ĐẶNG THỊ THANH HÀ
Loại thuyền đi biển quan trọng nhất của nhà Nguyễn trong thế kỷ 19 được khắc trên Cửu đỉnh ở Huế - Ảnh: Thái Lộc
Năm 1558, khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, các đời chúa Nguyễn tiếp theo tích cực xây dựng lực lượng tránh sự phụ thuộc vào Đàng Ngoài. Kết thúc chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo gần nửa thế kỷ không phân thắng bại, sông Gianh được chọn làm ranh giới chia cắt Đàng Trong và Đàng Ngoài. Để củng cố quyền lực, chúa Nguyễn tập trung xây dựng kinh tế kết hợp giao thông vận tải với mục đích tiếp tục mở mang lãnh thổ xác lập chủ quyền vùng đất Đàng Trong vững mạnh. Thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII Đàng Trong thủ công nghiệp phát triển với nhiều hình thức phong phú khác nhau đã hình thành các phường, các làng nghề thủ công nổi tiếng, sản xuất ra các sản phẩm độc đáo, đa dạng, số lượng nhiều không chỉ cung cấp trong vùng mà còn cung cấp sản phẩm thủ công nghiệp ra các khu vực và trên thế giới.
Trước hết, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải đã trở thành làng dệt nổi tiếng như ở huyện Phong Lộc, Bình Xá và Vô Xá (Lệ Thủy), ở Phú Xuân có xã Sơn Điền, Dương Xuân và Vạn Xuân, Điện Bàn… Nghề dệt lúc bấy giờ các thợ thủ công, nghệ nhân dệt lụa Đàng Trong biết kết hợp truyền thống dệt lụa xứ Bắc kỳ với kỷ thuật dệt của người ChămPa và của người Trung Hoa để sản xuất ra những mặt hàng tơ lụa đẹp và mềm mại như Quang Đông. Theo Lê Quý Đôn thì “Tổ xa đời họ Nguyễn là người dinh Quảng Nam, phủ Thăng Hoa học dệt ở Bắc khách, đời truyền nghề cho nhau. Các hàng vóc, sa, lanh, gấm, trừu cải hoa rất khéo. Ở Quảng Nam thuế lụa chỉ lấy ở hai phủ Thăng Hoa, Điện Bàn… Phủ Thăng Hóa, thuộc Hóa Châu nộp lụa thuế 809 tấm, lụa lễ 11 tấm, thuế là để dâng lên vua (vua Lê), lễ là để biếu quan trấn”[1]. Mặt hàng tơ lụa Đàng Trong được sản xuất ra nhiều bởi có những cánh đồng trông dâu nuôi tằm rộng lớn của vùng đất Thuận Quảng. Vì vậy nguồn hàng “tơ lụa vùng này rất nhiều và dư thừa đến nỗi người dân lao động và người nghèo cũng dùng hàng ngày… Đàn ông, đàn bà vác đất, đá, vôi và những vật liệu tương tự mà không hề cẩn thận giữ cho áo đẹp và quý họ mặc khỏi rách bẩn”[2] Vì thế tơ lụa dư thừa nên họ bán cho tàu các thương nhân đến cảng Hội An bằng đường thủy. Điều này, được tác giả Nara Shuichi khi nghiên cứu về việc buôn bán tơ lụa giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thế kỷ XVII đã nêu: “Trong khoảng thời gian từ 1641 đến 1682 “hơn 40% số tơ nhập vào Nhật do các thương nhân Trung Quốc mang đến từ Việt Nam”[3]
Thứ hai, nghề thủ công làm gốm cũng được phát triển như: Nghề làm gốm ở làng Phước Tích, Biên Hòa sản xuất ra các sản phẩm như nồi đất, chum đất, lu vại, bát… Điều này được tác giả Tống Trung Tín thể hiện về trao đổi và buôn bán đồ gốm giữa Việt Nam và Nhật Bản thế kỷ XIV - XVIII ở khu vực Sakai “Sakai là một trong những thương cảng lớn, sầm uất của Nhật Bản trong thế kỷ XV và XVI, người ta đã tìm thấy ở đây những mảnh gốm men ngọc có in hoa của Việt Nam có niên kỷ XIV. Đồ gốm của Việt Nam có niên đại từ khoảng đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII đã tìm thấy mảnh bát màu hoa lam, chính giữa lòng bát có chữ phúc, ngoài ra còn có bát gốm trăng, lòng nông, thành vát thẳng, trong lòng bát có in nổi băng hoa cúc dây hình sin rất đẹp, địa có vẽ hình rồng màu lam, chữ Hán, và các viên tròn đơn giản. Thế kỷ XVIII thì có các loại bát lòng nông, miệng rộng thành ngoài và lòng bát được vẽ hoa cúc nhiều cánh nhỏ màu sắc. Ngoài ra vẫn ở Sakai người ta còn tìm thấy “các lon sành, các lạo vò, lọ cổ thẳng, thân thon. Có một số vò có 4 núm ở vai, hình sông nước v.v, đều có niên đại khoảng thế kỷ XVII - XVIII”[4]. Để vận chuyển đồ gốm được sản xuất xứ Đàng Trong sang các nước khác buộc các thương nhân đi bằng thuyền lớn để chuyên chở hàng hóa đi từ Cảng biển Hội An. “Ở Đàng Trong không sản xuất gốm men, nhưng đồ sành có mặt ở Nhật Bản khá nhiều”[5].
