VÕ VINH QUANG
Văn bia chép bài minh văn trên mộ ông Lê Viết Sinh, bản bôi bột chụp
1. Lời dẫn
Văn khắc Hán Nôm liên quan đến triều Tây Sơn hiện hữu trên đất Huế cho đến nay là khá hiếm xuất hiện. Nhiều năm tìm hiểu, ngoại trừ văn bản giấy (như sắc phong, gia phả, văn khế…) còn tương đối nhiều ở các gia tộc, làng xã, thì các thể thức văn bia Hán Nôm triều Tây Sơn có trong thực tế chỉ đếm trên đầu ngón tay. Có thể do nhiều biến động về thiên tai, thời cuộc, chiến tranh… mấy thế kỷ qua đã làm hư hỏng, mất mát khá nhiều tư liệu. Vì thế, việc phát hiện tư liệu liên quan đến triều đại Tây Sơn trong thực địa, chúng tôi nghĩ sẽ giúp bổ khuyết thêm cho quá trình tìm hiểu, nhận thức về lịch sử, văn hóa, văn học nghệ thuật… của vương triều này.
Vừa qua, khoảng tháng 08 năm 2020, nhờ nhân duyên hội tụ, chúng tôi đã kết nối với ông Lê Viết Bằng (người gốc làng Nguyệt Biều, phường Thủy Biều, thành phố Huế), được ông đưa đến viếng thăm ngôi mộ của cụ tổ - Vũ Huân tướng quân Hộ quân Thị nội Trung Tượng cơ Chưởng cơ Lê Viết Sinh, một bậc danh thần (bề tôi danh tiếng) triều Tây Sơn, người họ Lê Viết làng Nguyệt Biều. Đây là ngôi mộ được an táng nguyên gốc chưa bao giờ di dời (theo hậu duệ họ Lê Viết khẳng định), hiện tọa lạc tại một khu vườn trồng bưởi, nằm cuối đường Bùi Thị Xuân giáp giới đường Lương Quán. Ngôi mộ mới được con cháu trùng tu, chỉnh sửa và lát đá nền rất khang trang năm 2017, trong đó giữ nguyên nấm mộ và tấm văn bia mộ.
Sau khi tìm hiểu, chúng tôi tiến hành xử lý và in rập thác bản để vừa nhìn rõ thêm được chữ lại vừa sao bản được bản rập di vật quý nhằm bảo quản lâu dài. Tiếp đó chúng tôi khảo sát thêm các tư liệu gia phả, văn bản giấy tờ hiện có ở nhà thờ Lê Viết tại làng Nguyệt Biều, để dịch thuật và khảo cứu văn bản.
Thấy rằng đây là tư liệu rất quý giá, hỗ trợ thêm cho nguồn tư liệu văn bia Hán Nôm thực tế hiện tồn của triều Tây Sơn (vốn hiếm thấy tại cố đô Huế), chúng tôi xin công bố bản văn bia này, cùng một vài nhận định khái lược.
2. Nội dung bản văn bia trên mộ Vũ Huân tướng quân Lê Viết Sinh
Văn bia mộ của Vũ Huân tướng quân, Chưởng cơ Lê Viết Sinh có kích cỡ dài: 120cm x rộng: 65cm, được khắc trên loại đá sa thạch với diềm hoa văn đao lửa, hoa dây cách điệu và đài sen cách điệu… đặt trên nền một tấm đá núi (thường gọi là đá gan gà) đặc trưng thời Tiền Nguyễn. Chữ Hán trên văn bia là thể chữ khải (chữ chân), ghi chép bài minh văn (một dạng của thể thức lụy 誄1) thể tứ ngôn (4 chữ) ngắn gọn, súc tích với chữ “Nam cố” 南故 đặc trưng cho triều Tây Sơn kết hợp với dòng “Vũ Huân tướng quân Hộ quân Thị nội Trung Tượng cơ Chưởng cơ Đương Nhậm hầu Lê Quý công” 武勳將軍護軍侍內中象奇掌 奇當任侯黎貴公gợi mở thêm thông tin về chức vụ của vị quan Chưởng cơ Lê Viết Sinh ở cơ Trung Tượng, là viên tướng Hộ quân Thị nội2 (hầu cận bên vua, bảo vệ cung điện của hoàng đế). Các thông tin này đều rất hữu ích và chứa đựng nhiều giá trị góp phần bổ khuyết thêm cho tiến trình tìm hiểu về quân đội thời Tây Sơn. Dưới đây là bản Hán văn, phiên âm, dịch nghĩa bài minh văn này.
