LTS: Tác giả của câu chuyện dưới đây, sinh ra và lớn lên ở làng quê Triều Sơn Nam, xã Hương Vinh, Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Anh sinh ra trong sự oan nghiệt khủng khiếp của cuộc sống khi buổi sáng mẹ anh quằn quại nghe tin đau xé mất chồng, buổi chiều mẹ đón nhận tiếng khóc chào đời của anh.
Tuổi thơ - Ảnh: Phạm Bá Thịnh
Nỗi gian nan khó nhọc thời ấu thơ trong một gia đình nghèo cùng cực đã không khuất phục được cậu bé giàu ý chí và nghị lực. Từ cậu bé chăn trâu, Hồ Văn Trung đã trở thành Chủ tịch Tập đoàn Trangs Group, có chi nhánh khắp toàn cầu. Những dòng dưới đây chỉ là những câu chuyện nhẹ nhàng trong một cuộc đời đầy bão tố, trích trong bản thảo cuốn tự truyện “Gian truân đời tôi” mà anh vừa gửi về cho Sông Hương. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
S.H
HỒ VĂN TRUNG
Tuổi thơ chăn trâu
Chúng ta không thể quyết định nơi mình sinh ra hay hoàn cảnh nào sẽ nuôi dưỡng mình. Sinh ra trong một hoàn cảnh éo le, lớn lên trong thiếu ăn, đói khổ nhưng hơn hết, tôi lại thấy mình là một đứa trẻ may mắn. Cuộc sống tuổi thơ ở nông thôn mà 80% dân số Việt Nam đang sống đã nuôi nấng và dạy tôi những bài học vô giá về cuộc đời. Chính những kiến thức, kinh nghiệm có được trong những năm tháng ấu thơ đó là cơ sở và hành trang chắp cánh cho mỗi thời điểm, mỗi giai đoạn đã qua trong cuộc đời tôi. Những thứ đó không phải ai cũng có, mặt khác là rất hiếm những người ở thành phố hoặc thành phần khá giả có thể tìm mua được.
Tôi lớn lên giữa mênh mông ruộng đồng, sông nước. Tuổi thơ tôi được đồng ruộng ôm ấp cùng những con nước hay những ngày trời nắng chói chang đến đỏ da. Từ nhỏ tôi đã ý thức được mình rất nghèo và phải biết phụ giúp, đỡ đần cho mẹ. Khi lớn khoảng 4 tuổi là tôi đã bắt đầu làm việc để san sẻ gánh nặng với mẹ. Công việc đầu tiên trong cuộc đời của tôi là chăn trâu. Ngày đó mẹ con tôi ở trong một túp lều nhỏ được dựng lên trên khoảng đất không rộng lớn mấy của nhà bà nội. Các cô chú bên nội cũng ở san sát cạnh bên. Nhà người nào cũng nghèo, phải lam lũ làm việc đầu tắt mặt tối không có ngày nghỉ. Tuy nhiên, mẹ con tôi vẫn là nghèo nhất vì không có ruộng vườn để cày cuốc. Tôi luôn ý thức được sự nghèo khổ của mình, tôi chưa bao giờ dám kêu đói với mẹ mỗi khi bụng rỗng tuếch và phát tiếng ọt ẹt thảm hại, cũng chưa bao giờ dám than mệt mỏi hay cực khổ khi phải làm bất cứ việc gì, dù nhỏ hay lớn. Chỉ cần nhìn thấy đôi vai gầy rộc của mẹ cứ ngày càng gù xuống, làn da mẹ đã thô ráp lại còn đen thui với quá nhiều vết nám hay chị hai phải sớm nghỉ học để nhường cho tôi được đến trường là tôi thấy lòng mình quặn thắt.
Trong gia đình bên nội, tôi là đứa cháu trai lớn nhất nên thường được các chú em của ba nhờ chăn trâu giúp. Thật ra với công việc đó thì tôi không kiếm được đồng nào nhưng đổi lại thì tôi được những bữa ăn trưa hoặc tối. Tuy cũng là những bữa ăn nhà nghèo đạm bạc bởi mấy chú cũng chẳng khá giả gì nhưng nó là một công việc thật sự quý báu, bởi nhờ nó mà mẹ không phải lo cho tôi một bữa ăn thì cũng đỡ được phần nào gánh nặng, dù cũng chỉ rất ít. Bấy nhiêu đó thôi nhưng tôi rất tự hào vì mình kiếm được một bữa cơm cho bản thân.
