Văn bia triều Tây Sơn quý giá trên đất Huế: Bài minh văn trên mộ Vũ huân tướng quân Lê Viết Sinh

09:41 30/07/2021


VÕ VINH QUANG

Văn bia chép bài minh văn trên mộ ông Lê Viết Sinh, bản bôi bột chụp

1. Lời dẫn

Văn khắc Hán Nôm liên quan đến triều Tây Sơn hiện hữu trên đất Huế cho đến nay là khá hiếm xuất hiện. Nhiều năm tìm hiểu, ngoại trừ văn bản giấy (như sắc phong, gia phả, văn khế…) còn tương đối nhiều ở các gia tộc, làng xã, thì các thể thức văn bia Hán Nôm triều Tây Sơn có trong thực tế chỉ đếm trên đầu ngón tay. Có thể do nhiều biến động về thiên tai, thời cuộc, chiến tranh… mấy thế kỷ qua đã làm hư hỏng, mất mát khá nhiều tư liệu. Vì thế, việc phát hiện tư liệu liên quan đến triều đại Tây Sơn trong thực địa, chúng tôi nghĩ sẽ giúp bổ khuyết thêm cho quá trình tìm hiểu, nhận thức về lịch sử, văn hóa, văn học nghệ thuật… của vương triều này.

Vừa qua, khoảng tháng 08 năm 2020, nhờ nhân duyên hội tụ, chúng tôi đã kết nối với ông Lê Viết Bằng (người gốc làng Nguyệt Biều, phường Thủy Biều, thành phố Huế), được ông đưa đến viếng thăm ngôi mộ của cụ tổ - Vũ Huân tướng quân Hộ quân Thị nội Trung Tượng cơ Chưởng cơ Lê Viết Sinh, một bậc danh thần (bề tôi danh tiếng) triều Tây Sơn, người họ Lê Viết làng Nguyệt Biều. Đây là ngôi mộ được an táng nguyên gốc chưa bao giờ di dời (theo hậu duệ họ Lê Viết khẳng định), hiện tọa lạc tại một khu vườn trồng bưởi, nằm cuối đường Bùi Thị Xuân giáp giới đường Lương Quán. Ngôi mộ mới được con cháu trùng tu, chỉnh sửa và lát đá nền rất khang trang năm 2017, trong đó giữ nguyên nấm mộ và tấm văn bia mộ.

Sau khi tìm hiểu, chúng tôi tiến hành xử lý và in rập thác bản để vừa nhìn rõ thêm được chữ lại vừa sao bản được bản rập di vật quý nhằm bảo quản lâu dài. Tiếp đó chúng tôi khảo sát thêm các tư liệu gia phả, văn bản giấy tờ hiện có ở nhà thờ Lê Viết tại làng Nguyệt Biều, để dịch thuật và khảo cứu văn bản.

Thấy rằng đây là tư liệu rất quý giá, hỗ trợ thêm cho nguồn tư liệu văn bia Hán Nôm thực tế hiện tồn của triều Tây Sơn (vốn hiếm thấy tại cố đô Huế), chúng tôi xin công bố bản văn bia này, cùng một vài nhận định khái lược.

2. Nội dung bản văn bia trên mộ Vũ Huân tướng quân Lê Viết Sinh

Văn bia mộ của Vũ Huân tướng quân, Chưởng cơ Lê Viết Sinh có kích cỡ dài: 120cm x rộng: 65cm, được khắc trên loại đá sa thạch với diềm hoa văn đao lửa, hoa dây cách điệu và đài sen cách điệu… đặt trên nền một tấm đá núi (thường gọi là đá gan gà) đặc trưng thời Tiền Nguyễn. Chữ Hán trên văn bia là thể chữ khải (chữ chân), ghi chép bài minh văn (một dạng của thể thức lụy1) thể tứ ngôn (4 chữ) ngắn gọn, súc tích với chữ “Nam cố” 南故 đặc trưng cho triều Tây Sơn kết hợp với dòng “Vũ Huân tướng quân Hộ quân Thị nội Trung Tượng cơ Chưởng cơ Đương Nhậm hầu Lê Quý công” 武勳將軍護軍侍內中象奇掌 奇當任侯黎貴公gợi mở thêm thông tin về chức vụ của vị quan Chưởng cơ Lê Viết Sinh ở cơ Trung Tượng, là viên tướng Hộ quân Thị nội2 (hầu cận bên vua, bảo vệ cung điện của hoàng đế). Các thông tin này đều rất hữu ích và chứa đựng nhiều giá trị góp phần bổ khuyết thêm cho tiến trình tìm hiểu về quân đội thời Tây Sơn. Dưới đây là bản Hán văn, phiên âm, dịch  nghĩa bài minh văn này.

