NGUYÊN HƯƠNG
Từ trung tâm thành phố, chạy thêm 25km về hướng Đông Nam sẽ gặp xã Phú Hải (thuộc huyện Phú Vang) gồm 4 ngôi làng tên Cự Lại: Cự Lại Đông, Cự Lại Bắc, Cự Lại Trung và Cự Lại Nam (dân làng thường gọi chung là Cự Lại). Những ngôi làng này nằm kề sát nhau, có chiều dài khoảng 2km, trải dọc ven biển và phá Tam Giang.
Làng Cự Lại nhìn từ đầm phá
Nghe người làng kể lại, Cự Lại có tên nôm là làng Trài, do ngài bổn Thổ Tiền Phan Quý Công và các vị Thủy tổ thuộc nhiều dòng họ khai hoang lập ấp từ cách đây hơn 400 năm. Dấu ấn các hiền nhân khai canh còn in rất rõ ở nơi này qua những ngôi Từ đường của các dòng họ và bia đá ghi khắc cả trăm năm. Đặc biệt, con cháu dòng họ Phan ở ngôi làng này chiếm số lượng nhân khẩu đáng kể, làm đủ các nghề từ trí thức đến lao động bình dân như làm mắm ruốc, làm nông nghiệp, đi biển, chạy chợ...
Trong sương mờ hiện ra, những chiếc lu vại trên khoảng sân rộng chừng 100 mét vuông của một gia đình ở thôn Cự Lại Trung mà tôi bất chợt nhìn thấy đã khiến tôi nghĩ ngay đến nghề làm mắm ruốc nổi tiếng ở xứ này. Mùi thơm của tôm cá bốc lên trong nắng mai, không câu nệ khoảng sân rộng hay hẹp mà chủ yếu là tấm lòng của người làm mắm. Qua nhiều dâu bể đổi thay, nghề làm mắm ruốc ở Cự Lại đã được thay bằng công nghệ mới cho năng suất và lợi nhuận cao hơn nhưng nhiều gia đình vẫn giữ nguyên cách làm thủ công truyền thống. Tôm, cá được giã tay, ủ muối và mang chưng cất cho đậm vị.
![]() |
Lu mắm trong làng |
Cùng với hoa giấy Thanh Tiên, tranh dân gian làng Sình, rượu gạo làng Chuồn thì mắm ruốc Cự Lại được xếp vào danh mục những nét văn hóa bản địa đặc trưng của huyện Phú Vang nói riêng và tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung. Mắm ruốc vừa chín tới, mùi thơm còn nguyên ở đáy lu sẽ được mệ già bới ra làm nước chấm cho món cá nục cuốn bánh tráng. Mệ bảo, dù chân yếu tay mềm rồi nhưng vẫn gắng làm mắm ruốc để khi nào đám con cháu ở Mỹ về thăm nhà còn có ăn vì “tụi hắn không chịu ăn mắm đi mua nhà khác mà phải do chính tay tui mần”.
Gió thổi về từ biển, mang theo dư vị của mặn mòi trùng khơi. Làng nhỏ, nối đuôi nhau chạy một mạch xuyên suốt từ Thuận An về phía đi ra cửa Tư Hiền. Những giậu thưa phơi đầy quần áo không một chỗ trống, chắc do bị để lại từ những ngày mưa vừa qua. Hoa giấy rơi ngập con hẻm nhỏ, tiếng đài radio xen lẫn trong tiếng dạ thưa của học trò chào người lớn trước giờ tới lớp.
Đợt trước, bão số 4 Sonca gây mưa lớn khiến con đường dẫn vào xóm nhỏ bị lụt đến nay vẫn còn nguyên vết bùn lầy đã khô cong. Người già nói bọn trẻ tan học buổi chiều phải xắn quần dắt xe lội bì bõm qua chỗ lụt để về nhà. Chúng cười đùa rả rích chứ không rầu rĩ như người lớn, vì thật ra cảm giác được lội nước mưa với đám bạn cũng vui lắm chứ. Con nít chứ có phải người lớn đâu mà lo lắng về hàng chợ hôm nay.
Thấy tôi rón rén đứng trước ngõ, mệ cố vẫy tay vào. Mệ đang ngồi bào rau môn để bán cho mấy hàng cơm hến. Mệ đã 82 tuổi, ở một mình không có con cái, mỗi khi trái gió trở trời cái lưng lại đau nhức nhối nên làm không được việc. Mệ bảo, bưa lắm cô ơi, tối ni mệ nhịn đói rồi. Tôi bảo, rứa mà bữa ni con tính đến ăn chực nhà mệ đây. Mệ cười khà khà, tội hỉ. Nói rồi mệ châm thuốc hút ngon lành.
