Vai trò giao thông vận tải đường biển Đàng Trong đối với sự phát triển của thủ công nghiệp thời chúa Nguyễn

14:23 29/11/2019


ĐẶNG THỊ THANH HÀ

Loại thuyền đi biển quan trọng nhất của nhà Nguyễn trong thế kỷ 19 được khắc trên Cửu đỉnh ở Huế - Ảnh: Thái Lộc

Năm 1558, khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, các đời chúa Nguyễn tiếp theo tích cực xây dựng lực lượng tránh sự phụ thuộc vào Đàng Ngoài. Kết thúc chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo gần nửa thế kỷ không phân thắng bại, sông Gianh được chọn làm ranh giới chia cắt Đàng Trong và Đàng Ngoài. Để củng cố quyền lực, chúa Nguyễn tập trung xây dựng kinh tế kết hợp giao thông vận tải với mục đích tiếp tục mở mang lãnh thổ xác lập chủ quyền vùng đất Đàng Trong vững mạnh. Thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII Đàng Trong thủ công nghiệp phát triển với nhiều hình thức phong phú khác nhau đã hình thành các phường, các làng nghề thủ công nổi tiếng, sản xuất ra các sản phẩm độc đáo, đa dạng, số lượng nhiều không chỉ cung cấp trong vùng mà còn cung cấp sản phẩm thủ công nghiệp ra các khu vực và trên thế giới.

Trước hết, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải đã trở thành làng dệt nổi tiếng như ở huyện Phong Lộc, Bình Xá và Vô Xá (Lệ Thủy), ở Phú Xuân có xã Sơn Điền, Dương Xuân và Vạn Xuân, Điện Bàn… Nghề dệt lúc bấy giờ các thợ thủ công, nghệ nhân dệt lụa Đàng Trong biết kết hợp truyền thống dệt lụa xứ Bắc kỳ với kỷ thuật dệt của người ChămPa và của người Trung Hoa để sản xuất ra những mặt hàng tơ lụa đẹp và mềm mại như Quang Đông. Theo Lê Quý Đôn thì “Tổ xa đời họ Nguyễn là người dinh Quảng Nam, phủ Thăng Hoa học dệt ở Bắc khách, đời truyền nghề cho nhau. Các hàng vóc, sa, lanh, gấm, trừu cải hoa rất khéo. Ở Quảng Nam thuế lụa chỉ lấy ở hai phủ Thăng Hoa, Điện Bàn… Phủ Thăng Hóa, thuộc Hóa Châu nộp lụa thuế 809 tấm, lụa lễ 11 tấm, thuế là để dâng lên vua (vua Lê), lễ là để biếu quan trấn”[1]. Mặt hàng tơ lụa Đàng Trong được sản xuất ra nhiều bởi có những cánh đồng trông dâu nuôi tằm rộng lớn của vùng đất Thuận Quảng. Vì vậy nguồn hàng “tơ lụa vùng này rất nhiều và dư thừa đến nỗi người dân lao động và người nghèo cũng dùng hàng ngày… Đàn ông, đàn bà vác đất, đá, vôi và những vật liệu tương tự mà không hề cẩn thận giữ cho áo đẹp và quý họ mặc khỏi rách bẩn”[2] Vì thế tơ lụa dư thừa nên họ bán cho tàu các thương nhân đến cảng Hội An bằng đường thủy. Điều này, được tác giả Nara Shuichi khi nghiên cứu về việc buôn bán tơ lụa giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thế kỷ XVII đã nêu: “Trong khoảng thời gian từ 1641 đến 1682 “hơn 40% số tơ nhập vào Nhật do các thương nhân Trung Quốc mang đến từ Việt Nam”[3]