Thác bản văn bia chép bài minh văn trên mộ ông Lê Viết Sinh
Ảnh + bản dập (thác bản): Võ Vinh Quang


Hán văn:

南故

武勳將軍護軍侍內中象奇掌奇當任侯黎貴

特贈 銘曰:
雲致龍興。風從虎嘯。
惟王爪牙。在帝左右。
七伐比矛。四征橫槊。
榮將並疇。象功居表。
烈火真金。疾風勁草。
生有顯名。死有顯號。
黃鶴久飛。白雲旌吊。
悠悠哀哉。勒銘永照。
歲次己貴仲夏月穀日。孤子黎嗹 [奉立] 3

Phiên âm:

NAM CỐ

Vũ Huân tướng quân Hộ quân Thị Nội Trung Tượng cơ Chưởng cơ Đương Nhậm hầu Lê quý công. Đặc tặng Minh viết:

Vân trí long hưng; Phong tòng hổ khiếu4.
Duy vương trảo nha
5; Tại đế tả hữu6.
Thất phạt tỉ mâu; Tứ chinh hoành sáo
7.
Vinh tướng tịnh trù; Tượng công cư biểu.
Liệt hỏa chân kim; Tật phong kính thảo
8.
Sinh hữu hiển danh; Tử hữu hiển hiệu.
Hoàng hạc cửu phi; Bạch vân tinh điếu
9.
Du du ai tai; lặc minh vĩnh chiếu.


Tuế thứ Kỷ Quý trọng hạ nguyệt cốc nhật. Cô tử Lê Liến [phụng lập]

Tấm bia minh Nam cố và ngôi mộ ông Lê Viết Sinh
Ngôi mộ hình búp sen gốc của ông Lê Viết Sinh


Dịch nghĩa:

NAM CỐ (người quá cố nước Nam)10

[MỘ] NGÀI LÊ QUÝ CÔNG11 [chức] VÕ HUÂN TƯỚNG QUÂN, HỘ QUÂN THỊ NỘI, TRUNG TƯỢNG CƠ CHƯỞNG CƠ, [tước] ĐƯƠNG NHẬM HẦU

Đặc biệt ban tặng bài minh rằng:

[Dịch suông]

Mây nhờ rồng quẫy; Gió nhờ cọp gầm
Ấy kẻ nanh vuốt (dũng sĩ) của Vương; là bề tôi thân tín của Đế12
Cầm gươm giáo tung hoành chinh phạt khắp bốn phương tám hướng;
Là Tướng vẻ vang, trù tính nơi màn trướng; công lao về Tượng binh tỏ rõ.
Lửa cháy dữ mới thấu hiểu vàng ròng, Gió thổi mạnh mới hay cỏ cứng.
Sống thì tên tuổi hiển hách; mất thì danh hiệu rỡ ràng.
[Người tiên] cưỡi hạc vàng bay mất đã lâu; Mây trắng cầm cờ tinh
[khen thưởng tuyên dương công trạng] đến điếu/viếng.
Dằng dặc ôi thôi; Viết lời minh [vào đá] mãi mãi soi sáng [công đức]

Dịch thơ (vần điệu):

MINH RẰNG

Mây tỏa cậy rồng; Gió tung nhờ hổ.
Vương thuở vuốt nanh; Đế khi phò trợ.
Tám hướng đao vung; Bốn phương giáo múa.
Dũng tướng liệu trù; Tượng công bày rõ.
Thử lửa thật vàng; Gió bay vững cỏ.
Sống đã tiếng tăm; Mất thời danh rỡ.
Bay mãi hạc vàng; Điếu tinh mây chở.
Dằng dặc than ôi; Minh văn ngời tỏ.