Xóm mệ ở hầu hết là dân vạn đò, buôn thúng bán mẹt, cuộc sống còn nhiều cơ cực. Mấy hàng tạp hóa con con được dựng lên từ tre nứa và mấy tấm tôn, phải những ngày mưa bão là bị làm cho rời rạc. Lá tre rụng xuống đầy cửa, thi thoảng lại có con chuột chạy quanh kiếm chỗ thoát thân. Thế mà vui lắm, mệ bảo, xóm ni không có mấy hàng tạp hóa tạm bợ này là buồn lắm cô ơi, như ngày ni họ đóng cửa, nhà mô mà hết gói muối là mệt đó...
Chiều đến, cả xóm lao xao tiếng trẻ nhỏ vui đùa. Phụ nữ lúi húi trong bếp lo cơm nước củi lả, đàn ông tranh thủ chèo thuyền thả tay lưới mong bắt được đàn cá mới theo dòng nước lên. Người chồng vừa đi thuyền về, được một mớ cá ngon lắm. Cá đuối vừa bắt xong, vẫn còn giẫy đành đạch. Chị vợ nói với đứa con, tối ni nhà có món cá đuối nướng rồi.
Xóm nhỏ ấy có nhiều đối cực với vẻ mộng mơ trữ tình dễ bề tìm thấy, với những mảnh rời bé mọn, thiếu thốn được phơi ra. Thỉnh thoảng còn có cả những câu hát lạc nhịp của thợ thuyền những ngày rớt bão khều khào, không biết bấu víu nơi đâu để tối nay đàn con no bụng. Đôi mắt than van những nỗi lo mưu sinh, nắng mưa chi mà khắc nghiệt, đến nỗi tiếng thở dài cũng thành xa xỉ. Nhìn dáng mệ còm cõi trong chiếc áo cánh mỏng dính, tôi cảm giác như một màu xanh nào đó cũng lo toan chỗ phơi mình dưới nắng, nhan sắc nào rồi cũng phải cũ đi. Mỏng mảnh và âu lo, trong mưa dầm nắng cháy, cây tre nhỏ dướn mình ra bãi đất bạc màu khánh kiệt, đặng tìm ra một chỗ cắm rễ sâu.
Đi thêm mấy bước vào sâu trong ngõ, ngửi thấy mùi nhang khói đốt lên. Chạng vạng rồi, mưa vẫn rơi nặng hạt, tiếng lanh canh chén đũa vang lên những sinh khí ấm cúng của xóm nhỏ ven sông. Bởi biết rằng, dẫu trời có làm mưa thêm nhiều ngày nữa thì cuộc sống vẫn phải tiếp tục như thường.
*
Mưa rả rích mấy ngày nay. Trong tiếng rền của sấm, thấy hơi thở mùa thu đang đến rất gần. Ngày thứ 2 ở Cự Lại, tôi rảo bước quanh ngôi làng ven biển này đặng tìm kiếm một điều gì mà chưa thể gọi được tên. Gặp chợ, lòng tở mở một nỗi vui không giấu diếm vì bất kể khi đi đến một vùng đất nào, chợ là nơi mà tôi muốn ghé nhất. Vì chợ phản ánh rõ ràng diện mạo cuộc sống con người sở tại. Đến đó, không hẳn để bán mua trao đổi mà đơn giản chỉ để ngắm nhìn và ngửi mùi tanh của tôm cá vừa đánh bắt xong.
Chợ Cự Lại nằm ở vị trí trung tâm con đường kéo dài 2km thuộc 4 thôn, được xây dựng từ năm 1998 - 1 năm trước khi trận lụt lịch sử diễn ra ở Huế và một số tỉnh ven biển miền Trung năm 1999. Trận lụt năm ấy, chợ bị hư hại nghiêm trọng. Đến nay đã gần 20 năm, chợ là trung tâm trao đổi hàng hóa của cả xã Phú Hải với sự đa dạng các mặt hàng nhưng ấn tượng nhất vẫn là những con cá tươi còn giãy đành đạch.
