Văn hoá Huế - một năng lực mới đang chuyển động

17:02 11/01/2010
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.

Những giá trị văn hoá truyền thống được đánh thức dậy không những bằng cố gắng liên tục của các nhà hoạt động văn hoá ở Thừa Thiên Huế và Việt Nam, của cộng đồng cư dân xứ Huế, của các cơ quan quản lý và nhà chức trách địa phương, mà vượt qua ranh giới quốc gia, nhiều chuyên viên của Unesco và quốc tế, kể cả nguyên Tổng Giám đốc Unesco - ông Amadoumahta Mbow - cũng đã đến Huế (tháng 11-1981) để đặt bàn tay lên lớp bụi của thời gian, soi lại những trang lịch sử Huế, nhặt lấy những mẩu vàng son của quá khứ và long trọng phát đi lời kêu gọi thống thiết “Huế phải được cứu vãn cho Việt Nam mà Huế là một cao điểm, ở đó thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc. Huế phải được cứu vãn cho thế giới vì Huế cũng là một bộ phận cấu thành của di sản văn hoá nhân loại”.

Những khám phá trở lại về văn hoá Huế đã kết nối được những mảnh rời tưởng chừng bị vỡ nát của quá khứ để dựng lại cả một gia tài di sản văn hoá Huế, bao gồm cả hệ thống di sản văn hoá vật thể với yếu tố nổi bật là di tích Cố đô Huế, di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh và các danh nhân lịch sử văn hoá ở Huế, gắn kết với hệ thống di sản văn hoá phi vật thể phong phú, đa dạng với các loại hình nghệ thuật diễn xướng cung đình và bác học, nghệ thuật trang trí và mỹ thuật, lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, nền nếp ứng xử văn hoá, văn nghệ dân gian, ngành nghề truyền thống … được nuôi dưỡng, gìn giữ và phát triển trong một mảng nền đặc trưng của con người và cảnh quan thiên nhiên xứ Huế.

Sự nhận diện về văn hoá đã khẳng định Thừa Thiên Huế là một vùng văn hoá độc đáo, giàu bản sắc dân tộc của Việt Nam. Hệ thống di tích lịch sử, văn hoá Huế là kho sử liệu vật chất quý báu về lịch sử cận đại của Việt Nam. Cố đô Huế là một bài thơ đô thị, là mạch nguồn nuôi dưỡng cho các hoạt động sáng tạo nghệ thuật, để Huế trở thành một trung tâm về thi ca, âm nhạc, mỹ thuật, kiến trúc, là một vùng folklore đặc sắc, gắn kết được các yếu tố dân gian - bác học - cung đình, gắn kết đạo với đời, truyền thống và hiện đại theo tinh thần phương Đông.

Có thể nói dù những lớp bụi thời gian, cộng với sự rẻ rúng của những kẻ “vô tri bất mộ” có làm mờ đi một phần diện mạo của văn hoá Huế, thậm chí làm méo mó, biến dạng ở một vài góc cạnh, nhưng nhìn toàn diện, và trong sâu thẳm của vùng đất này, Huế vẫn đang giữ được những trạng thái tinh thần có tính đặc trưng của Việt Nam, của văn minh đô thị truyền thống Việt Nam một thời.

Sinh lực văn hoá Huế được đánh thức dậy đã nhanh chóng tạo ra một động lực mới, thúc đẩy sự chuyển hóa và góp phần củng cố vị thế trung tâm văn hoá - du lịch của Thừa Thiên Huế, kéo vùng đất này thoát ra khỏi ao tù ngưng đọng và từng bước chuyển mình, hội nhập vào đời sống của xã hội hiện đại.

Sau sự kiện tháng 12/1993, khi di tích Cố đô Huế được Unesco long trọng “đăng quang” ghi tên vào danh mục di sản văn hoá thế giới, công nhận giá trị toàn cầu đặc biệt của khu kiến trúc kinh đô Huế, một làn gió mới đã lay động đời sống văn hoá ở Thừa Thiên Huế.

Rất nhiều nỗ lực được tập trung để dồn sức giữ gìn, tu bổ và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế. Nhiều công trình kiến trúc lớn (như Ngọ Môn, Điện Thái Hòa, Thái Bình Lâu, Hiển Lâm Các, Thế Miếu, Hưng Miếu, Duyệt Thị Đường, cung Diên Thọ ở Đại Nội, điện Minh Thành lăng Gia Long, Minh Lâu lăng Minh Mạng, điện Bửu Đức lăng Thiệu Trị, điện Hòa Khiêm, Minh Khiêm Đường, Xung Khiêm Tạ lăng Tự Đức, điện Long Ân lăng Dục Đức, Thiên Định cung lăng Khải Định, điện Long An, Văn Thánh) đang từng bước khôi phục lại diện mạo vàng son một thời. Cảnh quan thiên nhiên và môi trường di tích được chấn chỉnh. Một dự án lớn về quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Huế từ 1996 đến 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với tổng kinh phí dự kiến 720 tỷ đồng, mở ra một triển vọng tốt đẹp cho công cuộc trùng tu di tích.