Bên cạnh đó, nghề đúc đồng ở phường Đúc; nghề Rèn ở Phú Bài, Hiền Lương Võng Trì; nghề mộc ở Mỹ Xuyên, Kìm Bồng. Đặc biệt vùng đất Nam Bộ trước đây từng có nhiều lò đúc đồng được nhiều người biết đến. Trên vùng đất Mô Xoài xưa (ở miền Đông Nam Bộ) vẫn còn lại ít nhiều dấu tích của nghề đúc đồng dân gian. Riêng khu vực Sài Gòn cũng đã có đến ba nhóm lò đúc đồng, đó là ba làng cổ Tân Kiểng, Nhân Giang và Bình Yên thuộc Chợ Lớn. Nguồn gốc nghề đúc đồng ở Nam Bộ là từ Quy Nhơn theo chân các luồng di dân mà vào Nam Bộ hồi những thập kỷ đầu của thế kỷ XVIII thông qua bằng con đường biển. Nguồn đồng cũng được mua từ ngoài miền Trung chở bằng thuyền qua tuyến đường biển quen thuộc của cư dân Đàng Trong.
Đàng Trong thuận lợi phát triển giao thông đường biển trong vùng và quốc tế. Chính điều này đã được Người Bồ Đào Nha vẽ bản đồ trong thế kỷ XVI cho rằng: “Gaspar Viegas -1537, Bar -tholomeu Velho 1560, Livro Da Marinharia -1560, Bar-tolomeu Laasso -1590... cho thấy đường hàng hải Quốc tế đều nằm ngoài khơi bờ biển từ Thuận Quảng đến Hà Tiên và Côn Đảo (Pulo Condor), Hoàng Sa (Phulo Pracell), đã từng là trung tâm gặp gỡ của luồng thương mại hàng hải quốc tế đó”[6]. Các chúa Nguyễn đẩy mạnh sản xuất thủ công nghiệp trong đó ngành nuôi tằm dệt vải, nghề sản xuất gốm… không chỉ sản xuất đủ tiêu dùng mà còn sản xuất số lượng lớn trao đổi buôn bán với nước ngoài thông qua hệ thống giao thông vận tải đường biển.