Ngày lành tháng trọng hạ [tháng 5 âm lịch] năm Kỷ Quý [1799].
Con mồ côi là Lê Liến/Liễn [kính lập]

Nhà thờ họ Lê Viết, làng Nguyệt Biều


3. Khái quát về nội hàm ý nghĩa và giá trị của văn bản minh văn

Bài minh văn được viết theo thể “lụy”, là lời phúng viếng, dùng để ca ngợi công đức người chết (hay văn tế, điếu văn) hoặc dùng để ca tụng và truy phong chức tước cho người chết. Mặc dù toàn bộ bài minh rất ngắn gọn, chỉ 16 câu (mỗi câu 4 chữ), nhưng ý nghĩa nội hàm của văn bản thì khá sâu sắc. Bài minh ghi “đặc tặng” (đặc biệt ban tặng) song không ghi người ban tặng, mà chỉ cho biết người lập bia minh này là con trai Lê Liến (Liễn) của ông Lê Viết Sinh. Căn cứ vào toàn bộ nội dung bài minh văn, chúng tôi cho rằng đây là bài văn điếu do văn thần (có thể do các vị quan ở viện Hàn Lâm, hoặc Nội các triều Tây Sơn thay mặt vua triều Tây Sơn biên soạn để phúng điếu).

Cách ghi năm lập bia dạng phiếm chỉ “Kỷ Quý” 己貴 của bài minh văn cũng gợi mở nhiều điều. Đối chiếu với tư liệu hiện tồn về triều Tây Sơn và đầu triều Nguyễn, chúng tôi thấy cách viết phiếm chỉ (có can, để ẩn chi) xuất hiện khá phổ biến vào khoảng cuối triều Tây Sơn, đầu triều Nguyễn của hoàng đế Gia Long, như Kỷ Quý 己貴 ở đây, Ất Quý 乙貴, Canh Quý 庚貴 ở một số tư liệu làng xã, địa bạ... Cách ghi phiếm chỉ năm can chi, theo chúng tôi là cách dùng có ngụ ý sâu xa, đó là phương pháp tránh chỉ năm cụ thể (kết hợp với đó là không ghi niên hiệu đời vua) để nếu thời cuộc thay đổi thì ngôi mộ và tấm bia sẽ ít bị xem xét và phá hoại khi triều đại mới, đối nghịch đã thiết đặt được giang sơn.

Với triều đại Tây Sơn, ở Phú Xuân - Huế là triều vua Quang Trung (ở ngôi: 1788 - 1792) và triều vua Quang Toản (ở ngôi: 1793 - 1802)) có 3 năm xuất hiện Can KỶ gồm: Kỷ Hợi [1779], Kỷ Dậu [1789] và Kỷ Mùi [1799]. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung bài minh với câuDuy vương trảo nha, tại đế tả hữu (là bậc trọng thần như “móng vuốt” của vương, phò giá thân cận ở hai bên trái - phải của Đế) ta có thể ước đoán ngài Lê Viết Sinh mất sau khi vua Quang Trung xưng Hoàng đế cuối năm Mậu Thân (1788), tức có thể loại bỏ năm Kỷ Hợi [1779].

Bia mộ Thị Nội Chưởng cơ Đinh hầu (ghi rõ năm Đinh Dậu 1789)


Tiếp đó, căn cứ vào văn bia mộ vị Thị Nội Chưởng cơ Đinh hầu của triều Tây Sơn, lập vào ngày tốt tháng 8 năm Kỷ Dậu [1789] tại khu đồi Dương Xuân Thượng, thì năm Kỷ Dậu [1789] sẽ được viết rõ, chứ không ghi kiểu viết năm Can [Kỷ 己] mà ẩn giấu năm Chi [Quý 貴] như bia mộ ông Lê Viết Sinh.
 

Thác bản (ký hiệu: 20925, Viện NC. Hán Nôm) bia Nam cố ở mộ Đô đốc Trương quý công, Quảng Nam, dòng niên hiệu bên phải ghi Ất Quý 乙貴

Lại nữa, căn cứ vào thác bản bia mộ Nam Cố của ngài Đô đốc Trương quý công ở Quảng Nam ghi Ất Quý 乙貴, chúng tôi suy luận rằng cách ghi Quý 貴 để ấn giấu năm CHI [thập nhị chi] này xuất hiện sau triều vua Quang Trung (1788 - 1792), tức từ triều Cảnh Thịnh - Bảo Hưng (1793 - 1802) của vua Quang Toản triều Tây Sơn. Theo đó, Ất Quý 乙貴 thực chất là Ất  Mão 乙卯 - Dương lịch: 1795; Kỷ Quý 己 貴 thực chất là Kỷ Mùi 己未 - Dương lịch:  1799 và Canh Quý 庚貴 thực chất là Canh Thân 庚申, Dương lịch: 1800. Như thế, năm Kỷ Quý 己貴 ở văn bia ông Lê Viết Sinh hẳn là năm Kỷ Mùi (1799).