Mỗi buổi sáng tôi thường phải dậy thật sớm trước khi gà gáy. Đối với một đứa trẻ thì dậy sớm là một việc cực hình. Tôi cũng vậy thôi. Thời gian đầu khó khăn dữ dội, tôi nhờ mẹ đánh thức nhưng lần nào tôi cũng không dậy nổi. Riết rồi sáng nào cũng nghe mẹ đánh thức thế là vài ngày sau tôi cũng dậy được và từ đó thích nghi luôn với việc dậy sớm. Vào những mùa phải dậy sớm hơn thì tôi thường hay bị cóng và tay chân run cầm cập. Chiếc áo mỏng manh của tôi giữa những buổi sáng giá rét dường như quá nhỏ bé trước cái lạnh nên nó thường hay teo tóp lại. Cái lạnh đó đôi khi muốn đánh gục tôi. Có những hôm lạnh quá, tôi chỉ muốn rúc mình trong tấm bao bố mà mẹ con tôi dùng làm mền để sưởi ấm, tôi không thể nhấc người ra khỏi nó. Nhưng mà cuối cùng cũng phải ngồi dậy và dắt trâu đi ăn. Cái lạnh cắt da khiến những ngày này tôi trở nên đơn độc và buồn tủi hơn. Dù sớm hiểu hoàn cảnh nhưng tôi cũng chỉ là một đứa trẻ bình thường, không tránh được những cảm xúc tủi thân. Có lúc tôi cũng khóc nhưng rồi tôi biết nước mắt chỉ là thứ để giải tỏa những nỗi buồn trong lòng, nó không thể giải quyết được mọi chuyện, không thể thay tôi làm việc, không thể ăn giùm tôi, cũng không thể giải thoát cái nghèo. Lúc này thì những chú trâu như những người bạn thân thiết, tôi thường ôm và ve vuốt chúng để tìm một chút ấm áp. Mấy con trâu dường như cũng hiểu được cảm giác của tôi nên đuôi cứ vẫy vẫy như thể hiện sự đồng cảm. Lúc đó tôi cũng thấy phần nào được an ủi, ít ra thì tôi vẫn còn những người bạn trâu đáng yêu bên cạnh trong những lúc như thế này.
Có những mùa phải dắt trâu đi trễ thì không bị cái lạnh đáng ghét bấu víu và có thể ngủ được lâu hơn nhưng lại kéo theo hệ lụy là đến trường muộn. Những hôm như vậy tôi đến lớp thường bị giam ngoài cổng, năn nỉ mãi mới được cho vào trường. Đến lớp với bộ quần áo lôi thôi lếch thếch do vội thể nào tôi cũng bị thầy cô la rầy cho một trận. Thêm nữa là còn làm trò hề cho mấy đứa bạn trong lớp, chúng nó lại có một trận cười ra trò. Nếu hôm nào trời mưa thì tôi không dắt trâu ra đồng nhưng phải đội mưa để đi cắt cỏ đem về cho trâu ăn. Mưa nhỏ thì không nói gì chứ mưa lớn là không thấy đường mà đi cắt cỏ. Đường sá thì trơn trợt. Lúc đó tôi thấy con người thật nhỏ bé trước thiên nhiên và nhận ra rằng con người ta phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều.