Hệ thống giao thông vận tải đường biển thuận lợi nên một trong những nghề thủ công nghiệp chúa Nguyễn rất chú trọng là ngành đóng thuyền. Đàng Trong gần biển, nhiều sông ngòi, đi thuyền thuận tiện hơn đi bộ và cũng mục đích khác là chuyên chở hàng hóa, bảo vệ mở mang bờ cõi, vì thế chúa Nguyễn tập trung sản xuất và phát triển. Ngành đóng thuyền do nhà nước quản lý. Theo hồi ký của những người nước ngoài từng đến Đàng Trong các thế kỷ XVII và XVIII, ngành đóng thuyền Đàng Trong là một ngành độc quyền của Nhà nước, do các chúa Nguyễn đích thân kiểm soát, chỉ đạo. Một nhà buôn Anh có tên là John Barrow trong hồi ký của mình đã viết rằng: “Chúa là người quản đốc các cảng, nhiều kho binh khí, kỹ sư trưởng của ngành đóng thuyền… Trong công việc đóng thuyền thì không có một cái đinh nào được đóng xuống mà lại không xin ý kiến của chúa Nguyễn trước tiên.”[7]. Các chúa Nguyễn cũng cho thành lập những xưởng đóng thuyền do Nhà nước quản lý ở hai bờ sông Hương ở Phú Xuân “Ở thượng lưu và hạ lưu chính dinh (tức Phú Xuân), nhà quân bày như bàn cờ. Những nhà của thủy quân lại ở đồi ngạn. Xưởng thuyền và kho thóc ở các xã Hà Khê, Thọ Khang”8. Thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1675 - 1725) có “200 chiến hạm, mỗi chiếc có từ 16 đến 20 khẩu đại bác, 500 chiến thuyền nhỏ từ 40 đến 44 tay chèo, 100 chiếc thuyền lớn từ 50 đến 75 tay chèo. Các thuyền chiến trên đều do xưởng của phủ Chúa đóng”9. Chính điều này đã được Alexandre de Rhodes và Thomas Bowyear nhận định rằng vào thế kỷ XVII tuy số thuyền do người Đàng Trong đóng không nhiều bằng thuyền ở Đàng Ngoài, nhưng chất lượng kỹ thuật thì không hề thua kém. Họ cũng đánh giá cao về trình độ đóng thuyền và vũ khí trang bị trên các loại tàu thuyền ở Đàng Trong.
Như vậy chúng ta thấy rằng thủ công nghiệp không chỉ có vai trò đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội mà còn là một trong những yếu tố thúc đẩy quá trình xây dựng và phát triển giao thông vận tải Đàng Trong thời chúa Nguyễn.
Nhằm củng cố quyền lực xứ Đàng Trong, chúa Nguyễn đã tập trung xây dựng kinh tế kết hợp giao thông vận tải với mục đích tiếp tục mở mang lãnh thổ xác lập chủ quyền vùng đất Đàng Trong vững mạnh. Vì vậy, một trong những vấn đề kinh tế mà chúa Nguyễn chú trọng đó là phát triển đối với giao thông vận tải làm đòn bẩy đối với thủ công nghiệp nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung.
Đ.T.T.H
(TCSH368/10-2019)
[1] Đỗ Đức Hùng, Biên niên sử Việt Nam, Nxb. Thanh Niên, 2002, tr. 232-333.
[2] Cristophoro Borri, Xứ Đàng Trong 1621, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr.32.
[3] Trần Văn Giàu - Trần Bạch Đằng - Mạc Đường, Lịch sử Việt Nam, Tập 4, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2008, tr.235
[4] Nguyễn Việt - Vũ Minh Giang- Nguyễn Mạnh Hùng, Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. QĐND, Hà Nội, 2012, tr.68.
[5] Nguyễn Việt - Vũ Minh Giang- Nguyễn Mạnh Hùng, Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. QĐND, Hà Nội, 2012, tr.72.
[6] Đỗ Bang, Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII - XVIII, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1996, tr.27.
[7] Lê Đình Cai (1971), 34 cầm quyền của Chúa Nguyễn Phúc Chu, Đặng Trình xuất bản, 1971, tr.80
8, 9 Trần Đức Anh Sơn (2011) Ngành đóng thuyền và tàu thuyền ở Việt Nam thời Nguyễn, Tạp chí Huế xưa và nay (104), tr. 80, 83.
ĐẶNG YÊN
Trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI, Thừa Thiên Huế đã có sự phát triển ổn định về kinh tế, phát huy các giá trị văn hóa, di sản, là một trong những trung tâm về văn hóa, du lịch, y tế chuyên sâu, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ của Miền Trung - Tây Nguyên và cả nước.
LÊ THỊ ÁNH TUYẾT
Sinh thời, vua Tự Đức từng có đôi câu thơ ca ngợi truyền thống học tập, khoa bảng của hai dòng họ lớn ở Huế: “Nhất Thân, nhì Hà, thiên hạ vô gia/ Nhất Hà, nhì Thân, thiên hạ vô dân”.
