DƯƠNG PHƯỚC THU
Nhà báo - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tên khai sinh Võ Giáp, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911, tại làng An Xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho yêu nước, mà thân phụ là một “thầy đồ” trường huyện.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bác Hồ ở Pác Bó, Cao Bằng (Ảnh tư liệu, năm 1945)
Năm 1925, Võ Giáp thi đậu Trường Quốc Học Huế, là một học sinh xuất sắc từng đạt được phần thưởng của nhà trường. Vừa học văn hóa, Võ Giáp vừa viết báo. Trong hai năm 1929 và 1930, Võ Giáp đã có trên 20 bài đăng trên báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng gây xôn xao dư luận. Những năm đầu thập niên ba mươi, Võ Giáp đã nổi tiếng với những báo bài “có xu hướng mới về chính trị”, ông được mời cộng tác cho nhiều tờ báo tiến bộ lúc bấy giờ. Từ năm 1936, ông hoạt động trong các báo của Đảng, như “Tiếng nói của chúng ta”, “Tiến lên”, “Tập hợp”, “Thời báo” “Tin tức”, và tham gia phong trào Đông Dương và được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ. Đầu năm 1937, ông cùng Nguyễn Chí Diểu, Phan Đăng Lưu, Hải Triều, Hải Thanh… dự Hội nghị báo chí Trung Kỳ tại Huế. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Quân ủy hội, trở thành nhà quân sự xuất sắc. Với chức vụ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ, ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 110-SL “nay thụ cấp Đại tướng”, khi thành lập Đảng ủy Quân sự Trung ương, ông được phân công làm Bí thư, và được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao quyền làm Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Kể từ lúc Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đến nay, ông là vị tướng duy nhất được giao trọng trách này. Và dù bận trăm công ngàn việc ông vẫn viết báo và viết ngày càng hay hơn.
Có thể nói, nếu không vì việc cầm quân vệ quốc có lẽ Võ Nguyên Giáp sẽ là ngọn cờ đầu xuất sắc của nền báo chí cách mạng Việt Nam.
Ngày 4/10/2013, ông qua đời tại Hà Nội, để lại sự thương tiếc vô hạn trong lòng người dân cả nước, đặc biệt là những người lính của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Để hệ thống lại số lượng tác phẩm, công trình của ông, năm 2015, Thư viện Quốc gia (bước đầu) đã thống kê được, riêng về báo chí đã hơn 600 bài của Đại tướng (chưa kể các cuốn sách và hồi ký) dưới các bút danh: Trác Anh, Hải Thanh, Vân Đình, Hồng Nam, Chính Nghĩa, Hoài Vân, Chí Công, Hồng Thao, Hồng Diệm, Lê Quang Hoa, Chính Yên, Bút chì đỏ, và dĩ nhiên là có nhiều bài ghi tên thật Võ Nguyên Giáp. Đấy là chưa kể những mệnh lệnh của Đại tướng được ký tắt dưới cái tên ngắn gọn: Văn!
Theo nghiên cứu của chúng tôi thì các bài báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ yếu viết dưới thể loại chính luận, nghị luận hay bình luận thật sự sắc sảo có tầm khát quát cao của một chính trị gia, một nhà quân sự tài ba tầm thế giới. Có nhiều bài được ông viết lúc mới 17, 18 tuổi, ngày nay đọc lại vẫn thấy có nhiều cái mới - mới như là một sự dự báo của một tài năng về nhiều lĩnh vực ở tầm cao trí tuệ.
Xin điểm lại một số bài dưới đây qua các bút danh: Vũ trụ tấn hóa, bút danh Hải Thanh, in trên Tiếng Dân, số ra ngày 28/9/1929; Sự nghiệp của quốc tế liên minh, bút danh Vân Đình, in trên Tiếng Dân, số ra ngày 6/3/1930; Vài ý nghĩa về Hiến pháp Việt Nam, bút danh Chính Nghĩa, in trên Sự thật, số 61 năm 1946; Tiến hay lùi tìm sáng kiến trong 2/9/1946, bút danh Bút chì đỏ, in trên báo Dân chủ, số ra ngày 28/8/1946; Hiểu rõ địch để chiến thắng, bút danh Hồng Nam, in trên Nhân dân số ra ngày 25/10/1951; Nhân dân vệ Quốc quân Việt Nam 9 tuổi, bút danh Chí Công, in trên Nhân dân miền Nam, số 32 ra năm 1952…
Năm 1927, lúc mới 16 tuổi, Võ Giáp đang học lớp Đệ nhị niên Trường Quốc Học Huế, vì bất bình trước sự nhục mạ của một số giáo viên người Pháp, trong đó có cả ngài hiệu trưởng Burốt về văn hóa dân tộc và học sinh bản xứ, Võ Giáp đã bãi khóa và tham gia phong trào bãi khóa của Trường Quốc Học với các trường khác ở Huế. Để lên án chế độ hà khắc trong nhà trường ở xứ bảo hộ, Võ Giáp đã viết một bài báo phê phán lối cai trị thực dân của ngài Hiệu trưởng Trường Quốc Học. Ngay lập tức bài báo đã gây được tiếng vang trong nước và có tác dụng đến giới cai trị thực dân. Bài báo của Võ Giáp được nhiều người cùng thời biết. Nhưng tiếc là đã bị thất lạc. Bài báo này được xem như một “viên đại bác” bắn vào nền giáo dục thống trị lỗi thời của Pháp ở Đông Dương, chính vì thế mà ngài Hiệu trưởng Burốt quyết đuổi Võ Giáp khỏi Trường Quốc Học.
