Văn học Huế - Một quãng đường nhìn lại

14:40 07/06/2019

ĐÔNG HÀ

33 năm đổi mới trong Văn học Thừa Thiên Huế

Nhà thơ Đông Hà - Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế - với tham luận "Văn học Huế - Một quãng đường nhìn lại" - Ảnh: Quỳnh Chi - vannghehue

Mỗi vùng đất có một đặc trưng văn hóa riêng để từ đó khẳng định tên tuổi bằng những dấu ấn mang tính cách khác biệt của vùng miền. Những vùng đất khác có thể đặt tên tuổi dưới những con số phát triển của các lĩnh vực kinh tế, chính trị nhưng riêng Thừa Thiên Huế, để chứng minh cho sự tồn tại và phát triển của mình, lại không thể thiếu diện mạo của văn chương góp phần. Xét trong tất cả mọi mặt, Thừa Thiên Huế luôn có chỗ dành cho văn hóa nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng.

Văn học trong mỗi giai đoạn có một đội ngũ với vai trò và sứ mệnh riêng của nó. Với bài viết này, tôi chỉ giới hạn biên độ khảo sát từ cột mốc năm 1989 đến giai đoạn hiện nay. Sở dĩ tôi chọn cột mốc này bởi trước đó, toàn bộ sáng tác của lực lượng những người cầm bút được rải đều trong ba tỉnh Bình Trị Thiên, như vậy diện mạo văn học giai đoạn này mang gương mặt chung của ba tỉnh hành chính thời đó. Phải đến năm 1989, với những người ở lại, sống và sáng tác trên chính mảnh đất này đã đưa lại cho văn học Thừa Thiên Huế một đặc trưng riêng. Vì vậy, nếu nhìn ở góc độ thời gian hiện nay, có những tác giả không còn trẻ nữa. Nhưng đặt vào góc nhìn từ năm 1989, sau thời kỳ lập tỉnh, thì họ là những cây viết sung sức của thời đại đó.

Với giai đoạn từ 1989 cho đến nay, dựa vào đội ngũ sáng tác hiện nay, tôi tạm thời chia văn học Thừa Thiên Huế làm hai chặng. Sự phân chia này không dựa vào số lượng tác phẩm của mỗi cá nhân mà chủ yếu dựa vào tuổi nghề cũng như độ kết tinh tác phẩm mà mỗi nhà văn đạt được.

Chặng thứ nhất, từ năm 1989 - 2000

Ở chặng này, có thể nói văn học Thừa Thiên Huế đã hội tụ được một đội ngũ sáng tác mạnh so với nền văn học chung của cả nước. Được thừa kế một đội ngũ khá hùng hậu đi ra từ cuộc chiến, những gương mặt sáng tác lúc này đang là những tên tuổi trên văn đàn cả nước. Những cái tên như: Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Tô Nhuận Vỹ… đã giúp lịch sử văn học Thừa Thiên Huế trở nên sang trọng và có chỗ đứng bền vững trên văn đàn cả nước.

Bên cạnh những tên tuổi đã chuyển đi theo sự chuyển biến của lịch sử, một loạt những tên tuổi tiếp theo đã bắt đầu định hình rõ rệt bằng tác phẩm của mình. Bức tranh văn học Thừa Thiên Huế lúc này có thêm những gương mặt mới đầy nội lực như Trần Thùy Mai, Ngô Minh, Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Quang Hà, Mai Văn Hoan, Hà Khánh Linh, Vĩnh Nguyên, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Trọng Tạo… Đây là những nhà văn đã sống và gắn bó với Huế từ sau thời kỳ đổi mới cho đến hết những năm cuối thế kỷ XX. Thực ra, với những tác giả này không phải đến lúc này họ mới cầm bút. Trước đó, các nhà văn này đã có tác phẩm đăng rải rác trên các tạp chí, các báo trên cả nước. Thậm chí có nhiều người đã xuất bản tác phẩm in chung và riêng đồng thời cũng đã đạt được một số thành công nhất định. Tuy nhiên, nói một cách chính xác, với đội ngũ cầm bút này thì đến giai đoạn này họ mới thực sự phát tiết hết tài năng sáng tác văn chương của mình. Tác phẩm ra đời thường xuyên hơn, gây được nhiều tiếng vang hơn, được khẳng định tên tuổi qua nhiều giải thưởng danh giá hơn.