Chắc quý độc giả không quên hình ảnh cậu bé mái tóc ba vá ngồi trên lưng trâu thổi sáo có thể dễ dàng tìm thấy trong mọi tủ sách của các em thiếu nhi. Trong hình ảnh ấy, cậu bé có chút chững chạc khi ngồi trên lưng trâu vững vàng (đây là một độc chiêu, tôi cũng phải luyện tập một thời gian mới ngồi lên được) nhưng lại rất hồn nhiên, tinh nghịch trong thần thái, biểu cảm và cử chỉ làm cho chúng ta có chút thèm muốn. Tôi cũng đã từng là một cậu bé hạnh phúc và khiến người ta thèm muốn như vậy. Cảm giác ngồi trên lưng trâu tuyệt vời lắm, như thể bạn có thể cưỡi được cả thế giới trên lưng, thổi sáo như thể âm thanh của nó có thể với tới tận trời cao, lắc lư trên lưng trâu cứ như thể cuộc sống dừng lại, lắng đọng, chỉ có mình tôi và cả không gian đất trời mênh mông. Lúc đó thì sự nghèo khổ, đói rách của mỗi đứa trẻ đều tan biến như những hạt cát giữa sa mạc rộng lớn. Chỉ còn lại nơi đó một tình yêu bền chặt với đồng ruộng, với bầy trâu, với từng thớ đất mà chúng tôi đi qua. Cuộc sống bình yên và đẹp như vậy đó. Đừng bảo nghèo khổ là cái tội, quan trọng là trong nghèo khổ, ta biết tận hưởng, nâng niu và gìn giữ những giá trị đẹp nhất, vì nó chính là thứ giúp chúng ta cân bằng và có thêm niềm tin vào cuộc đời, phấn đấu cho một tương lai tươi đẹp hơn. Để sau này khi nhìn lại, ta có cái mà tự hào, giống như tôi của ngày hôm nay vậy.
Nhiều người vẫn nghĩ chăn trâu tức là cho trâu đi ăn cỏ và ngồi một chỗ đợi, trông coi nó. Thật ra thì không đơn giản như vậy. Ngoài việc hiển nhiên là cho trâu ăn cỏ thì phải kiêm cả tắm trâu và dẫn trâu đi đạp lúa. Thời nay thì người ta không còn sử dụng trâu cho việc đạp lúa nữa nhờ có máy tuốt lúa nhưng thời tôi còn nhỏ thì đa số các gia đình đều dùng trâu cho công việc này.
Vào mỗi buổi trưa hè oi bức hoặc buổi chiều tôi phải dẫn trâu xuống sông để tắm. Khi tắm cho trâu tôi phải cọ xát thân trâu như là từng tắm cho những đứa con nhỏ của tôi vậy. Trong trường hợp này thì không dễ chịu chút nào vì da trâu không như da em bé và người trâu cũng không thơm mùi sữa! Còn trâu thì to đùng, gấp mấy lần đám trẻ chúng tôi nên phải mất rất nhiều thời gian mới tắm xong cho trâu. Mỗi lần tắm trâu thì tôi phải dùng thật nhiều sức mới tắm cho nó được đàng hoàng. Mỗi lần như vậy cũng là một lần tôi tắm dù chẳng sạch sẽ gì. Tuy vậy thì cảm giác được bơi lội cùng trâu khoan khoái vô cùng. Tôi thường cùng mấy đứa trẻ chăn trâu thi chà xát cho trâu và đua cưỡi trâu trên sông. Khi đó chúng tôi thường xem những lần tắm trâu là những trận thủy chiến. Mỗi đứa ngồi trên lưng trâu vừa chà vừa làm động tác như một vị anh hùng đang cưỡi rồng đi đánh quân địch. Chưa đuổi được quân địch thì mấy anh hùng đã lấm lem bùn đất và nhiều khi rớt xuống đất mất tiêu rồi! Tắm cho trâu xong thì đứa nào cũng ướt như chuột lội nhưng ai cũng phấn khích ra mặt.