![]() |
Thác bản văn bia chép bài minh văn trên mộ ông Lê Viết Sinh Ảnh + bản dập (thác bản): Võ Vinh Quang |
Hán văn:
南故
武勳將軍護軍侍內中象奇掌奇當任侯黎貴
公
特贈 銘曰:
雲致龍興。風從虎嘯。
惟王爪牙。在帝左右。
七伐比矛。四征橫槊。
榮將並疇。象功居表。
烈火真金。疾風勁草。
生有顯名。死有顯號。
黃鶴久飛。白雲旌吊。
悠悠哀哉。勒銘永照。
歲次己貴仲夏月穀日。孤子黎嗹 [奉立] 3
Phiên âm:
NAM CỐ
Vũ Huân tướng quân Hộ quân Thị Nội Trung Tượng cơ Chưởng cơ Đương Nhậm hầu Lê quý công. Đặc tặng Minh viết:
Vân trí long hưng; Phong tòng hổ khiếu4.
Duy vương trảo nha5; Tại đế tả hữu6.
Thất phạt tỉ mâu; Tứ chinh hoành sáo7.
Vinh tướng tịnh trù; Tượng công cư biểu.
Liệt hỏa chân kim; Tật phong kính thảo8.
Sinh hữu hiển danh; Tử hữu hiển hiệu.
Hoàng hạc cửu phi; Bạch vân tinh điếu9.
Du du ai tai; lặc minh vĩnh chiếu.
Tuế thứ Kỷ Quý trọng hạ nguyệt cốc nhật. Cô tử Lê Liến [phụng lập]
![]() |
Tấm bia minh Nam cố và ngôi mộ ông Lê Viết Sinh |
![]() |
Ngôi mộ hình búp sen gốc của ông Lê Viết Sinh |
Dịch nghĩa:
NAM CỐ (người quá cố nước Nam)10
[MỘ] NGÀI LÊ QUÝ CÔNG11 [chức] VÕ HUÂN TƯỚNG QUÂN, HỘ QUÂN THỊ NỘI, TRUNG TƯỢNG CƠ CHƯỞNG CƠ, [tước] ĐƯƠNG NHẬM HẦU
Đặc biệt ban tặng bài minh rằng:
[Dịch suông]
Mây nhờ rồng quẫy; Gió nhờ cọp gầm
Ấy kẻ nanh vuốt (dũng sĩ) của Vương; là bề tôi thân tín của Đế12
Cầm gươm giáo tung hoành chinh phạt khắp bốn phương tám hướng;
Là Tướng vẻ vang, trù tính nơi màn trướng; công lao về Tượng binh tỏ rõ.
Lửa cháy dữ mới thấu hiểu vàng ròng, Gió thổi mạnh mới hay cỏ cứng.
Sống thì tên tuổi hiển hách; mất thì danh hiệu rỡ ràng.
[Người tiên] cưỡi hạc vàng bay mất đã lâu; Mây trắng cầm cờ tinh
[khen thưởng tuyên dương công trạng] đến điếu/viếng.
Dằng dặc ôi thôi; Viết lời minh [vào đá] mãi mãi soi sáng [công đức]
Dịch thơ (vần điệu):
MINH RẰNG
Mây tỏa cậy rồng; Gió tung nhờ hổ.
Vương thuở vuốt nanh; Đế khi phò trợ.
