VIỆT HÙNG
Ký
Tuổi hai mươi tràn trề hoài bão lớn và tuổi hai mươi... Ở thời đại nào cũng được coi là lứa tuổi hồn nhiên trong sáng, ấp ủ bầu nhiệt huyết, khát khao làm được cái gì có ích cho đời.
Ảnh: tư liệu
Họ, ngày ấy, cũng là những chàng trai, cô gái ở độ tuổi hai mươi chan chứa tình yêu cuộc sống.
Bài hát "Xếp bút nghiên" đã trở thành một trong những bài hát lên đường của thanh niên Việt Nam. "Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu, xếp bút nghiên coi thường công danh, như phù vân sơn hà nguy biến, tiến ta tiến...". Ở đó, không chỉ ghi lại hào khí oai hùng của một thời kỳ lịch sử, mà còn khẳng định: chỉ có con đường duy nhất là giành độc lập tự do cho nước nhà. Phong trào xếp bút nghiên trở thành phong trào lớn của thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ mà Huế là một trung tâm chính.
Trước Cách mạng tháng 8.1945, cố đô Huế đã là đất ăn học, là trung tâm của những học đường, nơi hội tụ nhiều nhân tài của đất nước. Nhiều nhà thơ lớn đã trưởng thành từ đây rồi đi theo cách mạng như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Thanh Tịnh... Nhiều nhà trí thức mà tư tưởng yêu nước của họ đã sớm gây ảnh hưởng lớn trong tầng lớp học sinh, sinh viên Huế lúc bấy giờ như Tạ Quang Bửu, Tôn Quang Phiệt, Đào Duy Anh, Hoài Thanh, Phan Anh...
Ở Huế, một yếu tố đóng vai trò quan trọng cho sự thắng lợi cách mạng là đã nắm được hai lực lượng: sinh viên, học sinh và tiểu thương chợ Đông Ba.
Tư tưởng cách mạng đến với thanh niên Huế sớm nhất là từ tầng lớp học sinh, sinh viên, sau đó lan dần đến giới viên chức, thợ thuyền, tiểu thương... Những ngày đầu của tiền khởi nghĩa họ cùng hướng tới một mục đích cao cả là độc lập dân tộc.
Phong trào hướng đạo sinh của giáo sư Tạ Quang Bửu với tiêu chí rèn luyện sức khỏe và trí tuệ để làm việc thiện cho đời, là một lực lượng rất đáng kể cho cách mạng sau này. Lực lượng thanh niên của luật sư Phan Anh, người cầm đầu tổ chức mang tư tưởng tiến bộ, và lực lượng này trở thành tiền thân cho thanh niên Việt Minh về sau ở Huế. Lực lượng thanh niên cứu quốc, tiền thân của Đội tuyên truyền xung phong. Lực lượng thanh niên Phật tử, lực lượng thanh niên tự phát của tầng lớp công - nông rất muốn sự thay đổi nhưng chưa có tổ chức. Bởi lúc này tư tưởng Việt Minh từ những người thầy đã bắt đầu được nhen nhóm trong học sinh Huế có chiều sâu nhưng chưa rộng.
Thời gian từ 1943, khi có Tỉnh hội sinh viên Hà Nội bùng lên phong trào cứu quốc thì các bài hát yêu nước đã được phổ biến rộng rãi đến Huế. Các lực lượng thanh niên Huế thường xuyên tổ chức các buổi hòa nhạc, diễn kịch để khơi dậy lòng yêu nước cho mọi người.
Các trường học ở Huế lúc này do sự phân biệt đối xử của chính quyền thuộc địa nên đã xuất hiện sự mâu thuẫn gay gắt như giữa trường tú tài Tây với trường kỹ nghệ thực hành, giữa hướng đạo Tây với hướng đạo Việt... Huế lại là nơi chịu ảnh hương nhiều của lễ giáo phong kiến nên việc thanh niên thoát ly khỏi gia đình để đi theo cách mạng là điều không dễ dàng.