Còn đang lượn quanh chưa biết mua gì thì gặp một o đang chọn mua hạt đậu xanh, thêm bước nữa thấy o mua cá trê vàng. Đây là loại cá nước ngọt, được thương lái buôn về từ chợ đầu mối. Tôi tò mò quá, không biết o sẽ nấu món gì với những nguyên liệu ấy, đánh liều tới gần hỏi, sau mấy giây nhìn tôi suy nghĩ, o nói: “Cô có ngại không, về nhà tui ăn cho biết”. Được lời như cởi tấm lòng, tôi theo o về nhà ở Cự Lại Nam không chút ngại ngần.
Đó là một ngôi nhà trong hẻm, nhìn ra đầm phá mênh mông. O là con gái Thành Nội, lấy chồng và sinh sống ở đây đã hơn 30 năm rồi. Xuống bếp, o đang làm cá, rồi lọc hạt đậu xanh. Xong hai bước ấy, thấy o mang ra một bọc củ sen già. O nói, phải có củ sen già mới ra món này, không thì quá vô vị. Thì ra món ăn độc đáo đó chính là cá trê vàng hầm củ sen già - món ăn mà tôi đã được nghe cô giáo tôi nói đến một lần. Đây là món ăn giúp giải nhiệt và rất bổ dưỡng chỉ có ở mùa thu xứ Huế, vì đây là mùa sen đã già củ. Một món ăn phổ biến từ thuở xưa nhưng ngày nay ít người biết, thì hôm nay, chính tại ngôi làng ven biển này tôi lại được một o con gái xuất thân từ Thành Nội nấu cho ăn. Diễm phúc ấy khiến tôi vừa ngỡ ngàng như một giấc mộng cỏn con, vừa cảm động vì tấm lòng cởi mở của con người tại nơi này.
Tạm biệt người phụ nữ trong hẻm ấy, tôi nhận ra cốt cách của một người phụ nữ Huế xưa qua lời nói dáng điệu và cách bài trí món ăn truyền thống, dẫu có ở đâu vẫn không hề bị mai một. Nhìn theo bóng áo màu mận chín ấy chìm dần vào cuối hẻm, tôi tự nhủ sẽ còn tìm lại nơi này vì lòng còn giữ lại một lời cảm tạ chưa nói ra.
Chiều đến chậm chạp và trễ nải. Nắng nhạt dần, trú ngụ màu vàng mỏng manh của mình trên từng đụn cát, mui thuyền ở rìa biển. Phía xa, hàng dương đang reo trên đồi, chốc chốc lại có những cành cây khô gãy kêu lắc rắc. Đang mùa mưa bão nên nhiều chiếc thuyền nằm im trên bờ, tranh thủ nghỉ ngơi để ra khơi mùa mới. Ngoài bờ giậu, những người phụ nữ vừa khâu lại tấm lưới vừa nói chuyện rôm rả. Thấy tôi giơ máy chụp hình, một người nói: “Chụp đi rồi gửi qua bên Mỹ hí” rồi nở nụ cười chất phác. Qua tìm hiểu mới biết, ngôi làng này có rất nhiều người đi Mỹ làm ăn sinh sống, trung bình cứ 3 nhà thì lại có 1 nhà có người đi Mỹ nên trong suy nghĩ của họ, Mỹ là một khái niệm rất quen thuộc.
Xế chiều, mặt trời bắt đầu võng xuống khu đất nghĩa trang Cự Lại. Phải thú thật rằng, hệ thống bia mộ và Từ đường ở đây được xây dựng rất khang trang, rộng rãi. Tuy không thể sánh với sự bề thế ở “thành phố lăng” An Bằng nhưng sự cầu kỳ, uy nghi của hệ thống tôn giáo - tín ngưỡng ở Cự Lại cũng đủ cho thấy nét đặc biệt trong tổng thể kiến trúc làng xã của một vùng đất ven chân sóng. Nhà cửa người dân có thể không cao sang nhưng lăng mộ, Từ đường lại rất tráng lệ - một phần do tinh thần đề cao tín ngưỡng của dân làng, phần khác do nguồn tiền hỗ trợ của các Việt kiều gửi về góp phần xây cất nơi yên nghỉ tươm tất cho dòng họ.