Tám hướng đao vung; Bốn phương giáo múa.
Dũng tướng liệu trù; Tượng công bày rõ.
Thử lửa thật vàng; Gió bay vững cỏ.
Sống đã tiếng tăm; Mất thời danh rỡ.
Bay mãi hạc vàng; Điếu tinh mây chở.
Dằng dặc than ôi; Minh văn ngời tỏ.
Ngày lành tháng trọng hạ [tháng 5 âm lịch] năm Kỷ Quý [1799].
Con mồ côi là Lê Liến/Liễn [kính lập]
![]() |
Nhà thờ họ Lê Viết, làng Nguyệt Biều |
3. Khái quát về nội hàm ý nghĩa và giá trị của văn bản minh văn
Bài minh văn được viết theo thể “lụy”, là lời phúng viếng, dùng để ca ngợi công đức người chết (hay văn tế, điếu văn) hoặc dùng để ca tụng và truy phong chức tước cho người chết. Mặc dù toàn bộ bài minh rất ngắn gọn, chỉ 16 câu (mỗi câu 4 chữ), nhưng ý nghĩa nội hàm của văn bản thì khá sâu sắc. Bài minh ghi “đặc tặng” (đặc biệt ban tặng) song không ghi người ban tặng, mà chỉ cho biết người lập bia minh này là con trai Lê Liến (Liễn) của ông Lê Viết Sinh. Căn cứ vào toàn bộ nội dung bài minh văn, chúng tôi cho rằng đây là bài văn điếu do văn thần (có thể do các vị quan ở viện Hàn Lâm, hoặc Nội các triều Tây Sơn thay mặt vua triều Tây Sơn biên soạn để phúng điếu).
Cách ghi năm lập bia dạng phiếm chỉ “Kỷ Quý” 己貴 của bài minh văn cũng gợi mở nhiều điều. Đối chiếu với tư liệu hiện tồn về triều Tây Sơn và đầu triều Nguyễn, chúng tôi thấy cách viết phiếm chỉ (có can, để ẩn chi) xuất hiện khá phổ biến vào khoảng cuối triều Tây Sơn, đầu triều Nguyễn của hoàng đế Gia Long, như Kỷ Quý 己貴 ở đây, Ất Quý 乙貴, Canh Quý 庚貴 ở một số tư liệu làng xã, địa bạ... Cách ghi phiếm chỉ năm can chi, theo chúng tôi là cách dùng có ngụ ý sâu xa, đó là phương pháp tránh chỉ năm cụ thể (kết hợp với đó là không ghi niên hiệu đời vua) để nếu thời cuộc thay đổi thì ngôi mộ và tấm bia sẽ ít bị xem xét và phá hoại khi triều đại mới, đối nghịch đã thiết đặt được giang sơn.
Với triều đại Tây Sơn, ở Phú Xuân - Huế là triều vua Quang Trung (ở ngôi: 1788 - 1792) và triều vua Quang Toản (ở ngôi: 1793 - 1802)) có 3 năm xuất hiện Can KỶ gồm: Kỷ Hợi [1779], Kỷ Dậu [1789] và Kỷ Mùi [1799]. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung bài minh với câu “Duy vương trảo nha, tại đế tả hữu” (là bậc trọng thần như “móng vuốt” của vương, phò giá thân cận ở hai bên trái - phải của Đế) ta có thể ước đoán ngài Lê Viết Sinh mất sau khi vua Quang Trung xưng Hoàng đế cuối năm Mậu Thân (1788), tức có thể loại bỏ năm Kỷ Hợi [1779].
![]() |
Bia mộ Thị Nội Chưởng cơ Đinh hầu (ghi rõ năm Đinh Dậu 1789) |
Tiếp đó, căn cứ vào văn bia mộ vị Thị Nội Chưởng cơ Đinh hầu của triều Tây Sơn, lập vào ngày tốt tháng 8 năm Kỷ Dậu [1789] tại khu đồi Dương Xuân Thượng, thì năm Kỷ Dậu [1789] sẽ được viết rõ, chứ không ghi kiểu viết năm Can [Kỷ 己] mà ẩn giấu năm Chi [Quý 貴] như bia mộ ông Lê Viết Sinh.