Ngoài tắm trâu thì tôi còn dẫn trâu đi đạp lúa. Có lẽ ít người biết đến công việc dẫn trâu đi đạp lúa vì hình ảnh này cuối những năm 70 đã không còn. Thường đến mùa gặt thì khi gặt lúa xong người nông dân gánh lúa về chất trên cái cươi (sân) ở nhà. Lúa được chất thành vòng tròn rồi trâu được dẫn vào cho đi vòng quanh trên đống lúa đó. Sức nặng và bước đi chậm chạp của trâu sẽ tạo thành một lực để tách hạt lúa ra khỏi thân lúa. Thường thì mất khoảng 6 tiếng trâu mới hoàn thành công việc này. Sau đó thì người nông dân sẽ dẫn trâu ra và bắt đầu xới đống lúa lên để lấy hạt lúa. Cũng trong giai đoạn đạp lúa này, có một trải nghiệm mà tôi muốn kể ra để quý độc giả hiểu thêm về giá trị của đồng quê. Khi dẫn trâu đi vòng vòng 6 tiếng thì người dẫn trâu cũng phải có lúc có nhu cầu cá nhân như tiểu tiện hay đại tiện thì sẽ nhờ người thay thế trong lúc đó. Trâu cũng có nhu cầu như người, vậy thì phải giải quyết ra sao? Trong trường hợp này, nếu không khéo trâu sẽ làm hư hết lúa. Nếu trâu tiểu tiện thì cứ cho nó tự nhiên trên đống lúa nhưng đại tiện lại là một vấn đề khác. Chính vì vậy, đây cũng là lúc người chăn trâu thể hiện khả năng và kinh nghiệm của mình. Khi trâu muốn đi đại tiện thì đuôi nó thường vẫy lên. Khi đó người dẫn trâu phải nhanh chân đi lấy đồ hứng phân trâu và buộc phải đi theo sau đít trâu để hứng cho đến khi nó chấm dứt thì thôi. Bởi vậy người chăn trâu phải luôn biết canh chừng từng cử chỉ của trâu để biết mà giải quyết khi có vấn đề, không được lơ là. Phân trâu không hôi, nó ướt và dẻo nhưng chỉ quen thuộc với người nông thôn vì đa số những người không quen với đồng quê nhìn vào sẽ rất gớm và không dám lại gần, nói chi đến việc hứng phân trâu.
Trong những ngày chăn trâu, trẻ chăn trâu có những thú vui mà hiện nay không còn thấy nữa, như bắt ong, nướng khoai ngoài đồng... chẳng hạn.
Thông thường thì ong làm tổ ở những bụi rậm kín đáo. Ong là loài động vật kị khói, vì vậy có một cách đuổi ong ra khỏi tổ là dùng khói. Một thứ mà tôi đã nhắc đến có tác dụng tạo ra khói chính là phân trâu. Nói điều này chắc nhiều độc giả bất ngờ vì không hình dung ra phân trâu lại có thể tạo ra khói, đuổi ong và giúp chúng tôi lấy được những cái tổ ong thơm ngon. Đó là một bí quyết mà chỉ những người sống ở đồng quê mới biết được. Phân trâu khô không có mùi hôi và khói bung ra rất nhiều, vì thế chỉ lấy một ít phân trâu khô đốt lên và cầm đi vào tổ ong thì tự nhiên bầy ong sẽ bay ra khỏi tổ. Cũng vì tôi đang cầm phân trâu nên lũ ong cũng không dám lại gần tôi mà chỉ bay tán loạn hòng mong thoát khỏi đám khói nghi ngút kia. Thế là tôi chỉ việc đợi những con ong bay đi hết là bắt đầu lấy tổ ong ra. Có lúc cũng lấy được khá nhiều, tôi đem về nhà và sử dụng như những thức ăn quý giá.
Tổ ong có hai cách để ăn. Thứ nhất là nếu vừa bắt được muốn ăn ngay ở đồng ruộng thì nướng lên mà ăn. Thứ dùng để nướng tổ ong cũng không phải thứ gì xa lạ, đó chính là phân trâu. Đến đây cũng hi vọng quý độc giả sẽ không ngại ngùng với phân trâu nữa vì như đã nói, nó không hề hôi và rất có ích trong nhiều trường hợp. Chúng tôi dùng phân trâu chất lại thành đống rồi đốt lên giống như một bếp than hồng vậy và cứ thế tổ ong được nướng lên. Nướng xong bóc lớp vỏ đen bên ngoài của tổ ong ra rồi thưởng thức những con nhộng nằm bên trong thì không gì tuyệt vời bằng. Ngon tuyệt cú mèo! Một cách khác mà chúng tôi cũng thường làm là mang tổ ong về nhà để dành hoặc xào với rau quả để bữa ăn thêm bắt mắt, dinh dưỡng vàngon miệng.