Bài minh văn này dùng nhiều điển tích điển cố súc tích, nhằm để ca tụng công nghiệp và đức hạnh của ông Lê Viết Sinh, một viên quan cao cấp của triều Tây Sơn. Đấy có thể được coi là áng văn thơ sắc sảo, nếu không nói là trác tuyệt, góp phần bổ khuyết thêm nguồn tư liệu cho văn chương triều Tây Sơn, cũng như chứng tỏ trình độ văn học nghệ thuật của triều đại Tây Sơn không hề thấp kém.

Theo gia phả họ Lê Viết (Nguyệt Biều), ông Lê Viết Sinh (? - 1799) là tổ đời thứ 3 của dòng tộc (vị thủy tổ là Tiền Khai canh, Bình Chương quốc sự tặng Chiêu Nghị tướng quân Lê Viết Chất; vị tổ đời thứ 2 là Lê Viết Thọ và  Chưởng cơ Lê Viết Sinh là thế hệ thứ 3). Gia  phả cũng cho biết thêm, vợ ông Sinh là bà Võ  Thị Lành, hai ông bà sinh hạ 5 người con (3 trai  2 gái: gồm con đầu Lê Viết Đại, con thứ Lê Viết  Nở, thứ 3 Lê Viết Liễn, thứ 4 Lê Thị Nọ, và thứ 5 là Lê Thị Cấp. Người đứng tên dựng bia mộ là người con trai thứ 3 - Hoài Viễn tướng quân Kiêu Kỵ úy Lê Viết Liễn).

Từ các thông tin này, chúng tôi cho rằng dòng tộc Lê Viết tại Nguyệt Biều vốn có truyền thống và vài trò quan trọng trong lịch sử xã hội những thế kỷ XVIII - XIX, với những vị trọng thần triều Tây Sơn như Lê Viết Sinh, Lê Viết Liễn… Trong nhiều thế kỷ qua, tộc Lê Viết luôn có ý thức bảo vệ, giữ gìn ngôi mộ của vị tổ thứ 3 - Lê Viết Sinh, nhất là ngôi mộ cổ hình cánh sen nguyên gốc, cùng bản minh văn thể lụy độc đáo và giá trị cao trước mộ ông. Với đặc trưng của một tư liệu quý hiếm triều Tây Sơn như tấm bia minh này, chúng tôi rất mong sẽ được quý cơ quan hữu trách quan tâm và có phương án để phối hợp cùng gia tộc bảo vệ, gìn giữ di vật quý, cùng đó là tìm cách phát huy giá trị, góp phần khẳng định vai trò, vị thế của một vùng đất chứa đựng nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đặc trưng như Cố đô Huế.

Huế, 04/2021
V.V.Q
(TCSH388/06-2021)

------------------------
1. Lụy 誄 (còn đọc âm lỗi): là lời viếng ca ngợi công đức người chết; hay văn tế người chết, điếu văn; hoặc dùng để ca tụng và truy phong chức tước cho người chết.

2. Hộ quân Thị nội 護軍侍內: chức quan hầu cận gần vua, điều khiển quân binh bảo vệ cung điện của Hoàng đế.

3. Chữ Phụng lập [奉立] này do chúng tôi đưa vào và để trong ngoặc vuông […], để giải thích rõ ý hơn.

4. Vân trí long hưng, phong tòng hổ khiếu 雲致龍興; 風從虎嘯: Mây nhờ rồng quẫy; Gió nhờ cọp gầm. Đây là câu  lấy ý từ sách Kinh Dịch 易經, quẻ Càn 乾卦, hào Cửu ngũ 九五: “Vân tòng long, phong tòng hổ, thánh nhân tác nhi vạn vật đổ” 雲從龍, 風從虎, 聖人作而萬物睹 (Mây theo rồng, gió theo cọp, thánh nhân khởi lên mà vạn vật trông vào). Như thế, hàm ý của câu này là chỉ vua tôi hợp hòa như gió mây hội tụ, như rồng - cọp gặp nhau, “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”.