Di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh thời trai trẻ ở Thừa Thiên Huế, những ngôi nhà Người đã ở với gia đình, trường Quốc Học, địa điểm tòa Khâm sứ Pháp tại Huế, những nơi đã để lại dấu ấn sâu đậm, góp phần hình thành nhân cách và tư tưởng yêu nước của người học sinh Nguyễn Tất Thành, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đang được bảo tồn gìn giữ. Công trình Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Thừa Thiên Huế được khởi công xây dựng mới, dự kiến hoàn thành năm 2000, sẽ là nơi giới thiệu có hệ thống về 10 năm Bác Hồ ở Thừa Thiên Huế, về Thừa Thiên Huế với Bác Hồ, Bác Hồ với Thừa Thiên Huế. Một loạt các di tích lưu niệm về các danh nhân Trần Văn Kỷ, Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Thuyết, Đặng Huy Trứ, Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Bội Châu, Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Chí Thanh…, các di tích lịch sử cách mạng, di tích nghệ thuật kiến trúc đang được quan tâm gìn giữ. Một cuộc tổng kiểm kê về di tích ở Thừa Thiên Huế với quy mô trên 900 địa điểm di tích đã được khảo sát, lên danh mục và đề xuất phương án bảo vệ, phát huy.

Văn hoá phi vật thể đa dạng của vùng Cố đô, từ các loại hình văn hoá cung đình (múa hát cung đình, lễ nhạc cung đình, thơ văn của các vua chúa, mỹ thuật cung đình, tuồng ngự, món ăn ngự thiện…), văn hoá bác học (ca nhạc Huế), văn hoá tôn giáo (lễ nhạc Phật giáo, tranh tượng thờ, múa hát chầu văn) đến văn hoá, văn nghệ dân gian, phong tục tập quán, lối sống và ứng xử văn hoá, ngành nghề truyền thống… được sưu tầm, nghiên cứu, khôi phục và phát huy khá tốt, trở thành những sản phẩm văn hoá độc đáo làm giàu thêm bản sắc văn hoá dân tộc, phục vụ du lịch và mở rộng giao lưu văn hoá với khu vực và thế giới.

Múa hát cung đình Huế đã đi biểu diễn nhiều lần ở Nhật. Lễ nhạc cung đình Huế (cả Đại nhạc và Nhã nhạc) đã sang Nhật và Hàn Quốc giao lưu với Nhã nhạc Á Đông. Ca nhạc Huế đã cử các đoàn nghệ sĩ tiêu biểu sang trình diễn tại các nước Pháp, Hoa Kỳ, Nhật, Đài Loan, Hồng Kông. Lễ nhạc Phật giáo xứ Huế đã 2 lần dự Liên hoan âm nhạc tôn giáo tại Pháp. Diều Huế đã liên tục tham gia liên hoan diều quốc tế. Những loại hình lễ hội hoa đăng trên sông Hương, lễ điện Hòn Chén, vật làng Sình, lễ hội cầu ngư… trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng truyền thống. Xem trình tấu lễ nhạc cung đình, múa cung đình, nghe ca Huế trên sông Hương đã trở thành những thú vui thanh nhã ở Huế.

Hệ thống các thiết chế văn hoá thông tin: trường Đại học Nghệ thuật Huế, trường Văn hoá Nghệ thuật tỉnh, Thư viện Tổng hợp, Trung tâm Bảo tàng Di tích Cố đô và các Bảo tàng, Nhà Văn hoá, các đoàn nghệ thuật, các doanh nghiệp phát hành sách và dịch vụ văn hoá, điện ảnh và băng hình, cùng với các cơ quan xuất bản báo chí, phát thanh, truyền hình của trung ương và của tỉnh, hệ thống Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh (với bảy phân hội văn học, mỹ thuật, nhiếp ảnh, âm nhạc, sân khấu, văn nghệ dân gian, kiến trúc), Hội Nhà báo tỉnh, các Nhà Văn hoá Thiếu Nhi Huế, Nhà Văn hoá Thanh niên Huế, Nhà Văn hoá Hữu Nghị, Trung tâm Văn hoá Thể thao và Hướng nghiệp Thanh Thiếu niên Thừa Thiên Huế, Nhà trưng bày điêu khắc Điềm Phùng Thị, các Gallery và trên 1000 điểm dịch vụ văn hoá của tư nhân đã hợp thành một mạng lưới hoạt động văn hoá nghệ thuật, thông tin tuyên truyền đa dạng và phong phú, sinh động, hình thành một cấu trúc văn hoá có nét riêng của vùng đất cố đô, đậm màu sắc văn hoá truyền thống mà vẫn sôi động, có khả năng hòa nhập với đời sống văn hoá hiện đại.

Một năng lực mới đang chuyển động, theo hướng vừa tích hợp những bản sắc dân tộc đậm đà, vừa vươn tới những giá trị tiên tiến, góp phần làm giàu thêm cho bản sắc văn hoá Việt Nam đang từng bước rõ dần ở Thừa Thiên Huế. Bằng những chính sách và bước đi thích hợp, chắc chắn nguồn lực văn hoá ở Thừa Thiên Huế sẽ chuyển hóa thành một động lực mới, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng vị thế Thừa Thiên Huế ngày càng trở thành và khẳng định một trung tâm văn hoá du lịch quan trọng của Việt Nam, chuyển mình tiến vào thế kỷ XXI.

NGUYỄN XUÂN HOA
(119/01-99)






Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.

  • Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "

  • Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.