Ứng xử với bảo vật quốc gia

15:02 08/05/2019

Tính đến đầu năm 2019, qua 7 đợt công nhận theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam đang sở hữu 164 hiện vật, nhóm hiện vật được tôn vinh là bảo vật quốc gia. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, vấn đề ứng xử với các bảo vật quốc gia đang tồn tại nhiều số bất cập, nhất là tình trạng can thiệp thô bạo với không ít hiện vật khiến dư luận bất bình.

Bảo vật quốc gia “Vườn xuân Trung Nam Bắc” bị hư hỏng nặng do thiếu hiểu biết trong công tác bảo quản.

Tắc trách hay thiếu hiểu biết?

Theo quy định để được công nhận, bảo vật quốc gia phải là những hiện vật, nhóm hiện vật đảm bảo các tiêu chí là hiện vật gốc độc bản; hiện vật có hình thức độc đáo. Đồng thời hiện vật phải có giá trị đặc biệt liên quan đến một sự kiện trọng đại của đất nước hoặc liên quan đến sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu, hoặc là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, nhân văn, giá trị thẩm mỹ tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại. Hoặc hiện vật phải là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu, có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định; hoặc là mẫu vật tự nhiên chứng minh cho các giai đoạn hình thành và phát triển của lịch sử trái đất, lịch sử tự nhiên... Có thể thấy, dù hình thức và nội dung tư tưởng có khác nhau thì tựu chung lại mỗi bảo vật đều gìn giữ và truyền tải một hay nhiều thông điệp và đã thực sự đi vào cuộc sống. Thế nhưng, đằng sau việc vinh danh các bảo vật thì cách thức bảo vệ đang bị chính những người trực tiếp quản lý, bảo quản tác động một cách thô bạo. 

Năm 2014, bia Sùng Thiện Diên Linh thời Lý được lưu giữ tại chùa Long Đọi Sơn (huyện Duy Tiên, Hà Nam) bị xâm phạm chỉ ngay trước thềm lễ công nhận bảo vật. Nguyên nhân chỉ vì muốn “tân trang” bia “sạch sẽ” trước ngày vinh danh Ban quản lý di tích đã thuê một tốp thợ “làm sạch” bia bằng cách dùng đá mài, giấy ráp, bàn chải sắt... Kết quả là những nét cổ kính rêu phong của tấm bia cổ bị xóa sạch, không thể phục hồi. Hay trước đó ở Thanh Hóa, vạc đồng Cẩm Thủy từ thời Lê Trung Hưng, sau khi được công nhận là bảo vật quốc gia lại bị bỏ lăn lóc ở hành lang Bảo tàng Thanh Hóa khiến dư luận rất bức xúc. Chưa kể câu chuyện hai trong số ba khẩu thần công của triều Nguyễn do ngư dân Hà Tĩnh phát hiện tại một con tàu bị chìm dưới đáy biển, khi giao nộp cho chính quyền địa phương và được công nhận bảo vật quốc gia năm 2013, chỉ có một khẩu đưa trưng bày và bảo quản trong phòng có cửa khóa cẩn thận, còn lại hai khẩu đặt trên đế gỗ tạm bợ, nằm chỏng chơ ngoài hành lang của Bảo tàng Hà Tĩnh…

Đặc biệt, mới đây là vụ việc bảo quản bức tranh “Vườn xuân Trung Nam Bắc” của cố danh họa Nguyễn Gia Trí tại Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM đã một lần nữa đặt ra một câu hỏi đây là sự tác trách hay thiếu hiểu biết của nhà quản lý? Bởi với một đơn vị có quy mô như Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM thì việc giao bảo quản một bảo vật quốc gia cho một người thợ sửa sơn mài không hiểu biết về nghệ thuật hội họa sơn mài là điều vô cùng khó hiểu. Theo đó, người bảo quản đã dùng nước rửa chén, bột chu, giấy nhám can thiệp quá mức bề mặt tranh. Do bị tác động vào bề mặt, tác phẩm mất đi lớp sơn bề mặt nên sự uyển chuyển, tinh tế liên kết giữa các mảng son, mảng vỏ trứng, mảng dát vàng trong tranh Nguyễn Gia Trí đã không còn giữ được. Về góc độ vật chất, tác phẩm hư hại khoảng 15%, do các mảng vỏ trứng trơ ra, các mảng dát vàng bị mài mòn, mảng hình tiếp giáp nhau bị lộ, mất đi sự uyển chuyển giữa mảng và nét. Được biết, bức tranh này được UBND TPHCM mua với giá khoảng 100.000 USD vào năm 1990 và trao tặng Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM. Tranh được trưng bày và lưu giữ từ đó đến nay tại đây. Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận tác phẩm của danh họa Nguyễn Gia Trí là bảo vật quốc gia.