![]() |
Thác bản (ký hiệu: 20925, Viện NC. Hán Nôm) bia Nam cố ở mộ Đô đốc Trương quý công, Quảng Nam, dòng niên hiệu bên phải ghi Ất Quý 乙貴 |
Lại nữa, căn cứ vào thác bản bia mộ Nam Cố của ngài Đô đốc Trương quý công ở Quảng Nam ghi Ất Quý 乙貴, chúng tôi suy luận rằng cách ghi Quý 貴 để ấn giấu năm CHI [thập nhị chi] này xuất hiện sau triều vua Quang Trung (1788 - 1792), tức từ triều Cảnh Thịnh - Bảo Hưng (1793 - 1802) của vua Quang Toản triều Tây Sơn. Theo đó, Ất Quý 乙貴 thực chất là Ất Mão 乙卯 - Dương lịch: 1795; Kỷ Quý 己 貴 thực chất là Kỷ Mùi 己未 - Dương lịch: 1799 và Canh Quý 庚貴 thực chất là Canh Thân 庚申, Dương lịch: 1800. Như thế, năm Kỷ Quý 己貴 ở văn bia ông Lê Viết Sinh hẳn là năm Kỷ Mùi (1799).
Bài minh văn này dùng nhiều điển tích điển cố súc tích, nhằm để ca tụng công nghiệp và đức hạnh của ông Lê Viết Sinh, một viên quan cao cấp của triều Tây Sơn. Đấy có thể được coi là áng văn thơ sắc sảo, nếu không nói là trác tuyệt, góp phần bổ khuyết thêm nguồn tư liệu cho văn chương triều Tây Sơn, cũng như chứng tỏ trình độ văn học nghệ thuật của triều đại Tây Sơn không hề thấp kém.
Theo gia phả họ Lê Viết (Nguyệt Biều), ông Lê Viết Sinh (? - 1799) là tổ đời thứ 3 của dòng tộc (vị thủy tổ là Tiền Khai canh, Bình Chương quốc sự tặng Chiêu Nghị tướng quân Lê Viết Chất; vị tổ đời thứ 2 là Lê Viết Thọ và Chưởng cơ Lê Viết Sinh là thế hệ thứ 3). Gia phả cũng cho biết thêm, vợ ông Sinh là bà Võ Thị Lành, hai ông bà sinh hạ 5 người con (3 trai 2 gái: gồm con đầu Lê Viết Đại, con thứ Lê Viết Nở, thứ 3 Lê Viết Liễn, thứ 4 Lê Thị Nọ, và thứ 5 là Lê Thị Cấp. Người đứng tên dựng bia mộ là người con trai thứ 3 - Hoài Viễn tướng quân Kiêu Kỵ úy Lê Viết Liễn).
Từ các thông tin này, chúng tôi cho rằng dòng tộc Lê Viết tại Nguyệt Biều vốn có truyền thống và vài trò quan trọng trong lịch sử xã hội những thế kỷ XVIII - XIX, với những vị trọng thần triều Tây Sơn như Lê Viết Sinh, Lê Viết Liễn… Trong nhiều thế kỷ qua, tộc Lê Viết luôn có ý thức bảo vệ, giữ gìn ngôi mộ của vị tổ thứ 3 - Lê Viết Sinh, nhất là ngôi mộ cổ hình cánh sen nguyên gốc, cùng bản minh văn thể lụy độc đáo và giá trị cao trước mộ ông. Với đặc trưng của một tư liệu quý hiếm triều Tây Sơn như tấm bia minh này, chúng tôi rất mong sẽ được quý cơ quan hữu trách quan tâm và có phương án để phối hợp cùng gia tộc bảo vệ, gìn giữ di vật quý, cùng đó là tìm cách phát huy giá trị, góp phần khẳng định vai trò, vị thế của một vùng đất chứa đựng nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đặc trưng như Cố đô Huế.