Thứ hai, nghề thủ công làm gốm cũng được phát triển như: Nghề làm gốm ở làng Phước Tích, Biên Hòa sản xuất ra các sản phẩm như nồi đất, chum đất, lu vại, bát… Điều này được tác giả Tống Trung Tín thể hiện về trao đổi và buôn bán đồ gốm giữa Việt Nam và Nhật Bản thế kỷ XIV - XVIII ở khu vực Sakai “Sakai là một trong những thương cảng lớn, sầm uất của Nhật Bản trong thế kỷ XV và XVI, người ta đã tìm thấy ở đây những mảnh gốm men ngọc có in hoa của Việt Nam có niên kỷ XIV. Đồ gốm của Việt Nam có niên đại từ khoảng đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII đã tìm thấy mảnh bát màu hoa lam, chính giữa lòng bát có chữ phúc, ngoài ra còn có bát gốm trăng, lòng nông, thành vát thẳng, trong lòng bát có in nổi băng hoa cúc dây hình sin rất đẹp, địa có vẽ hình rồng màu lam, chữ Hán, và các viên tròn đơn giản. Thế kỷ XVIII thì có các loại bát lòng nông, miệng rộng thành ngoài và lòng bát được vẽ hoa cúc nhiều cánh nhỏ màu sắc. Ngoài ra vẫn ở Sakai người ta còn tìm thấy “các lon sành, các lạo vò, lọ cổ thẳng, thân thon. Có một số vò có 4 núm ở vai, hình sông nước v.v, đều có niên đại khoảng thế kỷ XVII - XVIII”[4]. Để vận chuyển đồ gốm được sản xuất xứ Đàng Trong sang các nước khác buộc các thương nhân đi bằng thuyền lớn để chuyên chở hàng hóa đi từ Cảng biển Hội An. “Ở Đàng Trong không sản xuất gốm men, nhưng đồ sành có mặt ở Nhật Bản khá nhiều”[5].

Bên cạnh đó, nghề đúc đồng ở phường Đúc; nghề Rèn ở Phú Bài, Hiền Lương Võng Trì; nghề mộc ở Mỹ Xuyên, Kìm Bồng. Đặc biệt vùng đất Nam Bộ trước đây từng có nhiều lò đúc đồng được nhiều người biết đến. Trên vùng đất Mô Xoài xưa (ở miền Đông Nam Bộ) vẫn còn lại ít nhiều dấu tích của nghề đúc đồng dân gian. Riêng khu vực Sài Gòn cũng đã có đến ba nhóm lò đúc đồng, đó là ba làng cổ Tân Kiểng, Nhân Giang và Bình Yên thuộc Chợ Lớn. Nguồn gốc nghề đúc đồng ở Nam Bộ là từ Quy Nhơn theo chân các luồng di dân mà vào Nam Bộ hồi những thập kỷ đầu của thế kỷ XVIII thông qua bằng con đường biển. Nguồn đồng cũng được mua từ ngoài miền Trung chở bằng thuyền qua tuyến đường biển quen thuộc của cư dân Đàng Trong.

Đàng Trong thuận lợi phát triển giao thông đường biển trong vùng và quốc tế. Chính điều này đã được Người Bồ Đào Nha vẽ bản đồ trong thế kỷ XVI cho rằng: “Gaspar Viegas -1537, Bar -tholomeu Velho 1560, Livro Da Marinharia -1560, Bar-tolomeu Laasso -1590... cho thấy đường hàng hải Quốc tế đều nằm ngoài khơi bờ biển từ Thuận Quảng đến Hà Tiên và Côn Đảo (Pulo Condor), Hoàng Sa (Phulo Pracell), đã từng là trung tâm gặp gỡ của luồng thương mại hàng hải quốc tế đó”[6]. Các chúa Nguyễn đẩy mạnh sản xuất thủ công nghiệp trong đó ngành nuôi tằm dệt vải, nghề sản xuất gốm… không chỉ sản xuất đủ tiêu dùng mà còn sản xuất số lượng lớn trao đổi buôn bán với nước ngoài thông qua hệ thống giao thông vận tải đường biển.