Nhiều năm qua, giới nghiên cứu báo chí bỏ công tìm kiếm bài báo này của Võ Giáp nhưng chỉ là mò kim đáy bể. Và thật may, “châu về hợp phố” đầu năm 2015, chị Lady Borton, một nhà văn người Mỹ đã có nhiều công trình nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cũng là người bạn thân thiết của Việt Nam đến Hà Nội, đã tìm và tặng Đại tá, Tiến sĩ Sử học Nguyễn Văn Khoan, một người con làng Nguyệt Biều của xứ Huế đang ở Thủ đô, một tờ báo phô tô bài viết có nhan đề “Huế, chế độ lạ kỳ gì thế trong một trường Quốc học” bằng tiếng Pháp. Người viết ký tên Trác Anh. Chị Lady nói: “Đây là một bài viết đăng trên báo L’Annam, tiếng Pháp “Cơ quan tuyên truyền dân chủ” ra ngày 24/3/19271. Chị lại đưa thêm cho Tiến sĩ Khoan một bản phô tô trang 1 của số báo này. Chị chỉ vào một cột chữ mờ, trắng và nói tiếp: “Đây là vị trí của bài viết, phô tô cả tờ không thể đọc được, nên tôi phải phô tô riêng”.
Chị Lady cho biết chị sưu tầm được tài liệu này từ kho lưu trữ của Trường Đại học Washington (Hoa Kỳ), ký hiệu A.117.21, Micro phim về tờ L’Annam2, các số ra từ ngày 6/5/1926 đến tháng 2/1928.
Chị nói: “Trác Anh là bút danh của Võ Nguyên Giáp, viết lúc 16 tuổi. Ông Khoan đọc đi sẽ hiểu”.
Tiến sĩ Khoan đã đọc và (như ông nói) với vốn tiếng Pháp hạn chế, ông đã cố gắng “chuyển ngữ” để trước mắt phục vụ kịp thời bạn đọc. Ông mong rằng, sau này cơ quan có trách nhiệm sẽ có bản dịch chính thống.
Với tình cảm của mình, Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan đã dành tài liệu đặc biệt này cho Huế, để bạn đọc có cái nhìn sâu hơn về một thiên tài quân sự, về một nhà báo lớn của nền báo chí cách mạng Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh của Đại tướng.
Chúng tôi mạn phép Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan xin được công bố lại trên Tạp chí Sông Hương về một bài báo đầu tiên của Nhà báo - Đại tướng Võ Nguyên Giáp bấy lâu thất lạc.
D.P.T
HUẾ
CHẾ ĐỘ LẠ KỲ GÌ THẾ TRONG MỘT TRƯỜNG QUỐC HỌC?
Từ khi những cuộc bãi khóa xảy ra trong các trường học của chúng tôi, tiếp theo là những hành động ức hiếp của nhà cầm quyền, ông Burốt (Bourotte)3 Hiệu trưởng Trường Quốc Học Huế, lo lắng thấy phong trào bãi khóa ảnh hưởng đến thanh niên Huế, nên đã can thiệp đúng lúc bằng cách siết chặt lại chiếc ốc vít. Từ đấy, ông ra sức làm khổ người khác, theo người ta nói - là duy trì trong Trường Quốc Học một chế độ tai tiếng nhiều hơn.
Chuyện là, ông Burốt, người trước đây vài năm, bây giờ là giáo sư, đã khuyên nhủ học sinh nhiều lần là phải đọc báo, đọc sách để theo sát được các biến cố giúp ích cho việc học sử ký và địa dư; chính ông ấy, rất nhiều lần đã nói với học sinh bằng một giọng trách móc đáng yêu: “Các anh đọc rất ít báo”.
Thế nhưng, từ khi ông ấy trở thành hiệu trưởng, chỉ mới cách đây 2 năm - ông ta đã thay đổi hoàn toàn một đường lối chỉ đạo khi tiến hành một cuộc chiến tranh không khoan nhượng với báo chí và đối với những bạn đọc trẻ tuổi của báo chí.
Cái gì là nguyên nhân của sự thay đổi này? Người ta phỏng đoán, đó là tính đa nghi, cái tính đa nghi này rất đắt giá đối với các nhà “khai hóa” chúng ta, nỗi lo sợ không thể chống lại khi thấy các thanh niên An Nam này đã từng thấy những sự thật dã man trên đất nước họ, những mánh khóe bỉ ổi của những người mang danh là “kẻ đi bảo hộ” họ.