DƯƠNG PHƯỚC THU
Trong thời kỳ đen tối của những năm 1925 - 1927, tại thành phố Huế, bắt đầu có những biến động lớn về chính trị. Các phong trào yêu nước và đòi dân chủ dân sinh đang có sự thay đổi về chất.
NGUYỄN PHƯỚC HẢI TRUNG
Chơi chữ (hay còn gọi là lộng ngữ) là một biện pháp nghệ thuật xuất hiện khá phong phú về hình thức trong văn chương, nhất là thi ca. Đó là những hình thức diễn đạt dùng âm thanh, từ ngữ, hàm ý để tạo ra lượng nghĩa mới bất ngờ và thú vị.
NGUYỄN PHƯỚC HẢI TRUNG
Chơi chữ (hay còn gọi là lộng ngữ) là một biện pháp nghệ thuật xuất hiện khá phong phú về hình thức trong văn chương, nhất là thi ca. Đó là những hình thức diễn đạt dùng âm thanh, từ ngữ, hàm ý để tạo ra lượng nghĩa mới bất ngờ và thú vị.
PHAN THUẬN THẢO
ĐỖ MINH ĐIỀN
Lễ tế Đàn Nam Giao là nghi lễ quan trọng bậc nhất dưới thời nhà Nguyễn. Trong phân cấp hoạt động tế tự, tế Giao được liệt vào hàng đại tự, do triều đình đứng ra tổ chức.
PHẠM HỮU THU
Ngồi trong ngôi nhà Gươl ở huyện Nam Đông, tôi thật sự phấn khích khi được những cô gái Cơ Tu, dịu dàng trong bộ thổ cẩm mời thưởng thức những món ngon được chế biến từ “cây nhà lá vườn” hay sản vật của núi rừng Thừa Thiên Huế.
VÕ TRIỀU SƠN
Liên tiếp trong những ngày cuối tháng 10 đầu tháng 11/2019, nhiều cuộc họp quan trọng liên quan đến vấn đề phát triển Thừa Thiên Huế trong tương lai đã được xúc tiến.
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Khi mãn tang mẹ, Tùng quốc công Miên Thẩm rời lều tranh bên mộ của bà Thục Tần, về phủ của ông ở bờ bắc sông Lợi Nông, đổi Tiêu viên thành nhà thờ bà Thục Tần, biến Ký thưởng viên thành nơi Đức Thầy Tùng Thiện đào tạo học trò…
VÕ VINH QUANG
Hoàng Trung Đặng Huy Trứ (1825 - 1874) là một danh nhân văn hóa xứ Huế thế kỷ XIX. Tổ quán họ Đặng tương truyền ở làng Hà Trung (xã Vinh Hà, huyện Phú Vang), rồi dời lên Kinh thành, sau lại về làng Hiền Sĩ (Phong Sơn, Phong Điền).
GẶP GỠ & ĐỐI THOẠI
(Hòa Thượng Thích Thiện Siêu(*) trả lời phỏng vấn của Người Sông Hương)
NGUYỄN THẾ
Làng Thanh Tân thuộc xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là một xứ đạo hình thành từ thế XIX.
NGUYỄN PHƯỚC HẢI TRUNG
Hệ thống kiến trúc cung đình Huế là những điển hình cho trình độ kỹ thuật xây dựng cũng như trình độ thẩm mỹ của Việt Nam vào thế kỷ XIX.
TRẦN HOÀNG PHI
Không gian ký ức Lê Bá Đảng (Le Ba Dang memory space) ở thôn núi Kim Sơn (Huế), là không gian nghệ thuật với kiến trúc vào loại đẹp nhất ở Việt Nam giữa bốn bề núi rừng với ba màu chủ đạo đen, xám, trắng.
NGUYỄN LÃM THẮNG
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Chính sử triều Nguyễn chép mộ vua Quang Trung được táng ở vùng Nam sông Hương và đã bị quật phá.
VÕ VINH QUANG
Thanh Bình từ đường, thờ tổ nghề hát bội của triều Nguyễn, tọa lạc ở kiệt 281 đường Chi Lăng, thành phố Huế là một địa điểm quan trọng trong truyền thống văn hóa nghệ thuật của đất Cố đô.
CHÂU THU HÀ
Trong những năm qua, xây dựng văn hóa doanh nghiệp (VHDN) đã và đang được các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng quan tâm thực hiện.