Tô Hoài - Giữa sự viết và hư vô

08:27 21/07/2014

Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.

Tôi muốn nói về Tô Hoài bắt đầu từ một truyện ngắn ít được biết đến của ông – truyện ngắn “Tình buồn” được ông viết năm 1993. Với tôi, đây là một truyện ngắn cảm động. Nhân vật chính của câu chuyện là bà cụ Tứ, già sinh lẫn, nói trước quên sau, đám con cháu trong nhà phải cố gắng nhẫn nhịn chịu đựng. Thế nhưng trong mấy ngày cuối đời, bà lão lẩn thẩn trước đó còn khiến mấy đứa cháu trêu cười vì dở chứng hay ăn vụng trong bếp bỗng nhiên trở nên tỉnh táo, minh mẫn lạ thường. Bà lão sai con trai cả sang làng bên kia sông tìm một ông lão mà chỉ đến khi ấy, anh con trai mới biết ông lão kia từng là người yêu của mẹ mình. Chỉ đến khi ấy, đám con cháu trong nhà mới biết mẹ mình có một quá khứ gai góc thế nào. Thời còn con gái, bà cụ Tứ từng bất chấp sự can ngăn, thậm chí đòn đánh của cha mẹ, yêu một người con trai có địa vị thấp hơn, đến mức muốn hai người cùng nhảy xuống sông mà chết nếu không đến được với nhau. Người con trai bà yêu có nhiều lý do để không quyết định như thế. Trước ngày bị ép gả cho người khác, bà cụ Tứ bỏ làng đi. Rồi lấy một người khác, sống đời âm thầm, tránh tiếp xúc tối đa với thiên hạ, chỉ quanh quẩn làm lụng nơi ruộng vườn. Rồi già cả, khó tính, lẩm cẩm, mất trí nhớ. Chỉ riêng một điều duy nhất đã không tuột khỏi trí nhớ của bà: bà muốn gặp lại người đàn ông mình đã từng yêu năm nào chỉ để nói một lời xin lỗi. Xin lỗi vì đã chẳng hiểu nổi những éo le của ông khi ấy, khi quyết bỏ đi biệt chẳng để lại lời nào cho ông. Chỉ khi nói xong lời xin lỗi ấy, bà mới có thể nhắm mắt.

Nhân vật trong truyện ngắn ấy của Tô Hoài vừa đáng thương, vừa đáng trách nhưng đồng thời cũng vừa rất đáng trọng. Sự thấu đáo trong cái nhìn của Tô Hoài về con người có lẽ cũng là ở chỗ đó: ông thấy mình, thấy nhân vật của mình loay hoay một cách khốn khổ mà cũng buồn cười trong cõi đời lắm mối nhùng nhằng. Tôi thuộc lứa hậu sinh, tôi biết Tô Hoài trước tiên ở cái phần hồn hậu, trong sáng trong những truyện đồng thoại viết cho trẻ thơ, tôi không trải nghiệm một giai đoạn lịch sử văn học phức tạp với nhiều phép thử rất nghiệt ngã đối với nhân cách và văn cách của các nghệ sĩ để có thể xác nhận Tô Hoài là một người khôn ngoan, khéo léo, do đó, giữ được cho mình một vị thế yên ổn, vững vàng. Khi đọc truyện ngắn “Tình buồn”, tôi thấy ở ông một cái nhìn độ lượng, chân tình về con người. Sự độ lượng, chân tình ấy cũng là cảm giác tôi có được khi đọc những Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Ba người khác – những dấu mốc văn chương quan trọng cuối đời của ông. Đó là sự độ lượng, chân tình mà văn chương nên có, cần phải có để hiểu được con người thay vì chỉ chăm chắm phán xét, kết luận về nó. Văn chương khác với đạo đức và cũng mạnh hơn đạo đức cũng chỉ là ở khi nó thoái thác phán xét mà thay vào đó, cố gắng ghi lại, cố gắng lắng nghe những nỗi cắc cớ, oái oăm của những tình thế nhân sinh.

Bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Tình buồn” vào lúc cận kề với cái chết hơn bao giờ hết bỗng trở nên quyết liệt như chính mình thời con gái, khi phải nói bằng được lời xin lỗi với người đàn ông mình đã từng yêu vì hồi đó đã chưa biết thông cảm hết cho ông, chưa thấu hiểu được ông. Tôi cứ muốn nghĩ nỗi day dứt, nỗi khẩn thiết cần phải thành thật của nhân vật trong câu chuyện như là ẩn dụ về động cơ sáng tác của chính Tô Hoài ở giai đoạn cuối đời văn. Tuổi già khiến con người có một cảm nhận rõ rệt về sức mạnh của hư vô. Nó im lặng và lạnh lùng, nó gặm nhấm ký ức cá nhân, làm rơi rụng ngôn ngữ, nó từ từ đồng hóa những tự sự nhỏ, những lịch sử nhỏ vào một lịch sử lớn duy nhất, đông đặc. Chính trong điều kiện giáp mặt với hư vô ấy, sự viết thực sự trở thành sức mạnh bởi viết tức là làm hiện hữu, viết là phá bỏ một lịch sử đơn nhất và đơn trị. Một bộ phận đáng kể của văn chương Việt Nam đương đại chính là những tự thuật, tự thú cuối đời của các nhà văn như Nguyễn Khải, Chế Lan Viên, Bùi Ngọc Tấn..., đương nhiên trong đó có Tô Hoài. Có lẽ không nên quá nghiệt ngã khi chất vấn: tại sao chỉ đến lúc đó, lúc tiệm cận với hư vô, những câu chuyện như thế, những tự thú như thế mới được viết ra? Sự thật, nhất là từ những trải nghiệm cá nhân, khi được nói lên luôn đáng trân trọng và có lẽ không bao giờ là quá muộn. Đối mặt với hư vô – cái thứ câm lặng vô hình mênh mông ấy – thực ra cần nhiều can đảm để viết hơn người ta nghĩ. Lời của con người sẽ còn lại, độc lập với tiếng nói của thứ lịch sử luôn muốn lợi dụng khả năng hư vô hóa của thời gian để bảo tồn tính đơn nhất của nó. Chúng ta sẽ biết được gì ngoài thứ lịch sử đơn nhất ấy nếu như không có những lời tự thú, tự thuật kia?

