Khi nhắc đến tranh chép hay công việc chép tranh, nhiều ý kiến khắt khe cho rằng, chính những bức tranh chép đã làm lũng đoạn thị trường hội họa và ảnh hưởng xấu đến nền mỹ thuật nước nhà.
Một phòng tranh trên đường Bùi Viện, quận 1
Nhưng các phòng tranh chép hiện nay không đồng ý với điều này, họ cho rằng đã không gian dối với khách hàng và tranh chép hay công việc chép tranh được pháp luật công nhận.
Ai chép - chép ai?
Dọc theo các tuyến đường tại TPHCM như Trần Phú, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Đồng Khởi và đặc biệt là khu phố Tây đường Bùi Viện, Phạm Ngũ Lão, có khá nhiều phòng tranh. Với giá từ khoảng 500.000 đồng đến vài triệu đồng, người mua có thể sở hữu những bức tranh chép lại các tác phẩm nghệ thuật không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn lừng danh trên thế giới, của nhiều danh họa như Léonard de Vinci, Goya, Picasso… bên cạnh một số loại tranh phong cảnh, hay tranh décor (tranh trang trí).
Theo họa sĩ Hứa Thanh Bình, Phó Giám đốc nghiệp vụ Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM, về vấn đề tranh chép, Bộ Văn hóa - Thông tin đã có quy định cụ thể về “Quy chế sao chép tác phẩm tạo hình” ngày 5-5-2004, như sau: Sao chép tác phẩm mà chủ sở hữu là tổ chức, cá nhân Việt Nam phải được sự đồng ý của chủ sở hữu tác phẩm bằng văn bản (trừ trường hợp chủ sở hữu tác phẩm với người sao chép có thỏa thuận khác). Trường hợp sao chép tác phẩm của tác giả đã qua đời trên 50 năm thì không phải xin phép chủ sở hữu tác phẩm đó. Bản sao chép phải có kích thước lớn hơn hoặc nhỏ hơn tác phẩm gốc, trừ trường hợp sao chép bằng khuôn đúc hoặc khuôn in. Bản sao chép phải giữ đúng nội dung, hình thức như tác phẩm gốc. Bản sao chép tác phẩm tạo hình phải ghi ở phía sau các thông tin: chữ “bản sao” và tên tác giả, tên tác phẩm, chất liệu tác phẩm gốc, năm sáng tác (nếu có), tên người sao chép, kích thước bản sao chép.
Dù luật đã quy định, nhưng trên thực tế, các phòng tranh hiện nay ở TPHCM vẫn chủ yếu chép theo kích thước khách hàng yêu cầu. Nhiều thợ vẽ ở các phòng tranh cũng cho biết, hoàn toàn không ký tên hay chú thích gì lên sản phẩm. Đa phần người mua, người bán đều ngầm hiểu với nhau là tranh chép, nếu là các tác phẩm tranh của các họa sĩ nổi tiếng hay những tác phẩm đã lừng danh trên thế giới. “Tác phẩm của các họa sĩ nổi tiếng giá rất cao, nhiều tranh được đấu giá đến cả triệu USD là chuyện bình thường. Khách hàng tìm đến các phòng tranh chép chủ yếu vì giá cả phải chăng, nhưng vẫn có tranh đẹp theo ý thích”, anh Văn Cường, một thợ vẽ với hơn 10 năm cầm cọ trên đường Bùi Viện cho hay. Còn với những khách hàng là các nhà sưu tầm nghệ thuật, các nhà đấu giá thì nơi họ đến phải là các phòng tranh của các họa sĩ nổi tiếng hay các triển lãm tầm cỡ.
Hiện nay, thị trường tranh chép khá bão hòa và cũng không còn nhộn nhịp như trước. Đơn hàng chủ yếu từ những khách quen, khách nước ngoài và sản phẩm chủ yếu là tranh chép từ các tác phẩm của các danh họa nổi tiếng trên thế giới như Picasso, Van Gogh…“Khách nước ngoài thường đặt mua tranh chép làm quà, khách trong nước thì đa phần để trang trí nhà cửa, văn phòng hay quán xá”, anh N.H, chủ một phòng tranh trên đường Trần Phú cho hay.
Tranh chép, nên hay không nên?
Ý kiến từ các phòng tranh cho rằng: “Tranh mà chúng tôi sao chép không gọi là tác phẩm mà là hàng hóa. Có cầu có cung. Chứ giá từ vài trăm ngàn đồng hay vài chục USD một bức, lấy đâu ra tranh thật. Từ việc treo bảng hiệu đến giới thiệu với khách hàng, chúng tôi đều nêu rõ là tranh chép”, anh T.H, chủ một phòng tranh trên đường Bùi Viện cho biết.
Những người trong giới mỹ thuật tạm gọi tranh chép là dòng tranh thứ cấp, nhưng rõ ràng dòng tranh này vẫn phục vụ được một bộ phận khách hàng có nhu cầu. Đến nay, tranh chép hay công việc chép tranh hoàn toàn đã có quy định của pháp luật. Khách hàng vẫn còn nhu cầu tìm đến thì tranh chép vẫn có thị trường riêng.
Tuy nhiên, qua sự việc đáng tiếc khi một triển lãm tranh tại TPHCM bị phát hiện là sử dụng tranh giả đã tạo nên một làn sóng phẫn nộ không chỉ riêng với giới hội họa mà cả những người dành tình yêu cho mỹ thuật. Câu hỏi đặt ra, liệu có chăng một dòng tranh chép tinh xảo hơn, tuy không xuất hiện công khai nhưng đã làm ảnh hưởng xấu đến nền mỹ thuật nước nhà, cũng như danh dự của các họa sĩ có tên tuổi.