Hệ thống giao thông vận tải đường biển thuận lợi nên một trong những nghề thủ công nghiệp chúa Nguyễn rất chú trọng là ngành đóng thuyền. Đàng Trong gần biển, nhiều sông ngòi, đi thuyền thuận tiện hơn đi bộ và cũng mục đích khác là chuyên chở hàng hóa, bảo vệ mở mang bờ cõi, vì thế chúa Nguyễn tập trung sản xuất và phát triển. Ngành đóng thuyền do nhà nước quản lý. Theo hồi ký của những người nước ngoài từng đến Đàng Trong các thế kỷ XVII và XVIII, ngành đóng thuyền Đàng Trong là một ngành độc quyền của Nhà nước, do các chúa Nguyễn đích thân kiểm soát, chỉ đạo. Một nhà buôn Anh có tên là John Barrow trong hồi ký của mình đã viết rằng: “Chúa là người quản đốc các cảng, nhiều kho binh khí, kỹ sư trưởng của ngành đóng thuyền… Trong công việc đóng thuyền thì không có một cái đinh nào được đóng xuống mà lại không xin ý kiến của chúa Nguyễn trước tiên.”[7]. Các chúa Nguyễn cũng cho thành lập những xưởng đóng thuyền do Nhà nước quản lý ở hai bờ sông Hương ở Phú Xuân “Ở thượng lưu và hạ lưu chính dinh (tức Phú Xuân), nhà quân bày như bàn cờ. Những nhà của thủy quân lại ở đồi ngạn. Xưởng thuyền và kho thóc ở các xã Hà Khê, Thọ Khang”8. Thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1675 - 1725) có “200 chiến hạm, mỗi chiếc có từ 16 đến 20 khẩu đại bác, 500 chiến thuyền nhỏ từ 40 đến 44 tay chèo, 100 chiếc thuyền lớn từ 50 đến 75 tay chèo. Các thuyền chiến trên đều do xưởng của phủ Chúa đóng”9. Chính điều này đã được Alexandre de Rhodes và Thomas Bowyear nhận định rằng vào thế kỷ XVII tuy số thuyền do người Đàng Trong đóng không nhiều bằng thuyền ở Đàng Ngoài, nhưng chất lượng kỹ thuật thì không hề thua kém. Họ cũng đánh giá cao về trình độ đóng thuyền và vũ khí trang bị trên các loại tàu thuyền ở Đàng Trong.

Như vậy chúng ta thấy rằng thủ công nghiệp không chỉ có vai trò đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội mà còn là một trong những yếu tố thúc đẩy quá trình xây dựng và phát triển giao thông vận tải Đàng Trong thời chúa Nguyễn.

Nhằm củng cố quyền lực xứ Đàng Trong, chúa Nguyễn đã tập trung xây dựng kinh tế kết hợp giao thông vận tải với mục đích tiếp tục mở mang lãnh thổ xác lập chủ quyền vùng đất Đàng Trong vững mạnh. Vì vậy, một trong những vấn đề kinh tế mà chúa Nguyễn chú trọng đó là phát triển đối với giao thông vận tải làm đòn bẩy đối với thủ công nghiệp nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung.

Đ.T.T.H
(TCSH368/10-2019)

 



[1] Đỗ Đức Hùng, Biên niên sử Việt Nam, Nxb. Thanh Niên, 2002, tr. 232-333.

[2] Cristophoro Borri, Xứ Đàng Trong 1621, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr.32.

[3] Trần Văn Giàu - Trần Bạch Đằng - Mạc Đường, Lịch sử Việt Nam, Tập 4, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2008, tr.235

[4] Nguyễn Việt - Vũ Minh Giang- Nguyễn Mạnh Hùng, Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. QĐND, Hà Nội, 2012, tr.68.

[5] Nguyễn Việt - Vũ Minh Giang- Nguyễn Mạnh Hùng, Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. QĐND, Hà Nội, 2012, tr.72.

[6] Đỗ Bang, Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII - XVIII, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1996, tr.27.