Như vậy có thể nói, nhìn vào diện mạo văn học Thừa Thiên Huế chặng này người ta có thể thấy xuất hiện đầy đủ các thể loại với độ kết tinh khá cao. Về thơ, bạn đọc cả nước đã biết tên tuổi của Lâm Thị Mỹ Dạ, Hải Bằng, Nguyễn Khắc Thạch, Ngô Minh, Lê Thị Mây, Vĩnh Nguyên, Hồ Thế Hà, Nguyễn Thiền Nghi, Nguyên Quân, Nguyễn Văn Phương, Ngàn Thương, Đỗ Văn Khoái… Tuy không chú ý cách tân về mặt nghệ thuật nhưng các nhà thơ đã giới thiệu cho bạn bè cả nước biết được chất thơ riêng của đất kinh đô một thuở vẫn còn hằn in trong tính cách Huế. Về văn xuôi, ở mảng tiểu thuyết chúng ta có Nguyễn Quang Hà, Nguyễn Khắc Phê, Tô Nhuận Vỹ, Hà Khánh Linh, Phạm Ngọc Túy… đã xông xáo vào những lĩnh vực khó của các đề tài trong cuộc sống của con người xã hội chủ nghĩa mới, giúp người đọc hình dung về một đất Huế đài các thơ mộng nhưng anh dũng kiên cường trong chiến đấu cũng như sản xuất. Mảng truyện ngắn có thể kể đến tên tuổi Trần Thùy Mai. Với chất giọng đặc trưng riêng của Huế, chị đã đưa Huế đi khắp mọi miền trong những trang viết để bè bạn cả nước và khắp năm châu hình dung được những nét yêu kiều của mảnh đất cố đô nhưng tươi mới của đời sống hiện đại. Về mảng ký, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn tiếp tục gánh vác sứ mệnh của mình. Bên cạnh đó có những tên tuổi mới khiến người đọc chú ý đó là Xuân Hoàng và Văn Cầm Hải. Sử dụng giọng điệu của tùy bút để vẽ nên kinh thành Huế là một trong những thành công của Xuân Hoàng. Trong khi đó, Văn Cầm Hải với 1 tập thơ cùng 2 tập ký được sáng tác trong thời kỳ anh sống và làm việc tại Huế, đã vượt qua biên giới của không gian vật lý để đưa thơ và cả thể ký ra đến với bạn đọc cả nước, góp phần tạo nên một dấu ấn văn học Huế trên bản đồ văn học đương đại Việt Nam.

Nhìn chung, bắt đầu từ cột mốc 1989 - 2000, một loạt những nhà văn đã từng xuất hiện trước đây giờ đã khẳng định tên tuổi của mình, làm nên một diện mạo văn học Thừa Thiên Huế trong quãng thời gian đó.

Chặng thứ hai, từ 2000 - nay

Cũng như chặng thứ nhất, ở chặng thứ hai này, lực lượng sáng tác kỳ thực cũng đã bắt đầu cầm bút từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Phần lớn, họ là những người đã từng sáng tác trong quãng thời gian khá xa trước đó, phần còn lại bắt đầu cầm bút từ những câu lạc bộ sáng tác của các tổ chức đoàn hội thanh niên như câu lạc bộ văn học Nhà văn hóa thành phố hoặc của các tờ tạp chí dành cho lứa tuổi mới lớn trong cả nước lúc bấy giờ như Mực Tím, Hoa Học Trò, Áo Trắng… Tuy nhiên, từ việc yêu thích văn chương và tập tành cầm bút đến việc lựa chọn trở thành nhà văn là cả một quá trình. Nên ở đây tôi chọn cột mốc 2000 nhằm lọc được một đội ngũ cầm bút thực sự với độ tinh lắng cao.

Nhìn một cách khái quát, những người viết trong chặng đường này đa số tuổi đời còn khá trẻ. Phần lớn là những người được lớn lên và trưởng thành sau thời kỳ hậu chiến nên cái nhìn về cuộc sống đã bắt đầu thoát ra khỏi những mất mát đau thương của chiến tranh. Tác phẩm của họ thường đề cập đến những vấn đề của cuộc sống đương đại. Không còn ám ảnh day dứt những vấn đề của cuộc chiến, họ tập trung vào việc phản ánh sự chuyển biến của đời sống tâm lý con người trong cuộc sống đời thường.