Theo Kim Loan – SGGP
Thư Sông Hương Vậy là năm đầu của thế kỷ XXI, của thiên niên kỷ III Công lịch đã qua. Mới ngày nào đó, khắp hành tinh này còn rộ lên niềm hoang mang và hoang tưởng về một ngày tận thế ở năm 2000 bởi sự “cứu rỗi” của Thiên Chúa hoặc bởi sự “mù loà” của máy tính. Mới một năm thôi mà thế giới loài người đã qua biết bao bất trắc, xung đột, khủng bố... và máu và nước mắt! May mà đất nước chúng ta vẫn được bình yên, ổn định, phát triển theo Đường lối Đại hội IX của Đảng. May mà dân ta vẫn còn nhu cầu Văn hoá tâm linh. Văn hoá tâm linh cũng là thuộc tính của văn học nghệ thuật. Các tờ báo văn nghệ tồn tại được chính nhờ nhu cầu đó. Qua một năm nhìn lại, Tạp chí Sông Hương chúng tôi ngày một được bạn đọc tin cậy hơn, cộng tác càng nhiều hơn, thật là điều vinh hạnh. Song, ngược lại, chúng tôi cũng lấy làm áy náy vì bài vở thì nhiều mà trang báo lại có hạn, không thể đăng tải hết được, nhất là số Tết này. Ở đây, nó mang một nghịch lý chua chát, bi hài như một nhà viết kịch đã nói: “Số ghế bao giờ cũng ít hơn số người muốn ngồi vào ghế”. Ngoài sự bất cập ấy, hẳn còn có những điều khiếm nhã khác mà chúng tôi không biết làm gì hơn ngoài lời xin lỗi, lời cảm ơn và mong được thể tất. Chúng tôi xin cố gắng chăm lo tờ Sông Hương luôn giữ được sắc thái riêng, có chất lượng để khỏi phụ lòng các bạn. Dù thế giới có biến đổi thế nào đi nữa thì Sông Hương vẫn mãi mãi muốn được thuỷ chung với bạn đọc, bạn viết của mình. Nhân dịp tết Nhâm Ngọ, Sông Hương trân trọng chúc Tết các bạn sang năm mới thêm dồi dào sức khoẻ, thành đạt và hạnh phúc. S.H
Các bạn đang cầm trên tay số kỷ niệm 25 năm thành lập Tạp chí Sông Hương. Mới ngày nào đó, một ngày hè tháng 6 năm 1983, trong niềm khao khát của không khí đổi mới trong văn học nghệ thuật, Tạp chí Sông Hương số 01 ra mắt và đón nhận sự hưởng ứng của công chúng. Đó là một sự khởi đầu được mong đợi từ hai phía: người viết và bạn đọc.
Gần đây đọc các bài của Trần Mạnh Hảo và Nguyễn Hùng Vĩ bàn về ba bài thơ Thu của Nguyễn Khuyến trên Văn nghệ (1), tôi thấy câu "Nước biếc trông như tầng khói phủ" trong bài Thu vịnh là câu thơ sáng rõ, không có gì khó hiểu mà lại được bàn nhiều. Mỗi người hiểu mỗi cách mà đều hiểu không đúng, chỉ vì không để ý rằng câu thơ này được viết theo lối "đảo trang".
(Nhân đọc: "Truyện Mã Phụng - Xuân Hương") * Truyện "Mã Phụng - Xuân Hương" trước đây còn được quen gọi dưới nhiều tên khác nhau, lúc là Vè Bà Phó, Vè Mã Phụng - Mã Long, khi là Thơ Mụ Đội, khi lại là Truyện Mã Ô - Mã Phụng v.v... là một tác phẩm văn học dân gian vốn được nhân dân Bình - Trị - Thiên rất yêu thích, phạm vi phổ biến trước Cách mạng Tháng Tám 1945 khá rộng.
Trên Tạp chí Sông Hương số tháng 3, nhân sự kiện Trần Hạ Tháp dành được giải A trong cuộc thi truyện ngắn của báo “Văn nghệ”, tôi vừa lên tiếng về sự “lặng lẽ” - một điều kiện cần thiết để làm nên tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị, nay lại nói điều ngược lại, vậy có “bất nhất” có mâu thuẫn không?
Trên thực tế, việc bảo tồn những vốn quý của cha ông để lại quả không phải là việc đơn giản, dễ dàng. Nhưng chúng ta sẽ không thể có sự chọn lựa nào khác bởi vì sẽ không có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nào cả nếu từ bây giờ chúng ta không biết giữ lấy những gì mình đang có.
Mang tên dòng sông duyên dáng thả mình bên thành phố Huế - SÔNG HƯƠNG, những trang tạp chí này là dòng chảy của những cảm xúc tươi đẹp trên “khúc ruột miền Trung” đất nước.
Từ xa xưa đến bây giờ, thường tục vẫn nói "sông có khúc người có lúc". Không biết Sông Hương bản báo năm rồi (năm tuổi 15) là sông hay là người? Có lẽ cả hai. Vậy nên cái khúc và cái lúc của nó đã chồng lên nhau - chồng lên nhau những khó khăn và tai tiếng!