Rời mắt khỏi khu nghĩa trang, tôi nhìn sang khu đầm phá mênh mông trước mặt. Một hoàng hôn trong vắt, bình yên lạ lùng hiện ra. Đã 5 giờ chiều mà trên không vẫn có những tảng mây xanh ngắt, đổ bóng xuống mặt nước dưới lòng đầm. Một đàn trâu nối đuôi nhau tìm về nhà sau khi đã no bụng như nói hộ một chút dấu ấn nông nghiệp ở ngôi làng ven biển này. Khung cảnh miền quê yên lặng đến lạ, không có tiếng tàu thuyền, không có tiếng xe cộ chạy ngang. Chỉ có gió và nắng cuối ngày ở lại.
Tôi bỗng nhớ Antoine de Saint-Exupéry - tác giả của cuốn Hoàng tử bé đã bảo rằng: “Trong tất cả những khoảng thời gian của ngày, khoảnh khắc khó khăn nhất chính là lúc mặt trời lặn”. Nhưng chẳng hiểu sao tôi luôn thích khoảnh khắc đó nhất. Hoàng hôn và vẻ u huyền của ráng chiều tạo cảm giác cô đơn ngưng đọng vĩnh hằng nhất. Vì rực rỡ nào cũng qua nhanh, chỉ có tàn phai càng về cuối càng đẹp mãi.
Và trong ráng chiều làng chài hôm ấy, một hoàng hôn yên tĩnh ở lại, để nguyên vẹn là mình đón bình minh rạng sáng hôm sau.
N.H
(SHSDB27/12-2017)
HOÀNG NGỌC CƯƠNG
LGT: Trong quá trình tìm hiểu về sự nghiệp trước tác của Thái sư - Tuy Thịnh Quận công Trương Đăng Quế (1793 - 1865)(1), chúng tôi đã phát hiện ra bài tựa Ninh Tĩnh thi tập tự [寧靜詩集序: Bài tựa Tập thơ Ninh Tĩnh]; được in trong sách Trương Quảng Khê công văn tập [張廣溪公文集: Tap văn của ông Trương Quảng Khê], từ tờ 29a - 30a, tập sách hiện đang được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, dưới ký hiệu R.315.
TÔN THẤT BÌNH
Kim Long (còn được gọi là Kim Luông) vốn là đất các chúa Nguyễn chọn nơi lập phủ từ năm 1636 đến 1687. Năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Trăn mới dời phủ về Phú Xuân, cách Kim Long chỉ 3 cây số, dọc theo bờ Sông Hương.
CAO THỊ THƠM QUANG
Kinh thành Huế là tòa thành ở Cố đô Huế, nơi đóng đô của vương triều Nguyễn trong suốt 140 năm từ 1805 đến 1945. Hiện nay Kinh thành Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào ngày 29 tháng 3 năm 1993.
TRẦN VĂN DŨNG
Vừa qua, sau khi tấm hình chụp về Ngọ Môn không có 8 bộ mái lợp ngói thanh lưu ly ở lầu Ngũ Phụng xuất hiện trên các trạng mạng xã hội đã lôi cuốn một lượng lớn độc giả quan tâm tìm hiểu, đã có nhiều ý kiến bình luận đưa ra khác nhau.
TRẦN VĂN DŨNG
Nhà vườn truyền thống là di sản đặc trưng tạo nên bản sắc văn hóa Huế, ảnh hưởng lớn đến việc hình thành tính cách, tâm hồn của con người xứ Huế.
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Triều Sơn, một tên làng đã vào dạ người Huế bao đời nay, qua câu hò ru em vời vợi. Nhiều người Huế nghĩ rằng làng Triều Sơn chuyên buôn bán, với cụm từ “Triều Sơn bán nón” có trong bài hò ru em phổ biến.
THANH HOA - LÊ HUỆ
Chợ Đông Ba có vị trí đắc địa khi nằm ở trung tâm thành phố Huế, dọc bờ sông Hương, bên đường Trần Hưng Đạo, cách cầu Trường Tiền khoảng 100m về phía Bắc. Đây không chỉ là niềm tự hào của người dân xứ Huế mà còn là nơi để du khách tìm hiểu văn hóa vùng đất Cố đô.
VÕ QUANG YẾN
Tạp chí Sông Hương đã có nhiều lần đề cập đến vấn đề sông Hương và cầu Trường Tiền, nhất là về năm xây cầu: Phan Thuận An, Phụ trương đặc biệt số 2; Quách Tấn, số 23; Hồ Tấn Phan, Nguyễn Thị Như Trang, số 29.