Huế, 04/2021
V.V.Q
(TCSH388/06-2021)
------------------------
1. Lụy 誄 (còn đọc âm lỗi): là lời viếng ca ngợi công đức người chết; hay văn tế người chết, điếu văn; hoặc dùng để ca tụng và truy phong chức tước cho người chết.
2. Hộ quân Thị nội 護軍侍內: chức quan hầu cận gần vua, điều khiển quân binh bảo vệ cung điện của Hoàng đế.
3. Chữ Phụng lập [奉立] này do chúng tôi đưa vào và để trong ngoặc vuông […], để giải thích rõ ý hơn.
4. Vân trí long hưng, phong tòng hổ khiếu 雲致龍興; 風從虎嘯: Mây nhờ rồng quẫy; Gió nhờ cọp gầm. Đây là câu lấy ý từ sách Kinh Dịch 易經, quẻ Càn 乾卦, hào Cửu ngũ 九五: “Vân tòng long, phong tòng hổ, thánh nhân tác nhi vạn vật đổ” 雲從龍, 風從虎, 聖人作而萬物睹 (Mây theo rồng, gió theo cọp, thánh nhân khởi lên mà vạn vật trông vào). Như thế, hàm ý của câu này là chỉ vua tôi hợp hòa như gió mây hội tụ, như rồng - cọp gặp nhau, “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”.
5. Trảo nha 爪牙: nanh vuốt, hàm ý chỉ dũng sĩ thân tín, dũng mãnh như “nanh vuốt” bảo vệ cơ nghiệp đế vương, bảo vệ triều đình. Chữ này xuất xứ từ sách Kinh Thi 詩經, thiên Tiểu Nhã 小雅 mục Kỳ phủ 祈父 với câu: “Kỳ phủ, dư vương chi trảo nha” 祈父!予,王之爪牙 (Này quan Kì phủ, Chúng tôi là quân dũng mãnh của vua). Nguyễn Trãi (thay Lê Thái Tổ) soạn áng hung văn Bình Ngô đại cáo cũng có câu: “Viên tuyển tỳ hưu chi sĩ, thân mệnh trảo nha chi thần” 爰選貔貅之士,申命爪牙之臣 (Sĩ tốt kén người hùng hổ; Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh - bản dịch Ngô Tất Tố).
6. Tại đế tả hữu 在帝左右: bề tôi thân cận (ở bên trái, bên phải) bên cạnh Hoàng đế. Đây là thành ngữ trích từ sách Kinh Thi 詩經, thiên Đại Nhã 大雅, mục Văn Vương 文王: “Văn Vương trắc giáng, tại đế tả hữu” 文王陟降, 在 帝左右 (tinh thần của Chu Văn Vương khi lên khi xuống; ở hầu bên cạnh đế vương).
7. Thất phạt tỉ mâu, tứ chinh hoành sáo 七伐比矛; 四征橫槊: Giáo gươm thảo phạt, thương múa bốn phương. (Thất phạt 七伐và tứ chinh 四征 đều là những thuật ngữ phiếm chỉ việc chinh chiến, thảo phạt khắp nơi, ở bốn phương tám hướng; còn tỉ mâu 比矛 và hoành sáo 橫槊 chỉ các loại binh khí giáo mác, trường thương, phục vụ cho việc chinh chiến ngoài chiến trận).
8. Liệt hỏa chân kim, tật phong kính thảo 烈火真金。疾風勁草: Lửa cháy mạnh tôi luyện vàng ròng; Gió dữ mới rõ cỏ cứng cáp (Đây là cách nói rút gọn của “Tật phong tri kính thảo, liệt hỏa luyện chân kim”「疾風知勁草, 烈火煉真金(gió dữ mới biết rõ cỏ cứng cáp, lửa mạnh luyện vàng ròng) chúng ta thường nói câu: “lửa thử vàng, gian nan thử sức” là cũng có ý gần gũi với câu này.