Trách nhiệm thuộc về ai?

Trở lại vấn đề ứng xử với bảo vật quốc gia, thì sau một sự việc xảy ra lại là một sự tiếc nuối của các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử và cả người dân. Tuy nhiên, với những bài học “nhãn tiền” đó dường như với nhiều đơn vị, đặc biệt với nhiều địa phương vẫn chưa rút ra được những kinh nghiệm sâu sắc. Hiện tượng “mạnh ai nấy làm”, thậm chí “thích gì làm nấy” đã vô tình đẩy một số bảo vật quốc gia rơi vào tình trạng khóc dở, dở cười như hiện nay. Theo quy định của Luật Di sản những bảo vật quốc gia sau khi được công nhận thì bên cạnh gắn với danh hiệu còn đi liền với chế độ “bảo quản đặc biệt”. Do đó, điều kiện cần và đủ ở nơi được giao trọng trách lưu giữ bảo vật cần phải xác định thái độ trân trọng, bảo vệ đúng cách. Thế nhưng dường như sau niềm vui vinh danh nhiều bảo vật đã bị bỏ quên. 

Cùng với đó, có một thực tế là nhiều địa phương đến nay vẫn chưa đáp ứng ngay những yêu cầu cao của việc bảo tồn, gìn giữ những hiện vật vô giá này. Ngoài ra, tình trạng bảo vật được công nhận nhưng quá ít người biết đến. Nguyên do là hầu hết các bảo vật tại các điểm di tích chưa có biển chỉ dẫn hoặc giới thiệu. Người dân và du khách đến di tích chỉ tham quan, lễ Phật… chứ ít biết đến các bảo vật quý có trong di tích để chiêm ngưỡng thật kỹ. Chính bởi thiếu thông tin nên nhiều người đứng trước bảo vật quốc gia mà không hay biết đó là báu vật vô giá.

Xung quanh vấn đề này, TS Phạm Quốc Quân- thành viên Hội đồng Di sản Việt Nam cho rằng: “Với những bất cập ở các địa phương, di tích hay ngay cả các bảo tàng thay vì sử dụng nguồn kinh phí tổ chức những buổi lễ đón nhận hoành tráng, tốn kém chúng ta nên dùng nó để bảo quản và phát huy những bảo vật quốc gia sao cho thật hiệu quả”. TS Phạm Quốc Quân cũng gợi ý chúng ta có thể xây dựng một quỹ tu bổ hoặc một mô hình trưng bày riêng để nhận diện, tôn vinh dành riêng cho bảo vật quốc gia. Nhiều nước đã làm cuốn sách hoành tráng, hấp dẫn về cổ vật của Việt Nam để bán và đều có sức lan tỏa, kinh doanh cũng rất tốt. “Khi được tôn vinh, ghi nhận thì vinh dự phải gắn kèm theo trách nhiệm và phải có đủ điều kiện để giữ gìn bảo vật ấy. Ở nước ngoài, các bảo vật quốc gia hàng năm có kinh phí riêng dành cho bảo quản, có chế độ bảo vệ đặc biệt”- TS Phạm Quốc Quân nói. 

Có thể thấy, muốn bảo vệ tài sản vô giá của quốc gia được trường tồn với thời gian cần phải có cơ chế bảo quản, chăm sóc đặc biệt cùng những ứng xử mẫu mực và chuẩn khoa học. Bên cạnh các giải pháp tối ưu để bảo vệ thì công tác tuyên truyền, quảng bá cần được tiến hành thường xuyên và sâu rộng. Ở đó việc xuất bản các ấn phẩm giới thiệu thông tin, hình ảnh liên quan đến bảo vật quốc gia để cộng đồng nhận thức đúng giá trị và có ý thức trách nhiệm chung tay gìn giữ có lẽ là việc không “quá khó” với nhiều địa phương.     

Theo Minh Quân - ĐĐK

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.

  • Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.

  • Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.

  • “Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.

  • Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.

  • I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.

  • Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.

  • Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.

  • Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.

  • Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.

  • Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.

  • Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.

  • (Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)

  • Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.

  • Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.

  • Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.

  • Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

  • Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.