“Màu vàng lồng lộng chảy tràn lá xanh” là bộ sưu tập 11 chiếc áo dài xưa, bảo vật của gia đình Tiến sĩ Thái Kim Lan, gồm long bào Vua Khải Định, áo dài gấm the, áo mệnh phụ, áo lụa vàng, áo dài Hoàng thái hậu, áo mệnh phụ công nương, áo gấm xanh rêu, áo xiêm, áo dài lụa vân xanh... Được sự hỗ trợ của Viện Goethe tại Hà Nội lần này bộ sưu tập được đưa từ CHLB Đức về trưng bày tại Bảo tàng Văn hóa Huế, từ 18/5 đến 12/6/2016. Nghệ sĩ sắp đặt Veronika Witte, cũng từ CHLB Đức, trực tiếp thực hiện trong một không gian vô cùng lý tưởng. Tại phòng trưng bày chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn nhanh chủ nhân bộ sưu tập.
PHẠM HỮU THU
Những ai đã từng qua lại con đường Ngô Quyền, hẳn sẽ mừng vui khi thấy nơi này vừa xuất hiện một công trình mà nhiều người quen gọi là Bệnh viện quốc tế Trung ương Huế. Đây là mô hình xã hội hóa được thành lập theo Quyết định của Bộ trưởng Y tế và Bệnh viện Trung ương Huế là đơn vị đầu tiên của cả nước (trong số 18 bệnh viện) được Chính phủ cấp tín dụng ưu đãi nhằm hiện thực hóa chủ trương này.
LÊ QUANG THÁI
Một thời trong quá khứ xa gần, người phương Tây đã từng gọi và như đặt tên cho Đô thành Phú Xuân Huế là “thành phố quan lại”.
Một số thông tin chung
Một trong những bài viết nêu vấn đề Hội Quảng Tri - Huế có thể bị xóa bỏ đã được báo Tuổi Trẻ nêu lên trong bài “Huế xóa bỏ dấu tích nơi cụ Phan Bội Châu từng diễn thuyết?” ngày 26/11/2015. Trong đó có cho biết:
Một số thông tin chung
Một trong những bài viết nêu vấn đề Hội Quảng Tri - Huế có thể bị xóa bỏ đã được báo Tuổi Trẻ nêu lên trong bài “Huế xóa bỏ dấu tích nơi cụ Phan Bội Châu từng diễn thuyết?” ngày 26/11/2015.
DƯƠNG PHƯỚC THU
Hội quán Quảng Tri hiểu một cách nôm na ý nghĩa về cái tên của hội quán này là nơi giao lưu, sinh hoạt văn hóa, giáo dục, khoa học, nghệ thuật... nhằm mở rộng sự hiểu biết.
LTS: Trong thời gian qua, báo chí trong nước đã phản ảnh về việc Hội Quảng Tri - nơi diễn ra các hoạt động khai trí ở Huế đầu thế kỷ 20 - được đề xuất phá dỡ, xây mới để làm …trụ sở UBND phường.
Đề xuất này khiến người dân Huế và những người yêu Huế nói chung, nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ Huế nói riêng lo lắng, nhiều ý kiến đề nghị cần cẩn trọng.
ĐỖ XUÂN CẨM
TƯỞNG HAI LÀ MỘT, NHƯNG MỘT MÀ HAI
Nhắc tới cây Bồ đề, hầu như đa phần người dân xứ Huế có cảm giác rất thân thuộc.
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Từ năm 1917, tạp chí B.A.V.H đăng bài “Cầu ngói Thanh Thủy” của R.Orban. Trong bài nghiên cứu này ngoài phần khảo tả cầu ngói, tác giả đã công bố bản dịch đạo sắc do vua Lê Hiển Tông ban khen bà Trần Thị Đạo, người có công đóng góp tiền của xây dựng cầu ngói Thanh Thủy.
NGUYỄN XUÂN HOA
Năm 1776, trong sáu tháng làm quan ở Huế, có điều kiện ghi chép những điều mắt thấy tai nghe, đọc kỹ văn thơ ở vùng đất Thuận Hóa để viết tập bút ký Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã đưa ra một nhận định mang tính tổng kết: Đây là vùng đất “văn mạch một phương, dằng dặc không dứt, thực đáng khen lắm!”.
Ở thời điểm năm 1987, GS Trần Quốc Vượng là người đầu tiên nêu quan điểm cần đổi mới tư duy lịch sử, nhận thức đúng sự thật lịch sử và thảo luận tự do, dân chủ, rộng rãi, trong đó có vấn đề xem xét lại nhà Nguyễn và thời Nguyễn.