9. Hoàng hạc cửu phi, Bạch vân tinh điếu 黃鶴久飛。白雲旌吊: chim hạc vàng đã bay mất từ lâu, mây trắng cầm cờ tinh đến viếng. Những thuật ngữ “hoàng hạc” (hạc vàng) và “bạch vân” (mây trắng) là hình tượng (biểu tượng) chỉ cho điển tích Tu sĩ Phí Văn Vi đắc đạo thành tiên, cưỡi hạc vàng ngao du sơn thủy. Một hôm, ngài Phí Văn Vi cưỡi hạc đến đậu trên đỉnh Xà Sơn 蛇山 ở Vũ Xương 武昌(thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc) nhìn ngắm phong cảnh nơi đây. Rồi ngài cưỡi hạc bay đi mất. Người đời dựng lầu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc lâu 黃 鶴樓) tại đỉnh Xà Sơn này. Lầu Hoàng Hạc là một trong Tứ đại danh lâu (4 lầu đài nổi tiếng của Trung Quốc) được giới tao nhân mặc khách khắp muôn phương ghé thăm, đề thơ ngoạn cảnh. Trong các thi phẩm nổi tiếng ở lầu Hoàng Hạc, có bài Hoàng Hạc lâu 黄鹤楼 của Thôi Hạo 崔顥 đời Đường, với câu kinh điển “Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản, Bạch vân thiên tải không du du” 黃鶴一去不復返,白雲千載空悠悠 (Hạc vàng bay mất chẳng bao giờ quay lại, mây trắng ngàn năm lửng lờ trên không). Hình tượng “Hoàng hạc cửu phi” 黃鶴久 飛 (Hạc vàng bay đi mất từ lâu) ở đây mang hàm ý để chỉ ngài họ Lê quá cố (Lê Viết Sinh) như bậc tiên ông đã cưỡi hạc vàng bay đi mất.
Chữ Tinh 旌 ở trong câu này có nghĩa là tuyên dương. Ai có đức hạnh đáng khen thì vua cho dựng nhà treo biển để tuyên dương khen ngợi, gọi là Tinh 旌
10. Nam cố 南故 là cách chỉ người quá cố (đã khuất) nước Nam/An Nam/Việt Nam (chỉ triều Tây Sơn, đây là thuật ngữ để khu biệt, đối lập với “Việt cố” - chỉ người quá cố nước Việt, tức chỉ người theo chúa Nguyễn ở Nam Hà). Thuật ngữ “Nam cố” 南故 này xuất hiện trên các bia mộ của những người thuộc triều đại Tây Sơn, dùng để khu biệt với “Việt cố”, “Hoàng Việt cố”, “Việt Nam cố”, “Đại Nam cố” [các thuật ngữ sau đều dùng để chỉ những người đã khuất là người sống thời Chúa Nguyễn [Việt cố] và các triều vua Nguyễn [Hoàng Việt cố, Việt Nam cố, Đại Nam cố..]…
11. Quý công 貴公: ông có đức hạnh, địa vị cao quý. Đây là cách tôn xưng đối với những người được tôn kính.
12. Câu này hàm ý rằng: lúc Nguyễn Huệ là Bắc Bình Vương thì ông Lê Viết Sinh là dũng sĩ (trảo nha) ở bên cạnh; đến khi Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế Quang Trung, thì ông Lê Viết Sinh là bề tôi thân tín.
LTS: Đại Học Huế đang ở tuổi 50, một tuổi đời còn ngắn ngủi so với các Đại học lớn của thế giới. Nhưng so với các Đại học trong nước, Đại Học Huế lại có tuổi sánh vai với các Đại học lớn của Việt như ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Trên hành trình phát triển của mình, Đại Học Huế đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, giáo dục, văn hoá ở miền Trung, Tây Nguyên, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho khu vực và cả nước. Nhân dịp kỷ niệm này, TCSH phân công ông Bửu Nam, biên tập viên tạp chí, trao đổi và trò chuyện với PGS.TS. Nguyễn Văn Toàn, Giám đốc Đại Học Huế. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuộc trò chuyện này.