Nhiều người chủ chốt của thanh niên Huế thoát ly theo cách mạng xuất thân từ gia đình quyền quý, khá giả. Họ là những người có học thức (tú tài hoặc cử nhân học từ Hà Nội về). Đặc biệt là những tiểu thư con nhà khuê các nhưng rất năng nổ với lý tưởng độc lập dân tộc, sau này trở thành những nữ cứu thương trong phong trào Nam tiến như Võ Thị Thể, Ngô Thị Chính, Phạm Thị Cúc Hoa... Có người tuổi mới 15 đã tham gia ngoài mặt trận từ những ngày đầu như chị Tôn Nữ Ngọc Toản (sau này là giáo sư bác sỹ, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam). Điều đó khẳng định tinh thần yêu nước của thanh niên Huế, thôi thúc mạnh mẽ lương tri thời đại. Hơn nữa là những người có tri thức nên họ hiểu rõ sự tàn bạo của chế độ thuộc địa, phong kiến nên cùng hướng tới mục tiêu cao cả là chặt tan xiềng nô lên. Đó là cái hăm hở của tuổi hai mươi. Có độc lập rồi thì hướng đất nước về đâu? Tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc bắt đầu được truyền bá, thanh niên Huế mới thực sự tìm được hướng đi cho mình.
Tháng 3.1945 Nhật hất cẳng Pháp và lập ra chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim. Ngay sau khi thành lập chính phủ, Trần Trọng Kim đã sớm có ý đồ nắm lực lượng thanh niên, nhất là số thanh niên có học thức. Chính vậy mà Trường quân sự thanh niên tiền tuyến ra đời, hai ông Tạ Quang Bửu, Phan Anh được cử đứng ra thành lập. Mục đích của trường là đào tạo các sĩ quan phục vụ cho chính phủ. 43 sinh viên của trường đều có trình độ từ tú tài trở lên, có người đang học dở đại học, có người là hướng đạo sinh, có người đã là giáo sư, công chức... Họ là những trí thức trẻ giàu lòng yêu nước, tuy chưa hiếểu biết gì về cách mạng, về Việt Minh nhưng họ có ý thức dân tộc, mong muốn đất nước thoát khỏi ách thống trị của ngoại bang.
Tổ Việt Minh đầu tiên gồm các anh: Nguyễn Kèn, Lê Khánh Khang, Đặng Văn Việt, Võ Quang Hồ, Phan Hàm. Những buổi nói chuyện để khơi dậy ý thức dân tộc của luật sư Phan Anh; tạo điều kiện đưa tài liệu tuyên truyền về Việt Minh trong sinh viên của giáo sư Tạ Quang Bửu đã đem lại hiệu quả rất lớn. Từ tháng 7.1945 sinh viên Trường quân sự thanh niên tiền tuyến gần như đã được "Việt Minh hóa", tất cả đều háo hức chờ ngày khởi nghĩa giành độc lập.
Ngày 23.8.1945, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, lực lượng Thanh niên tiền tuyến đã đóng góp vai trò xung kích trong việc cướp chính quyền về tay nhân dân như việc hạ cờ quẻ ly để treo cờ Việt Minh, bảo vệ các mũi đi cướp chính quyền ở các công sở, giải phóng tù chính trị ở lao Thừa Phủ.
Chính quyền lâm thời tỉnh Thừa Thiên Huế thành lập thì lực lượng Giải phóng quân Huế (Giải phóng quân Thuận Hóa) ra đời, được chia thành 25 trung đội mà nòng cốt là các sinh viên của Trường quân sự thanh niên tiền tuyến. Rất nhiều thanh niên Huế noi gương đàn anh, tình nguyện gia nhập Giải phóng quân. Ngay những ngày đầu thành lập, Giải phóng quân Huế đã lập công xuất sắc, tiêu biểu là vụ bắt sống 6 tên biệt kích Pháp nhảy dù xuống Hiền Sỹ.
Trong những đoàn quân Nam tiến tháng 9.1945 Giải phóng quân Huế đã tham gia chiến đấu rất anh dũng trên các mặt trận Nha Trang và Sài Gòn. Đặc biệt 50 ngày chiến đấu đánh Pháp dũng cảm tại Huế, trận chiến đấu không cân sức của hai trung đội Tiếp phòng quân Việt Nam với giặc Pháp ở Sáp-phăng-jông (nay là cửa hàng số 1) ngày 25.12.1946, các chiến sĩ của ta hầu như đã chiến đấu đến người cuối cùng, 41 chiến sĩ hy sinh anh dũng, chỉ sống sót 2 người.