5. Trảo nha 爪牙: nanh vuốt, hàm ý chỉ dũng sĩ thân tín, dũng mãnh như “nanh vuốt” bảo vệ cơ nghiệp đế vương,  bảo vệ triều đình. Chữ này xuất xứ từ sách Kinh Thi 詩經, thiên Tiểu Nhã 小雅 mục Kỳ phủ 祈父 với câu: “Kỳ phủ, dư vương chi trảo nha” 祈父!予,王之爪牙 (Này quan Kì phủ, Chúng tôi là quân dũng mãnh của vua). Nguyễn Trãi (thay Lê Thái Tổ) soạn áng hung văn Bình Ngô đại cáo cũng có câu: “Viên tuyển tỳ hưu chi sĩ, thân mệnh trảo nha chi thần” 爰選貔貅之士,申命爪牙之臣 (Sĩ tốt kén người hùng hổ; Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh - bản dịch Ngô Tất Tố).

6. Tại đế tả hữu 在帝左右: bề tôi thân cận (ở bên trái, bên phải) bên cạnh Hoàng đế. Đây là thành ngữ trích từ sách  Kinh Thi 詩經, thiên Đại Nhã 大雅, mục Văn Vương 文王: “Văn Vương trắc giáng, tại đế tả hữu” 文王陟降, 在 帝左右 (tinh thần của Chu Văn Vương khi lên khi xuống; ở hầu bên cạnh đế vương).

7. Thất phạt tỉ mâu, tứ chinh hoành sáo 七伐比矛; 四征橫槊: Giáo gươm thảo phạt, thương múa bốn phương. (Thất  phạt 七伐và tứ chinh 四征 đều là những thuật ngữ phiếm chỉ việc chinh chiến, thảo phạt khắp nơi, ở bốn phương tám hướng; còn tỉ mâu 比矛 và hoành sáo 橫槊 chỉ các loại binh khí giáo mác, trường thương, phục vụ cho việc chinh chiến ngoài chiến trận).

8. Liệt hỏa chân kim, tật phong kính thảo 烈火真金。疾風勁草: Lửa cháy mạnh tôi luyện vàng ròng; Gió dữ mới  rõ cỏ cứng cáp (Đây là cách nói rút gọn của “Tật phong tri kính thảo, liệt hỏa luyện chân kim”「疾風知勁草, 烈火煉真金(gió dữ mới biết rõ cỏ cứng cáp, lửa mạnh luyện vàng ròng) chúng ta thường nói câu: “lửa thử vàng, gian nan thử sức” là cũng có ý gần gũi với câu này.

9. Hoàng hạc cửu phi, Bạch vân tinh điếu 黃鶴久飛。白雲旌吊: chim hạc vàng đã bay mất từ lâu, mây trắng  cầm cờ tinh đến viếng. Những thuật ngữ “hoàng hạc” (hạc vàng) và “bạch vân” (mây trắng) là hình tượng (biểu tượng) chỉ cho điển tích Tu sĩ Phí Văn Vi đắc đạo thành tiên, cưỡi hạc vàng ngao du sơn thủy. Một hôm, ngài Phí Văn Vi cưỡi hạc đến đậu trên đỉnh Xà Sơn 蛇山 ở Vũ Xương 武昌(thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc) nhìn ngắm phong cảnh nơi đây. Rồi ngài cưỡi hạc bay đi mất. Người đời dựng lầu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc lâu 黃 鶴樓) tại đỉnh Xà Sơn này. Lầu Hoàng Hạc là một trong Tứ đại danh lâu (4 lầu đài nổi tiếng của Trung Quốc) được giới tao nhân mặc khách khắp muôn phương ghé thăm, đề thơ ngoạn cảnh. Trong các thi phẩm nổi tiếng ở lầu Hoàng Hạc, có bài Hoàng Hạc lâu 黄鹤楼 của Thôi Hạo 崔顥 đời Đường, với câu kinh điển “Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản, Bạch vân thiên tải không du du” 黃鶴一去不復返,白雲千載空悠悠 (Hạc vàng bay mất chẳng bao giờ quay lại, mây trắng ngàn năm lửng lờ trên không). Hình tượng “Hoàng hạc cửu phi” 黃鶴久 飛 (Hạc vàng bay đi mất từ lâu) ở đây mang hàm ý để chỉ ngài họ Lê quá cố (Lê Viết Sinh) như bậc tiên ông đã cưỡi hạc vàng bay đi mất.