[7] Lê Đình Cai (1971), 34 cầm quyền của Chúa Nguyễn Phúc Chu, Đặng Trình xuất bản, 1971, tr.80

8, 9  Trần Đức Anh Sơn (2011) Ngành đóng thuyền và tàu thuyền ở Việt Nam thời Nguyễn, Tạp chí Huế xưa và nay (104), tr. 80, 83.

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • ĐỖ XUÂN CẨM 

    Thành phố Huế khác hẳn một số thành phố trên dải đất miền Trung, không chỉ ở các lăng tẩm, đền đài, chùa chiền, thành quách… mà còn khác biệt ở màu xanh thiên nhiên hòa quyện vào các công trình một cách tinh tế.

  • KỶ NIỆM 130 CHÍNH BIẾN THẤT THỦ KINH ĐÔ (23/5 ẤT DẬU 1885 - 23/5 ẤT MÙI 2015)

    LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG

    Huế, trong lịch sử từng là vùng đất đóng vai trò một trung tâm chính trị - văn hóa, từng gánh chịu nhiều vết thương của nạn binh đao. Chính biến Thất thủ Kinh đô 23/5, vết thương lịch sử ấy ăn sâu vào tâm thức bao thế hệ người dân Cố đô.

  • KIMO 

    Café trên xứ Huế bây giờ không thua gì café quán cốc ở Pháp, những quán café mọc lên đầy hai bên lề đường và khi vươn vai thức dậy nhìn xuống đường là mùi thơm của café cũng đủ làm cho con người tỉnh táo.

  • LTS: Diễn ra từ 10/6 đến 22/6/2015, cuộc triển lãm “Thừa Thiên Huế: 90 năm báo chí yêu nước và cách mạng” do Hội Nhà báo tổ chức tại Huế, trưng bày các tư liệu báo chí hết sức quý giá do nhà báo, nhà nghiên cứu Dương Phước Thu sưu tập, đã thu hút đông đảo công chúng Huế. Nhiều tờ báo xuất bản cách đây hơn thế kỷ giờ đây công chúng được nhìn thấy để từ đó, hình dung về một thời kỳ Huế đã từng là trung tâm báo chí của cả nước. Nhân sự kiện hết sức đặc biệt này, Sông Hương đã có cuộc phỏng vấn ngắn với nhà nghiên cứu Dương Phước Thu.

  • MAI KHẮC ỨNG  

    Một lần lên chùa Thiên Mụ gặp đoàn khách có người dẫn, tôi nhập lại để nghe thuyết minh. Nền cũ đình Hương Nguyện trước tháp Phước Duyên được chọn làm diễn đài.

  • LÊ QUANG THÁI

    Việt Nam giữ một vị thế trọng yếu ở ngã tư giao lưu với các nước của bán đảo Ấn Hoa và miền Viễn Đông châu Á.

  • LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG
                            Tùy bút

    Mối cảm giao với Túy Vân khởi sự từ sự tạo sinh của đất trời trong lớp lớp mây trắng chảy tràn, tuyết tô cho ngọn núi mệnh danh thắng cảnh thiền kinh Cố đô.

  • PHẠM THÁI ANH THƯ

    Trong giai đoạn 2004 - 2013, nền kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế (TTH) đạt mức tăng trưởng khá cao so với mức bình quân của cả nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch hợp lý theo hướng du lịch, dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp. Đồng hành với mức tăng trưởng đó, nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước đã đến đầu tư tại Thừa Thiên Huế.

  • TRẦN VIẾT ĐIỀN

    Một số nhà nghiên cứu đã chú tâm tìm kiếm nơi an táng đại thi hào Nguyễn Du ở Huế, sau khi ông qua đời vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (16/9/1820).

  • TRẦN KIÊM ĐOÀN 

    Sông Hương vừa là cột mốc làm chứng vừa là biểu tượng cho dáng đẹp sương khói, “áo lụa thinh không” của lịch sử thăng trầm về hình bóng Huế.