Nhắc đến những món nướng ngay ngoài đồng thì không thể không nhắc tới khoai nướng. Khoai thường là khoai lang và khoai mì chúng tôi đi mót ngoài đồng. Khoai sẽ được lùi vào đống trấu đã được chất lại trước đó rồi nướng lên. Một cách khác là dùng phân trâu như đã nói ở trên để nướng. Phân trâu nóng hơn trấu nên khi nướng khoai thì củ khoai sẽ bùi và ngon hơn khi nướng bằng trấu rất nhiều. Ăn khoai nướng bằng phân trâu thật là tuyệt. Có lẽ nhiều độc giả cũng thường nhìn thấy hình ảnh nướng khoai trong các bộ phim về cuộc sống ở thôn quê. Nhưng chỉ khi nào thật sự ở trong khung cảnh đó thì mới thấy được hết giá trị tuyệt vời của nó. Mùi khoai nướng thơm nồng, phảng phất mà đứa nào cũng chảy hết nước dãi chờ chín để được ăn. Giữa những ngày đông thì khoai nướng còn là thứ sưởi ấm những bàn tay và cái bụng lạnh giá của bọn trẻ con nghèo ở quê. Có những lúc trẻ con trong làng tụ tập hết ở giữa cánh đồng vừa nướng khoai vừa chơi trò đuổi bắt hay chơi trò đố vui. Những nụ cười hồn nhiên đến nghiêng ngả, tiếng reo hò phấn khích, cả tiếng cãi vã nữa, khiến cả đất trời ruộng đồng bao la như chật chội mà cũng thân thương hơn.
H.V.T
(SDB9/6-13)
BỬU Ý
Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí) từng sống mấy năm ở Huế khi còn rất trẻ: từ 1928 đến 1930. Đó là hai năm học cuối cùng cấp tiểu học ở nội trú tại trường Pellerin (còn gọi là trường Bình Linh, thành lập năm 1904, do các sư huynh dòng La San điều hành), trường ở rất gần nhà ga tàu lửa Huế. Thời gian này, cậu học trò 17, 18 tuổi chăm lo học hành, ở trong trường, sinh hoạt trong tầm kiểm soát nghiêm ngặt của các sư huynh.
LÊ QUANG KẾT
Ký
Giai điệu và lời hát đưa tôi về ngày tháng cũ - dấu chân một thuở “phượng hồng”: “Đường về Thành nội chiều sương mây bay/ Em đến quê anh đã bao ngày/ Đường về Thành nội chiều sương nắng mới ơ ơ ơ/ Hoa nở hương nồng bay khắp trời/ Em đi vô Thành nội nghe rộn lòng yêu thương/ Anh qua bao cánh rừng núi đồi về sông Hương/ Về quê mình lòng mừng vui không nói nên lời…” (Nguyễn Phước Quỳnh Đệ).
VŨ THU TRANG
Đến nay, có thể nói trong các thi sĩ tiền chiến, tác giả “Lỡ bước sang ngang” là nhà thơ sải bước chân rong ruổi khắp chân trời góc bể nhất, mang tâm trạng u hoài đa cảm của kẻ lưu lạc.
TRẦN PHƯƠNG TRÀ
Đầu năm 1942, cuốn “Thi nhân Việt Nam 1932-1941” của Hoài Thanh - Hoài Chân ra đời đánh dấu một sự kiện đặc biệt của phong trào Thơ mới. Đến nay, cuốn sách xuất bản đúng 70 năm. Cũng trong thời gian này, ngày 4.2-2012, tại Hà Nội, Xuân Tâm nhà thơ cuối cùng trong “Thi nhân Việt Nam” đã từ giã cõi đời ở tuổi 97.
HUYỀN TÔN NỮ HUỆ - TÂM
Đoản văn
Về Huế, tôi và cô bạn ngày xưa sau ba tám năm gặp lại, rủ nhau ăn những món đặc sản Huế. Lần này, y như những bợm nhậu, hai đứa quyết không no nê thì không về!
LƯƠNG AN - NGUYỄN TRỌNG HUẤN - LÊ ĐÌNH THỤY - HUỲNH HỮU TUỆ
BÙI KIM CHI
Nghe tin Đồng Khánh tổ chức kỷ niệm 95 năm ngày thành lập trường, tôi bồi hồi xúc động đến rơi nước mắt... Con đường Lê Lợi - con đường áo lụa, con đường tình của tuổi học trò đang vờn quanh tôi.