Chữ Tinh 旌 ở trong câu này có nghĩa là tuyên dương. Ai có đức hạnh đáng khen thì vua cho dựng nhà treo biển để tuyên dương khen ngợi, gọi là Tinh 旌

10. Nam cố 南故 là cách chỉ người quá cố (đã khuất) nước Nam/An Nam/Việt Nam (chỉ triều Tây Sơn, đây là thuật ngữ  để khu biệt, đối lập với “Việt cố” - chỉ người quá cố nước Việt, tức chỉ người theo chúa Nguyễn ở Nam Hà). Thuật ngữ “Nam cố” 南故 này xuất hiện trên các bia mộ của những người thuộc triều đại Tây Sơn, dùng để khu biệt với “Việt cố”, “Hoàng Việt cố”, “Việt Nam cố”, “Đại Nam cố” [các thuật ngữ sau đều dùng để chỉ những người đã khuất là người sống thời Chúa Nguyễn [Việt cố] và các triều vua Nguyễn [Hoàng Việt cố, Việt Nam cố, Đại Nam cố..]…

11. Quý công 貴公: ông có đức hạnh, địa vị cao quý. Đây là cách tôn xưng đối với những người được tôn kính.  

12. Câu này hàm ý rằng: lúc Nguyễn Huệ là Bắc Bình Vương thì ông Lê Viết Sinh là dũng sĩ (trảo nha) ở bên cạnh;  đến khi Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế Quang Trung, thì ông Lê Viết Sinh là bề tôi thân tín.  




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN ĐÌNH BA

    1. Lược sử, ý nghĩa lệ cày ruộng tịch điền
    Trước hết, chúng ta phải khẳng định một sự thật hiển nhiên rằng, Việt Nam là quốc gia nông nghiệp lúa nước, hay nói như lời nhà Nho Phan Kế Bính (1875 - 1921) có đề cập trong Việt Nam phong tục, thì đó là một “Nông quốc”1, quốc gia lấy nông nghiệp làm gốc.

  • CAO THỊ HOÀNG  

    1.
    Mùi bùn non từ cửa sông theo gió chướng lộng về, tôi ngây ngây mùi nhớ! Cái mùi nhớ đôi lúc bâng khuâng và cũng lắm khi, rịt chặt tâm hồn kẻ hậu sinh với tiền nhân thuở trước. Tôi quay lại Huế.

  • ĐỖ MINH ĐIỀN

    Trong số những đối tượng được thờ cúng và được xem là phúc thần của nhiều làng xã vùng Huế, thì Khai canh, Khai khẩn là một thần hiệu ra đời khá muộn. 

  • VĨNH AN

    Sự nhẹ nhàng của tính cách sẽ khiến doanh nghiệp (DN) Huế dễ gần gũi với khách hàng hơn; sự chu đáo trong cuộc sống khiến khách hàng có cảm giác được DN Huế quan tâm hơn; lòng yêu thiên nhiên và nếp sống hòa hợp với thiên nhiên sẽ khiến khách hàng yên tâm về sự phát triển xanh và bền vững hơn của DN Huế… Và đó chính là lợi thế của DN Huế, là đặc tính văn hóa nổi bật của DN Huế.

  • TRUNG SƠN

    I - Lời nhắc nhở của nhà văn Nguyễn Tuân.
    Nhà Văn Nguyễn Tuân là người cẩn thận và độc đáo trong việc dùng chữ nghĩa. Vậy nên nhắc đến "cụ", trước hết phải có đôi lời về cái đầu bài.

  • TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG

    Trong quan niệm của người Việt xưa, chó là con vật trung thành và mang lại nhiều may mắn. Tục thờ chó được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Có nơi thờ chó đá trước cổng như một linh vật với ý nghĩa cầu phúc, trừ tà hoặc đặt chó đá trên bệ thờ và coi như một bậc thần linh.

  • NGUYÊN HƯƠNG

    Từ trung tâm thành phố, chạy thêm 25km về hướng Đông Nam sẽ gặp xã Phú Hải (thuộc huyện Phú Vang) gồm 4 ngôi làng tên Cự Lại: Cự Lại Đông, Cự Lại Bắc, Cự Lại Trung và Cự Lại Nam (dân làng thường gọi chung là Cự Lại). Những ngôi làng này nằm kề sát nhau, có chiều dài khoảng 2km, trải dọc ven biển và phá Tam Giang.