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Cùng với sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang trong cả nước, lực lượng vũ trang Thừa Thiên Huế mà nòng cốt là các sinh viên Trường quân sự thanh niên tiền tuyến đã phát triển không ngừng, cả số lượng lẫn chất lượng, có mặt ở rất nhiều chiến trường trong cả nước và ở nước bạn Lào. Nhiều trận đánh lịch sử khiến giặc Pháp phải kinh hoàng như ở đèo La Ngà, Ba Lòng trận đường số 9, phối hợp với bộ đội Lào tấn công Xavanakhét... Những trận đánh đó đều có phần đóng góp to lớn của những sĩ quan Trường quân sự thanh niên tiền tuyến.
Hơn 50 năm đã trôi qua, từ Huế ra đi là những chàng trai, cô gái ở tuổi hai mươi, mang sẵn trong mình bầu nhiệt huyết cao đẹp. Được lý tưởng cách mạng và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, họ đã trở thành những chiến sĩ cộng sản, góp phần không nhỏ vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Nhiều người đã ngã xuống. Nhiều người trở thành những tướng lĩnh, nhà khoa học quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam như: Cao Văn Khánh, Đoàn Huyên, Phan Hàm, Võ Quang Hồ, Nguyễn Kèn, Cao Pha, Đào Hữu Liêu, Mai Xuân Tấn. Nhiều người trở thành những cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước. Nay những người còn sống tuổi đã ngoài 70. Lịch sử mãi mãi ghi nhớ công ơn các anh chị, một thế hệ thanh niên tự nguyện đến với cách mạng, đến với sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Huế, tháng 2.1996
V.H
(TCSH85/03-1996)
TRẦN THỊ KIÊN TRINH
Mùa hè năm nay tôi có dịp trở lại Sài Gòn. Thành phố với bao đổi thay nhưng tôi chưa kịp nhận thấy hết bởi thời gian tôi lưu lại Sài Gòn quá ngắn ngủi.
HOÀNG HƯƠNG TRANG
Cũng lạ cho cái xứ Huế của tôi, cái chi cũng khác hơn thiên hạ. Nắng thì nắng cháy da phỏng trán, mưa thì mưa thúi đất thúi đai, dầm dề không dứt. Vài ba năm lại một trận lụt, trận bão to đùng.
BÙI KIM CHI
“Tháng 7 nước nhảy lên bờ”. Mà lên bờ thiệt. Mưa. Mưa. Mưa… kéo dài lê thê. Lúc đầu nhỏ sau lớn dần. Nặng hạt. Xối xả. Cây cối trong vườn ngả nghiêng theo mưa và gió. Cây Lựu trước sân nhà tôi tơi tả. Trời tối dần. Mưa càng lúc càng to. Ào ào như thác đổ. Mưa suốt đêm. Sấm đất cuốn vào mưa. Ầm ầm. Ào ào. Âm thanh rộn rã…
Khi những giọt mưa ngâu tháng bảy bất ngờ trở về, làm xao động cả bầu trời mệt mỏi đang chìm lặng trong lòng sông Hương, Huế bỗng rùng mình chợt tỉnh cơn mê mùa hạ. Đó cũng là thời khắc mùa Vu lan đang về trên đất trời cố đô.
Hồi còn học ở Trường Đại học Sư phạm Huế, tôi có hai người bạn, hợp thành một nhóm, thường uống rượu với nhau khi vui cũng như khi buồn.
LTS: Tác giả của câu chuyện dưới đây, sinh ra và lớn lên ở làng quê Triều Sơn Nam, xã Hương Vinh, Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Anh sinh ra trong sự oan nghiệt khủng khiếp của cuộc sống khi buổi sáng mẹ anh quằn quại nghe tin đau xé mất chồng, buổi chiều mẹ đón nhận tiếng khóc chào đời của anh.
NGUYỄN LỆ BA
Gia phả họ Nguyễn Quang ghi chép, tổ tiên chúng tôi là những người đã ra đi từ đất Huế. Thuở dong buồm về phương Nam đi tìm đất mới, những lưu dân đầu tiên đến dựng làng lập ấp trên vùng sông nước quê tôi chỉ vỏn vẹn vài dòng họ với đôi ba chục con người.
BÙI KIM CHI
Đã có một lần tôi được trở về thăm Huế vào một mùa trăng. Cảnh vật thiên nhiên trời ban riêng cho Huế làm Huế duyên dáng và đẹp lạ lùng vào những đêm trăng. Trăng Huế vì thế mà có nét đẹp rất riêng, là lạ, duyên dáng, lộng lẫy và quyến rũ trong phong cảnh vừa thơ, vừa duyên và lãng mạn của trời đất Huế về đêm.