KIM THOA
Sao anh không về chơi Thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
(Hàn Mạc Tử)
NGUYỄN VĂN UÔNG
Hôm nay có một người du khách
Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên
(Xóm Ngự Viên - Nguyễn Bính)
HOÀNG THỊ NHƯ HUY
Tôi biết Vân Cù từ tấm bé qua bóng hình người đàn bà gầy đen, gánh đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, rảo khắp các xóm nhỏ ở Thành Nội, với giọng rao kéo dài: “Bún…bún…ún!” mà mẹ đã bao lần gọi mua những con bún trắng dẻo mềm.
LÊ QUANG KẾT
Tùy bút
Hình như văn chương viết về quê hương bao giờ cũng nặng lòng và giàu cảm xúc - dù rằng người viết chưa hẳn là tác giả ưu tú.
TỪ SƠN… Huế đã nuôi trọn thời ấu thơ và một phần tuổi niên thiếu của tôi. Từ nơi đây , cách mạng đã đưa tôi đi khắp mọi miền của đất nước. Hà Nội, chiến khu Việt Bắc, dọc Trường Sơn rồi chiến trường Nam Bộ. Năm tháng qua đi.. Huế bao giờ cũng là bình minh, là kỷ niệm trong sáng của đời tôi.
LÊ QUANG KẾT
Quê tôi có con sông nhỏ hiền hòa nằm phía bắc thành phố - sông Bồ. Người sông Bồ lâu nay tự nhủ lòng điều giản dị: Bồ giang chỉ là phụ lưu của Hương giang - dòng sông lớn của tao nhân mặc khách và thi ca nhạc họa; hình như thế làm sông Bồ dường như càng bé và dung dị hơn bên cạnh dòng Hương huyền thoại ngạt ngào trong tâm tưởng của bao người.
HUY PHƯƠNG
Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
Mà mưa trắng đất, trắng trời Thừa Thiên
(Tố Hữu)
PHAN THUẬN AN
Huế là thành phố của những dòng sông. Trong phạm vi của thành phố thơ mộng này, đi đến bất cứ đâu, đứng ở bất kỳ chỗ nào, người ta cũng thấy sông, thấy nước. Nước là huyết mạch của cuộc sống con người. Sông là cội nguồn của sự phát triển văn hoá. Với sông với nước của mình, Huế đã phát triển theo nguyên tắc địa lý thông thường như bao thành phố xưa nay trên thế giới.
MAI KIM NGỌC
Tôi về thăm Huế sau hơn ba thập niên xa cách.Thật vậy, tôi xa Huế không những từ 75, mà từ còn trước nữa. Tốt nghiệp trung học, tôi vào Sài Gòn học tiếp đại học và không trở về, cho đến năm nay.
HOÀNG HUẾ
…Trong lòng chúng tôi, Huế muôn đời vẫn vĩnh viễn đẹp, vĩnh viễn thơ. Hơn nữa, Huế còn là mảnh đất của tổ tiên, mảnh đất của trái tim chúng tôi…
QUẾ HƯƠNG
Năm tháng trước, về thăm Huế sau cơn đại hồng thủy, Huế ngập trong bùn và mùi xú uế. Lũ đã rút. Còn lại... dòng-sông-nước-mắt! Người ta tổng kết những thiệt hại hữu hình ước tính phải mươi năm sau bộ mặt kinh tế Thừa Thiên - Huế mới trở lại như ngày trước lũ. Còn nỗi đau vô hình... mãi mãi trĩu nặng trái tim Huế đa cảm.
THU TRANG
Độ hai ba năm thôi, tôi không ghé về Huế, đầu năm 1999 này mới có dịp trở lại, thật tôi đã có cảm tưởng là có khá nhiều đổi mới.
TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ
Có lẽ bởi một nỗi nhớ về Huế, nhớ về cội nguồn - nơi mình đã được sinh ra và được nuôi dưỡng trong những tháng năm dài khốn khó của đất nước, lại được nuôi dưỡng trong điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt. Khi đã mưa thì mưa cho đến thúi trời thúi đất: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi/ Mà mưa xối xả trắng trời Trị Thiên…” (Tố Hữu). Và khi đã nắng thì nắng cho nẻ đầu, nẻ óc, nắng cho đến khi gió Lào nổi lên thổi cháy khô trời thì mới thôi.