Về thơ, chặng này người đọc đã bắt gặp những tên tuổi quen thuộc từ thời áo trắng đến với tư cách là một người cầm bút thực sự. Có thể kể đến như Phạm Nguyên Tường, Lê Tấn Quỳnh, Đông Hà, Hải Trung, Hạ Nguyên, Lê Vĩnh Thái, Nguyễn Lãm Thắng, Nguyễn Tuất, Châu Thu Hà, Lưu Ly, Bạch Diệp, Nguyễn Hoàng Anh Thư… Những đề tài xoáy sâu vào nỗi đau, tình yêu và thân phận hay thế sự đời thường đều được các nhà thơ đưa vào thơ như một nhu cầu tự thân tất yếu. Con mắt thơ Huế chặng này không chỉ đơn thuần khai thác vẻ đẹp trầm tích cổ kính muôn đời của Huế nữa mà gồ ghề trần trụi hơn. Thơ Huế thực sự đã thoát ra vẻ êm đềm như nó vốn có trước kia. Các nhà thơ trẻ Huế đã từng được ghi nhận trong các cuộc thi thơ được tổ chức hằng năm hoặc định kỳ ở các tờ báo, tạp chí.

Về văn xuôi, bên cạnh những tên tuổi ngày càng khẳng định một cách chắc chắn như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hồng Nhu, Nguyễn Quang Hà, Nguyễn Khắc Phê, Tô Nhuận Vỹ, Hà Khánh Linh, Trần Thùy Mai… một lực lượng viết trẻ xuất hiện khá đậm nét. Đó là Nhụy Nguyên, Lê Minh Phong, Lê Vũ Trường Giang… Những tác giả này xuất hiện khá đều đặn trên các tạp chí, tờ báo văn nghệ tên tuổi như Văn Nghệ, tạp chí Văn nghệ quân đội, Sông Hương và được người đọc đánh giá cao với nhiều giải thưởng ghi nhận.

Nếu thơ xuất hiện nhiều trong bức tranh văn nghệ của văn học Thừa Thiên Huế thì văn xuôi cũng đang bước đi những bước chậm rãi mà đầy chắc chắn. Nói như vậy bởi vì khi nhìn vào lực lượng sáng tác trẻ ở Thừa Thiên Huế hiện nay, tôi nhận thấy hầu hết các nhà thơ đều đang công tác ở các lĩnh vực khác nhau ít dính dáng đến văn chương chữ nghĩa thì hầu hết các nhà văn đều đang tập trung vào lĩnh vực công việc gần với nghề sáng tác của mình. Đó là một ưu thế để họ có thể thuận lợi hơn khi tập trung thời gian vào việc đầu tư cho tác phẩm.

Có thể nói, với một vùng đất giàu truyền thống thi ca nhạc họa, văn học Thừa Thiên Huế mỗi thời đại đều đã và đang khẳng định tên tuổi của mình trên văn đàn cả nước. Mỗi thế hệ có một vai trò lịch sử khác nhau, thế hệ các nhà văn nhà thơ đi trước đã hoàn thành sứ mệnh với bức tranh văn học tỉnh nhà. Thế hệ tiếp theo bây giờ vẫn đang nỗ lực để đi tiếp con đường đang có và khai phá thêm những cung đường mới mẻ như một khám phá kỳ thú trên hành trình của nghệ thuật. Với tính cách trầm tĩnh của con người cố đô, tôi nghĩ rằng sẽ đến một lúc nào đó, văn học Thừa Thiên Huế bật khởi đột ngột như một bất ngờ chứ không ầm ĩ khua khoắng như một số cách thể hiện của các nhà văn vùng miền khác hiện nay đang làm.

Đ.H  
(SHSDB33/06-2019)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHẠM THỊ CÚC  

    Chú tên là Đô, người làng Thanh Thủy, nhưng không phải làng Thanh Thủy Chánh có Cầu Ngói, mà là Thanh Thủy Thượng, bây giờ gọi là Thủy Dương, cùng quê với nhà thơ Phùng Quán. Chú không phải là nhà thơ nên ngất ngưỡng kiểu khác, đặc biệt hơn.

  • NGÔ THỊ Ý NHI

    Ở Huế, có những buổi sáng cứ thích nằm nghe tiếng con nít rủ nhau đến trường ríu rít như chim. Bình yên đến lạ! Thành phố nhỏ bé, nhịp sống không vội vàng, những con đường hiền lành, êm ả trẻ con dễ dàng đi bộ.

  • Kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2019) và 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2019)

    PHẠM THUẬN THÀNH

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂN

    Năm Nhâm Tý (1672), chúa Trịnh xua 180 ngàn quân vào Nam, có ý vượt sông Gianh đánh chúa Nguyễn. Trấn thủ Bố Chính là Nguyễn Triều Văn hoảng sợ chạy vô Kim Long cấp báo với Hiền Vương (tức chúa Nguyễn Phúc Tần).

  • BÙI KIM CHI   

    Ngày xưa, cách đây 60 năm, ở đường Duy Tân Huế từ cầu Trường Tiền đi xuống, qua khỏi Morin (cũ), đi một đoạn, có một địa điểm mang cái tên nghe là lạ Ngọ Phạn Điếm. Càng lạ và đặc biệt hơn nữa, Ngọ Phạn Điếm chỉ đón khách vào ăn một bữa trưa (demi-pension) trong ngày là học sinh của Trường Nữ Trung học Đồng Khánh Huế mà thôi.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG 
                       Bút ký 

    KỶ NIỆM 20 NĂM CƠN LŨ LỊCH SỬ 1999

  • NGUYỄN DƯ  

    Ngày xưa thi đỗ tiến sĩ… sướng lắm!
    Nghe đồn như vậy. Ít ra cũng được vua biết mặt chúa biết tên. Được cả làng, cả tổng đón rước về tận nhà. Chữ nghĩa gọi là rước tiến sĩ vinh quy bái tổ.

  • PHI TÂN  

    Hồi trước, khi làng xã tôi còn đoàn đội tập thể hay hợp tác xã sản xuất nông nghiệp thì đàn trâu ở làng cũng của hợp tác luôn. Trâu được các hộ xã viên nhận về nuôi để ăn chia công điểm. Nhà mô có nuôi trâu thì con cháu trong nhà phải nghỉ học sớm để chăn trâu hàng ngày.

  • HOÀNG THỊ NHƯ HUY   

    Ngày thơ ấu tôi đã bao lần ngủ ngon giấc trong lời ầu ơ của mẹ:

  • Kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2019) và 50 năm Ngày mất của Người (02/09)

    HỒ NGỌC DIỆP

  • Kỷ Niệm 72 Năm Ngày Thương Binh - Liệt Sĩ (27/7/1947 - 27/7/2019) 

    PHẠM HỮU THU

  • DƯƠNG PHƯỚC THU    

    Nhà thơ, nhà cách mạng Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4 tháng 10 năm 1920 tại làng Hội An, nơi xưa kia thường gọi là Faifô (vì làng này ở gần cửa Đại An nên quen gọi Hải Phố mà ra thế) nay Hội An đã lên cấp là thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam; quê nội Nguyễn Kim Thành ở làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

  • NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

    Dáng thế của đồi Hà Khê như một con linh thú vừa tách khỏi đất mẹ, rời tổ uống mấy ngụm nước bên bờ dòng Linh Giang. Quay đầu hướng về quê mẹ, đất tổ Trường Sơn như một lời từ biệt, lòng rộn buồn vui. Một nhát gươm chí mạng của thuật sĩ Cao Biền, thân thú mang nặng vết thương vẫn còn hằn sâu ở chân đồi.


  • ELENA PUCILLO TRUONG  

    (Viết cho những người bạn cầm phấn)

  • Kỷ niệm Ngày báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6  

    NGUYỄN XUÂN HẢI

  • NGUYỄN ĐỨC HÙNG   

    Một chiều cuối năm 2018, tôi nhận được tấm thiệp mời nhân dịp Lễ mừng tuổi chín mươi của nhà giáo Trần Thân Mỹ và kỷ niệm 65 năm ngày cưới của ông bà Trần Thân Mỹ và Dương Thị Kim Lan. Nếu tính từ mốc tôi được ông đặt bút ký vào hồ sơ chuyển ngành từ Quân đội về làm việc tại Phòng Văn hóa Thông tin (VHTT) thành phố Huế là tròn 35 năm, trong đó có 7 năm (1983 - 1990) tôi được làm việc trực tiếp với ông trước khi ông nghỉ hưu. Ông là vị thủ trưởng khả kính đầu tiên của tôi, là người đã giáo dục, đào tạo và có ảnh hưởng rất lớn đối với tôi.

  • VŨ SỰ

    Ngày xưa, chuyện “chồng già vợ trẻ” cũng là chuyện thường tình. Xứ Huế đầu thế kỷ 20, cũng có những chuyện thường tình như thế. Nhưng trong những chuyện  thường  tình ấy, cũng có vài chuyện “không thường tình”, ngẫm lại cũng vui.