NHÂN KỶ NIỆM 50 NĂM BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC VỊ PHÁP THIÊU THÂN
NGUYỄN BỘI NHIÊN
Một nam sinh như tôi lại học trường nữ trung học Đồng Khánh (trường THPT Hai Bà Trưng hiện nay), có thể một số người cho đó là chuyện lạ đời. Nhưng đấy lại là sự thật 100%! Tuy tôi chỉ học ở trường Đồng Khánh một năm lớp năm bậc tiểu học (bây giờ là lớp 1) vào khoảng những năm cuối thập kỷ 40 đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước. Nhưng không hiểu tại sao tôi lại còn nhớ nhiều những kỷ niệm về năm học đầu đời ấy mãi tới tận bây giờ.
TRIỆU BÔN
Hồi ký
Mùa mưa năm 1968 ở mặt trận đường Chín - Khe Sanh, trung đoàn 246 chúng tôi được gọi đùa là trung đoàn hai bốn đói. Ngày ngày chúng tôi sống bằng ba nguồn chính: thịt thú rừng, rau môn thục, và đỗ xanh.
NGUYỄN MẠNH QUÝ
Có lẽ bởi một nỗi niềm đau đáu về quê hương, nơi mình được sinh ra và chắt chiu nuôi dưỡng trong từng hạt cát, từng trận mưa dầm dề thúi trời thúi đất hay nắng lửa trên cồn khô cát cháy, mà những con người ở đây sẵn mang một tấm lòng lồng lộng gió trời trải đi khắp muôn phương...
BÙI KIM CHI
Tôi đang đứng ở đây. Bến xe đò Đông Ba của thế kỷ trước. Bùi ngùi. Xúc động. Bến xe đã không còn. Thật buồn khi nơi này đã vắng bóng những chiếc xe đò dân dã, thân thương thuở ấy cùng những tà áo trắng học trò dung dị với giọng Huế trong trẻo ơi ới gọi nhau lên xe kẻo trễ giờ học.
NGUYỄN VĂN UÔNG
Tùy bút
Tuổi càng cao càng có nhiều nỗi nhớ vu vơ. Tôi đang trong tình trạng đó. Nhớ cồn cào đến xao xuyến là mỗi dịp xuân về: Nhớ Tết quê tôi. Nhớ tuổi thơ tôi và nhiều nỗi nhớ khác nữa.
HOÀNG HƯƠNG TRANG
Thuở nhỏ, tôi thường trốn ngủ trưa đi nghe hát vè. Ở Huế lúc ấy gọi là nói vè, như theo tôi phải gọi là hát vè thì đúng hơn, bởi người hát có bài có bản, có giai điệu, trầm bổng, có cả nhạc cụ.
HỒ XUÂN MÃN
(Nguyên UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế)
Năm 1973, để chuẩn bị cho ký kết hiệp định Paris, Khu ủy và Quân khu Trị Thiên - Huế chủ trương tổ chức các lực lượng (bao gồm cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) tổ chức đánh chiếm các căn cứ và phân chi khu địch để giành đất, nắm dân, cắm cờ giành quyền làm chủ.
TRẦN THỊ NHƯ MÂN
Tôi sinh ra trong gia đình quan lại, đã mấy đời làm quan với triều đình Huế(1). Khi tôi lớn lên thì chế độ cai trị của thực dân Pháp đã bước vào giai đoạn ổn định sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Chiếc ngai vàng của nhà Nguyễn từ nay trở đi chắc không còn phải chịu những cơn sóng gió đáng kể chi nữa.
HUY CẬN - XUÂN DIỆU
Trích "Hồi ký song đôi"
Tháng 8 năm 1928 cậu tôi được lệnh của Sở học chính Trung kỳ đổi về Huế làm hiệu trường trường tiểu học Queignec ở phố Đông Ba.
LÊ QUANG KẾT
Bông hồng dâng mẹ
Vua Tự Đức - ông vua tại vị gặp cơn biến động trong lịch sử dân tộc, sinh thời nhà vua đã tán dương công ơn mẹ: “Nuôi ta là mẹ, dạy ta cũng là mẹ: Mẹ là Thầy vậy. Sinh ra ta là mẹ, hiểu ta cũng là mẹ: Mẹ là Trời vậy”.
TRẦN HOÀN
Hồi ký
Năm 1941 thi vào trường Quốc Học, tôi đỗ vào loại khá nhưng chưa đủ mức để được cấp học bổng toàn phần.