VÕ ĐẮC KHÔICó một thời người Huế loay hoay đi vỡ núi, phá rừng trồng khoai sắn. Có một thời người Huế tìm cách mở cảng nước sâu để vươn ra biển lớn, hay đón những con tàu viễn xứ xa xôi. Cả nước, các tỉnh thành láng giềng như Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng cũng đều ra sức làm như thế, sao ta có thể ngồi yên?
TRẦN ĐÌNH SƠNĐất Việt là cái nôi sinh trưởng của cây trà và người Việt biết dùng trà làm thức uống thông thường, lễ phẩm cúng tế, dâng tặng, ban thưởng từ hàng ngàn năm nay.
NGUYỄN XUÂN HOÀNGTừng là đất Kẻ Chợ – kinh đô triều Nguyễn xưa, ẩm thực Huế dựa trên nền tảng triết lý của cái đẹp, món ăn món uống phải ngon nhưng nhất thiết phải đẹp, vị phải đi với mỹ, thiếu mỹ thì không còn vị nữa.
TRƯƠNG THỊ CÚCTrong vô vàn những bài thơ viết về Huế, hai câu thơ của Phan Huyền Thư dễ làm chúng ta giật mình:Muốn thì thầm vuốt ve Huế thật khẽLại sợ chạm vào nơi nhạy cảm của cơ thể Việt Nam (Huế)
FRED MARCHANT(*) Trong chuyến viếng thăm Huế lần thứ hai vào năm 1997, tôi làm một bài thơ đã đăng trong tập thứ hai của tôi, Thuyền đầy trăng (Full Moon Boat). Bối cảnh bài thơ là một địa điểm khảo cổ nổi danh ở Huế. Có thể nói là bài thơ này thực sự ra đời (dù lúc đó tôi không biết) khi nhà thơ Võ Quê đề nghị với tôi và các bạn trong đoàn ghé thăm Đàn Nam Giao trước khi đi ăn tối ở một quán ăn sau Hoàng Thành bên kia sông Hương.
TRẦN KIÊM ĐOÀNDu khách là người trong mắt nhìn và qua cảm nhận của chính người đó.
TRƯƠNG THỊ CÚCTừ buổi hồng hoang của lịch sử, hình ảnh ban đầu của xứ Huế chỉ thấp thoáng ẩn hiện qua mấy trang huyền sử của đất nước Trung Hoa cổ đại. Tài liệu thư tịch cổ của Trung Quốc đã kể lại từ năm Mậu Thân đời vua Đường Nghiêu (2353 năm trước Công nguyên), xứ Việt Thường ở phương Nam đã đến hiến tặng vua Nghiêu con rùa thần từng sống qua ngàn năm tuổi.
HỒ ĐĂNG THANH NGỌCCó một hiện tượng lịch sử lý thú, ở những nơi khác vốn dĩ bình thường nhưng ở Huế theo tôi là rất đặc biệt, đó là tại mảnh đất này sau hơn ba mươi năm ngày đất nước thống nhất, đã hình thành một thế hệ nữ doanh nhân thành đạt giữa chốn thương trường.
MINH TÂMTôi nghe bà con bán tôm ở chợ Bến Ngự kháo nhau: Dân nuôi tôm phá Tam Giang đã xây miếu thờ “Ông tổ nghề” của mình gần chục năm rồi. Nghe nói miếu thờ thiêng lắm, nên bà con suốt ngày hương khói, cả những người nuôi tôm ở tận Phú Lộc, dân buôn tôm ở Huế cũng lặn lội vượt Phá Tam Giang lễ bái tổ nghề.