  • TRƯỜNG AN     

    “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
    Mà mưa trắng đất trắng trời…”

  • PHƯỚC VĨNH

    Du lịch dịch vụ đang được xác định là mũi tàu xanh của con thuyền rẽ sóng ra biển lớn của Thừa Thiên Huế. Làm sao để mỗi công dân đang sống ở miền sông Hương núi Ngự, ngay từ nhỏ đã được khơi gợi ý thức về việc tạo nên sản phẩm du lịch và triển khai ý tưởng đó, với một ý thức văn hóa Huế đã ăn sâu trong tiềm thức… 

  • VÕ VINH QUANG

    Tộc Nguyễn Cửu và những dấu ấn quan trọng trong lịch sử văn hóa xứ Thần Kinh

  • NGUYỄN THƯỢNG HIỀN

    Sau đêm binh biến Thất thủ Kinh đô, kinh thành Huế ngập chìm trong máu lửa, tiếng khóc than. Những dãy nhà gỗ, mái tranh chạy dọc hai bên đường Đông Ba đến giáp hoàng cung ngập chìm trong biển lửa. Bọn Tây tay súng, lưỡi lê hàng ngang tha hồ tàn sát quân dân ta.

  • NGUYỄN CAO THÁI

    “Gió đưa cành trúc la đà
    Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương”

  • TRIỀU NGUYÊN

    1. Đặt vấn đề
    Có lẽ không ít lần chúng ta đã nghe nói đến hai dạng thơ Song điệpSong thanh điệp vận của thể thơ Thất ngôn luật Đường, trên thi đàn Việt. Vậy chúng là những kiểu, dạng thơ như thế nào, và quan hệ giữa chúng ra sao?

  • HOÀI VŨ

    * Vài nét về việc du nhập điện ảnh vào Huế
    Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (129) năm 2016 có đăng bài “Vài nét về lịch sử nhiếp ảnh và điện ảnh ở Thừa Thiên Huế” của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa cung cấp nhiều tư liệu rất quý.

  • THẢO QUỲNH

    Quyết Chiến là tờ nhật báo đầu tiên của cách mạng xuất bản ở Huế sau Cách mạng Tháng Tám, là cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân cách mạng, tiếng nói của Đảng bộ Việt Minh Thuận Hóa và của tỉnh Nguyễn Tri Phương (bí danh của tỉnh Thừa Thiên). Mới đây, đọc lại một số báo Quyết Chiến, chúng tôi tìm thấy một số thông tin liên quan đến Ngày Khỏe vì nước đầu tiên của Huế vào giữa năm 1946. Xin trích dẫn lại để bạn đọc tham khảo:

  • Thời gian qua, tỉnh Thừa Thiên Huế đã đẩy mạnh các chương trình trọng điểm để tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh mọi mặt kinh tế - xã hội. Mỗi chương trình trong chuỗi các chương trình lớn, như là một căn nền tạo lực nâng cho tương lai.

  • Kỉ niệm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam

    THANH BIÊN (*)

  • NGUYỄN THÀNH

    Kỷ niệm 60 năm khoa Ngữ Văn Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế (1957 - 2017)

  • NGUYỄN VĂN LÊ NHẬT

    Kiến trúc lăng tẩm Huế có ngôn ngữ riêng biệt và ý nghĩa sâu xa. Chốn âm phần song lại có cả cung đình để nghỉ ngơi, hưởng thụ; có nhà hát để thưởng thức nghệ thuật sân khấu và sắc đẹp giai nhân; nội thất ở các lăng giống như một viện bảo tàng mỹ thuật... Tất cả các lăng mộ đều có điểm giống nhau, là đều có hàng tượng văn võ bá quan, binh lính, voi ngựa (sau đây gọi chung là tượng người và thú).

  • LÊ QUANG THÁI

    Thời hiện đại có cúng tế thì Xuân thu nhị kỳ, chọn một trong hai. Tại đền hoặc miếu Thành hoàng của làng xã mở hội tế vị thần hộ mệnh để cầu mong an cư lạc nghiệp. Hát Sử và Dã sử trong lễ hội long trọng không thể thiếu vắng.