  • ĐỖ XUÂN CẨM

    1. Đôi điều tản mạn về Liễu
    Người Á Đông thường coi trọng luật phong thủy, ngũ hành âm dương, họ luôn chú trọng đến thiên nhiên, cảnh vật và xem đó là một phần của cuộc sống tinh thần.

  • TRƯỜNG PHƯỚC  

    Đất nước hòa bình, thống nhất, thực hiện công cuộc đổi mới phát triển đã 40 năm. Những thành tựu là có thể nhìn thấy được. Tuy nhiên, muốn phát triển, công cuộc đổi mới cần được thúc đẩy một cách mạnh mẽ có hiệu quả hơn nữa.

  • LƯU THỦY
     
    KỶ NIỆM 40 NĂM GIẢI PHÓNG THỪA THIÊN HUẾ (26/3/1975 - 2015)

  • LÊ VĂN LÂN

    Một mùa xuân mới lại về trên quê hương “Huế luôn luôn mới” để lại trong tâm hồn người dân Huế luôn trăn trở với bao khát vọng vươn lên, trả lời câu hỏi phải tiếp tục làm gì để Huế là một thành phố sáng tạo, một đô thị đáng sống. Gạt ra ngoài những danh hiệu, kể cả việc Huế chưa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, vấn đề đặt ra đâu là cái lõi cái bất biến của Huế và chúng ta phải làm gì để cái lõi đó tỏa sáng.

  • THANH TÙNG

    Ở Việt Nam, Huế là thành phố có tỉ lệ tượng lớn nhất trên diện tích tự nhiên và dân số. Không chỉ nhiều về số lượng mà còn đạt đỉnh cao về chất lượng nghệ thuật, phong phú về đề tài, loại hình, phong cách thể hiện.

  • ĐỖ MINH ĐIỀN

    Chùa Hoàng giác là một trong những ngôi cổ tự nổi tiếng nhất xứ Đàng Trong, được đích thân chúa Nguyễn Phúc Chu cho tái thiết, ban sắc tứ vào năm 1721. Tuy nhiên, vì trải qua binh lửa chiến tranh chùa đã bị thiêu rụi hoàn toàn. Dựa trên nguồn sử liệu và kết quả điều tra thực tế, chúng tôi cố gắng để phác thảo phần nào nguồn gốc ra đời cũng như tầm quan trọng của ngôi chùa này trong đời sống văn hóa cư dân Huế xưa với một nếp sống mang đậm dấu ấn Phật giáo.

  • TRẦN VĂN DŨNG

    Cách đây đúng 500 năm (1514 - 2014), tại ngôi làng ven sông Kiến Giang “nơi cây vườn và dòng nước cùng với các thôn xóm xung quanh hợp thành một vùng biếc thẳm giữa màu xanh mênh mông của cánh đồng hai huyện”(1) thuộc xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, cậu bé Dương Văn An, sau này đỗ Tiến sĩ và làm quan đến chức Thượng thư được sinh ra đời.

  • DƯƠNG ĐÌNH CHÂU – TRẦN HOÀNG CẨM LAI

    Danh lam thắng cảnh, nơi cảnh đẹp có chùa nổi tiếng, khái niệm này càng rõ hơn ở Huế.

  • PHẠM HẠNH THƯ

    Du lịch Huế xưa
    Du lịch Huế có một lịch sử thơ ca dân gian gắn liền với những bước phát triển của mình.

  • LÊ VĂN LÂN 

    Khi nói đến xây dựng và phát triển Huế, không ai không nghĩ đó là một “thành phố xanh”. Đó không chỉ là suy nghĩ của những nhà đô thị hiện đại mà là một chuỗi trăn trở từ những người đầu tiên xây dựng Huế, những người dân bản địa đến các nhà nghiên cứu, nhà văn hóa, du khách đến Huế trong và ngoài nước.