PHẠM THỊ ANH NGA"Hiểu biết những người khác không chỉ đơn giản là một con đường có thể dẫn đến hiểu biết bản thân: nó là con đường duy nhất" (Tzvetan Todorov)
TRẦN ĐỨC ANH SƠNSau hơn 1,5 thế kỷ được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của Đàng Trong, đến cuối thế kỷ XVIII, Huế trở thành kinh đô vương triều Tây Sơn (1788 - 1801) và sau đó là kinh đô của vương triều Nguyễn (1802 - 1945).
TRƯƠNG THỊ CÚC Sông Hương là một trong những nét đẹp tiêu biểu của thiên nhiên xứ Huế. Sông là hợp lưu của hai nguồn Hữu Trạch, Tả Trạch, chảy qua vùng đá hoa cương cuồn cuộn ghềnh thác, đổ dốc từ độ cao 900 mét đầu nguồn Hữu trạch, 600 mét đầu nguồn Tả trạch, vượt 55 ghềnh thác của nguồn hữu, 14 ghềnh thác của nguồn tả, chảy qua nhiều vùng địa chất, uốn mình theo núi đồi trùng điệp của Trường Sơn để gặp nhau ở ngã ba Bàng Lãng, êm ả đi vào thành phố, hợp lưu với sông Bồ ở Ngã Ba Sình và dồn nước về phá Tam Giang, đổ ra cửa biển Thuận An.
Chúng ta biết rằng trong thời đại ngày nay, khi đầu tư xây dựng những cơ sở nhằm đáp ứng nhu cầu cao của người đi du lịch, văn hóa ẩm thực được xem như là cánh cửa đầu tiên được mở ra để thu hút du khách.
Chúng tôi đi thăm đầm chim Quảng Thái, theo ông Trần Giải, Phó chủ tịch huyện Quảng Điền.
I. Chúng tôi xin tạm hiểu như sau về văn hóa Huế. Đó là văn hóa Đại Việt vững bền ở Thăng Long và Đàng Ngoài chuyển vào Thuận Hóa - Phú Xuân.
Thúng mủng Bao La đem ra đựng bột. Chiếu Bình Định tốt lắm ai ơi. Tạm tiền mua lấy vài đôi. Dành khi hiếu sự trải côi giường Lào.
LTS: Tiến sĩ Nguyễn Thuyết Phong hiện đang dạy tại trường đại học Kent State thuộc tiểu bang Ohio, . Đây là một trong những bài trích ra từ cuốn Hồi ký âm nhạc, gồm những bài viết về kinh nghiệm bản thân cùng cảm tưởng trong suốt quá trình đi đó đây, lên núi xuống biển, từ Bắc chí Nam của ông để sưu tầm về nhạc dân tộc. Được sự đồng ý của tác giả, TCSH xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
Từ sau ngày giải phóng đến nay, tôi chưa một lần gặp lại Anh hùng Vai và Anh hùng Kan Lịch. Về Huế hoài nhưng lên A Lưới lại không đủ giờ và không dễ dàng gì. Những năm trước, đường về A Lưới còn chật hẹp, lổm chổm đất đá, lại hay sạt lở... đi về rất khó khăn và phải mất vài ngày. Đến Huế vào mùa khô thì lại ít thời giờ. Về Huế dịp mùa mưa thì đường về A Lưới luôn tắc nghẽn.
Tế lễ, giỗ chạp, cúng kỵ gắn với người Huế rất sâu. Hình như nhạc lễ cổ truyền xứ Huế cũng hình thành từ đó. Món ăn Huế được chăm chút, gọt tỉa để trở thành một thứ nghệ thuật ẩm thực cũng từ đó. Màu sắc, mẫu mã của nhiều loại trang phục Huế cũng từ đó mà được hoàn chỉnh, nâng cao. Cả những phong cách sinh hoạt nói năng, thưa gởi, đứng ngồi, mời trà, rót rượu... đầy ý tứ của vùng đất nầy cũng đi từ những buổi cúng giỗ đượm mùi hương trầm.