Hơn thế nữa, ông Burốt còn hàng ngày lục lọi các ấm phẩm, đọc trộm thư từ của học sinh, trước khi trả lại cho địa chỉ người nhận; tịch thu mọi cuốn sách nghi vấn. Một thông báo lông bông dưới đây có thể chứng minh: “Học sinh chỉ được đọc những sách có chữ ký của hiệu trưởng”.
Còn nữa, ông Burốt còn bố trí chỉ điểm theo dõi học sinh. Như người bị ma ám, tai lúc nào cũng rình nghe, ông ta ăn mất ngon, và chỉ có thể nhắm mắt được khi đêm đã khuya. Với chân con sói, ông bước đi trong các phòng ngủ, nấp sau các bức tường để dò nghe những câu chuyện bàn về “chính trị”.
Chưa hết, ông Burốt còn để mắt tới tất cả học sinh, những ai mà ông ta nghi ngờ đã thường đến với Phan Bội Châu, và tìm cách xử phạt họ quá đáng.
Vậy là, ông Burốt đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình? Ông tìm cách làm nhiều hơn có thể để trói buộc học sinh bằng một hệ thống những quy định hà khắc.
Hỡi những kẻ không vâng lời!
Hãy từ bỏ những điều không tưởng của các người đi.
Chừng nào chế độ bất hợp tác không có chỗ trong cái xứ An Nam êm dịu này, lưỡi gươm Đêmoclét4 vẫn còn đó, đang treo trên đầu tất cả mọi người.
TRÁC ANH
(TCSH390/08-2021)
--------------------
1. Theo bản “Những năm tháng và cuộc đời” do chính Đại tướng cho phép nhóm biên soạn sách “Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Đại tướng của Nhân dân, của Hòa bình” (Nguyễn Văn Khoan, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Huyên), Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2013: Năm 1925 - 1926, tham gia phong trào học sinh ở Trường Quốc Học Huế; năm 1929, vào Đảng Tân Việt. Như vậy bài này được viết trước khi bị đuổi khỏi Trường Quốc Học Huế.
2. Theo PGS.TS Tô Huy Rứa (Chủ biên), Thư tịch báo chí Việt Nam, Nxb Chính trị QG, 1998, báo L’Annam xuất bản 1 tuần 2 kỳ, thứ 2, thứ 5. Số đầu tiên ra ngày 6/5/1926 - Số cuối ra ngày 2/2/1928. Giám đốc: Phan Văn Trường (đến cuối năm 1926), sau là Nguyễn Huỳnh Điểu. Quản lý: Giăng đờ la Basti (người Pháp). Tòa soạn đóng tại đường Mác Mahông, Sài Gòn.
3. Burốt là người Do Thái, giáo sư Sử, Địa, dạy ở Trường Quốc Học Huế và có 4 năm (1925 - 1928) làm hiệu trưởng; sau 1945 và vào năm 1951, làm Hiệu trưởng Trường Sasơ lup Lô ba, Sài Gòn.
4. Đêmoclets - không có chú thích trong Bách khoa Việt Nam, trong cả từ điển Britania, xuất bản năm 2014. Theo Từ điển RoBert Pháp: “Công dân xứ Denits, thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, luôn tự cho mình là người hạnh phúc. Có lần, được mời đến dự một bữa tiệc anh ta được đón như một ông hoàng. Đêmoclets cho treo trên đầu một thanh gươm bằng một sợi lông đuôi ngựa… Ý nói sự mong manh của hạnh phúc và những tai họa sẽ xảy ra không lường. Từ đó, có cụm từ Lưỡi gươm Đêmoclets - (Các chú thích của Nguyễn Văn Khoan).
HỒ DZẾNH
Hồi ký
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
NGUYỄN DU
LÝ HOÀI THU
Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.
PHẠM THỊ CÚC
(Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)
Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.
CAO THỊ QUẾ HƯƠNG
Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.
THÁI KIM LAN
Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.
Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?
Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.
Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.
DƯƠNG PHƯỚC THU
LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.
NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN
(Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)
BÙI KIM CHI
Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…
LÊ MINH
Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)
… Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.
NGUYỄN KHOA BỘI LAN
Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.
(SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.
NGUYỄN CƯƠNG
Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.
HOÀNG HƯƠNG TRANG
Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.
PHẠM HỮU THU
Với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đầu năm 1942, sau khi vượt ngục trở về, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có quãng thời gian gắn bó với vùng đầm Cầu Hai, nơi có cồn Rau Câu, được Tỉnh ủy lâm thời chọn làm địa điểm huấn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Để đảm bảo bí mật và an toàn, Tỉnh ủy đã chọn một số cơ sở là cư dân thủy diện đảm trách việc bảo vệ và đưa đón cán bộ.
Số cơ sở này chủ yếu là dân vạn đò của làng chài Nghi Xuân.
TRẦN NGUYÊN
Thăm Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, như được trở về mái nhà thân thương nơi làng quê yêu dấu. Những ngôi nhà bình dị nối nhau với liếp cửa mở rộng đón ánh nắng rọi vào góc sâu nhất.
PHẠM HỮU THU
Nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12
“Có những sự thật quá lớn lao của một thời, đến nỗi hậu thế nhìn qua lớp sương mù của thời gian, không thể nào tin nổi” (Nhà văn Phùng Quán).