kể từ ngày ấy. Nhiều cuộc tình đẫm máu và nước mắt. Có những đôi vợ chồng chỉ ở với nhau đúng một đêm. Có người chồng Bắc vợ Nam, khi vợ được ra Bắc thì chồng lại đã vào Nam chiến đấu, đời vợ chồng như chuyện vợ chồng Ngâu.
“Thưởng thức là ngưỡng cửa của phê bình. Chưa bước qua ngưỡng cửa ấy mà nhảy vào cầm bút phê bình thì nhất định mắc phải những sai lầm tai hại. Không còn gì ngượng bằng đọc một bài người ta đem dẫn toàn những câu thơ dở và những câu ca dao dở mà lại đi khen là hay”. (Vũ Ngọc Phan, trích từ Hồi ký văn nghệ, tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 4 năm 1983, trang 168).
VƯƠNG TRÍ NHÀN
I
Hè phố Hà Nội vốn khá hẹp, chỉ có điều may là ở cái thành phố đang còn lấy xe đạp làm phương tiện giao thông chủ yếu này, người đi bộ có phần ít, phía các phố không phải phố buôn bán, vỉa hè thường vắng, bởi vậy, nếu không quá bận, đi bộ lại là cái thú, người ta có thể vừa đi vừa nghỉ, thoải mái.
Gặp người thư ký của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm xưa, tôi có dịp biết thêm những tình tiết mới quanh câu chuyện hơn 30 năm về trước khi tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng được tái bản lần đầu.
THẾ TƯỜNG
Ký
"Quê hương là chùm khế ngọt
cho con trèo hái cả ngày"
Một nhà báo Pháp sắp đến Việt Nam để tìm lại một di sản chiến tranh, nhưng ở một khía cạnh nhân văn của nó - đó là những con người, địa điểm từng xuất hiện trong các bức ảnh mà nữ phóng viên chiến trường nổi tiếng Catherine Leroy ghi lại trong cuộc tấn công Mậu Thân vào thành phố Huế.
Thanh Minh là bút danh chính của Nguyễn Hưu(1), người làng Yên Tập, tổng Phù Lưu, huyện Can Lộc, nay là xã Tân Lộc, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
LTS: Nhà văn Lan Khai tên thật là Nguyễn Đình Khải, sinh năm Bính Ngọ 1906 ở Tuyên Quang, song lại có gốc gác dòng họ Nguyễn ở Huế. Ông nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam từ những năm 1930 - 1945, được mệnh danh là “nhà văn đường rừng”, để lại hàng trăm tác phẩm văn học, trong đó có gần 50 cuốn tiểu thuyết.
Thực tế lịch sử gần 70 năm qua đã khẳng định rằng Cách mạng Tháng 8 năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả của hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Bác Hồ và là kết quả tất yếu từ công lao to lớn của Bác chuẩn bị cho việc tiến hành cuộc cách mạng giải phóng kể từ ngày Bác về nước.
Tháng Bảy âm. Tháng cô hồn. Mồng một âm đã rả rích mưa báo hiệu cho một tháng âm u của Tiết Ngâu. Sắp rằm, tâm trí chợt như hửng ấm khi tiếp được cái giấy Hà Nội mời dự lễ khánh thành nhà bia và Khu tưởng niệm đồng bào ta bị chết đói năm 1945. Chợt nhớ, công việc này đã manh nha từ hơn mười năm trước…
LTS: Nguyễn Hưu, bút danh Thanh Minh, sinh năm 1914, quê huyện Can Lộc, hoạt động báo chí và văn học từ những năm 1934 - 1935. Ông là nhà báo, nhà thơ, dịch giả Hán - Nôm, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà quản lý văn hóa văn nghệ có nhiều thành tựu và cống hiến. Ông là Hội trưởng Hội văn nghệ Hà Tĩnh đầu tiên. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông [21.8], VHNA sẽ lần lượt đăng một số bài viết về ông.
Vùng quê nghèo chúng tôi nằm sát chân núi Hồng Lĩnh có Hàm Anh (nay là xóm 1 xã Tân Lộc) từng sản sinh ra một Tiến sĩ xuất thân Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) (1499) đời Lê Hiến tông tên là Phan Đình Tá (1468-?)