Trong nhiều bài viết nói về kinh nghiệm viết văn, Tô Hoài hay nhắc đến tầm quan trọng của việc ghi nhớ, quan sát và bản thân ông cũng thường được nhắc đến như một mẫu mực của tài ghi nhớ và quan sát trong các tài liệu bàn về quá trình sáng tạo của nhà văn. Sự phong phú của kho ký ức vừa là ưu thế nhưng cũng vừa là trách nhiệm đối với nhà văn, nhất là khi hư vô mỗi lúc lại lừng lững hiện lên muốn phủ trùm lên ký ức. Bản thân nhan đề những tác phẩm của ông như Chuyện để quên, Chiều chiều, Cát bụi chân ai... đã bàng bạc một nỗi ám ảnh về hư vô. Kho ký ức của Tô Hoài chất chồng những mẩu chuyện nhỏ, những chi tiết có vẻ như lặt vặt, những quan sát tinh quái mà thật may ông đã không để lịch sử lớn quét chúng đi, để hư vô kịp khỏa lấp chúng. Những lịch sử nhỏ được Tô Hoài kể lại bằng một phong cách mang hơi hướng giai thoại và cái duyên trong cách kể chuyện của Tô Hoài, một phần quan trọng, nằm ở lối giai thoại này. Lối kể chuyện giai thoại tự nó đã gợi ra tính phi đơn nhất của lịch sử, nó cho thấy có thể có những sự thật khác nằm ở phía ngoài lề, ngoài dòng chính. Viết những lịch sử nhỏ ấy, Tô Hoài biến ký ức cá nhân của mình thành một ký ức công cộng, nơi đó, hư vô có thể phải dừng lại.

Giai đoạn cuối trong đời văn, Tô Hoài chủ yếu chỉ viết về “chuyện cũ”. Điều đó thiết tưởng không khó hiểu vì đối với người già, ký ức nhiều khi là phần giàu có nhất. Những chuyện cũ được làm sống dậy với những lớp ngôn từ mang đầy chứng tích, dấu vết của thời đại. Trên phương diện này, văn của Tô Hoài có thể xem như một bảo tàng lịch sử của chữ, nơi đó, ngay cả những chữ thô tháp, dân dã nhất của đời thường cũng được lưu giữ. Đọc Ba người khác, những lứa hậu sinh như chúng tôi có thể thấy được ngôn ngữ một thời bày ra trò chơi làm người ta khốn đốn như thế nào. Đọc Chuyện cũ Hà Nội, chúng tôi, những kẻ hậu sinh, biết được một đời sống ngôn ngữ sống động của người dân ngoại ô với những tiếng lóng, tiếng bồi, từ chỉ nghề nghiệp, từ chỉ bánh trái, thức ăn, trang phục... Ngôn ngữ Tô Hoài không hướng đến sự cầu kỳ, sang trọng với những phép tu từ duy mỹ kiểu Nguyễn Tuân, Vũ Bằng. Ông nghiêng về chăm chú lắng nghe, nâng niu lời ăn tiếng nói của những con người bình dân trong đời sống sinh hoạt hằng ngày. Hà Nội trong văn Tô Hoài không lấp lánh ánh sáng kinh kỳ, cũng không “nghèo mà sang”. Đó là một Hà Nội lầm than, lấm láp, chịu thương chịu khó với những con người ven đô bụi bặm, chân chất. Nhưng chính ở họ, từ quan sát của Tô Hoài, ta lại thấy được những tình cảm đạo đức rất tự nhiên hình thành giữa con người với con người. Đấy cũng là điều cần phải bảo lưu, không phải chỉ trên trang sách.

Tô Hoài viết để làm chúng ta nhớ. Khi sự hư vô xâm lấn mạnh mẽ vào đời sống ở mọi phương diện, chẳng đợi đến tuổi già người ta mới thấm thía, nhớ có lẽ cũng là một cách kháng cự.

Nguồn: Trần Ngọc Hiếu - Tia Sáng
 
 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN KHẮC VIỆN
                    Trích hồi ký

    - 75 rồi đấy, ông ơi! Viết hồi ký đi. Chuối chín cây rụng lúc nào không biết đấy!

  • Chiều 15-4-89, 14 giờ. Phòng họp của Hội VHNT Bình Trị Thiên đã chật hết chỗ, nhiều người ngồi lên bậc cửa sổ.

  • HỒ VĨNH

    Nhà báo Nguyễn Cửu Thạnh sinh ngày 15/6/1905 tại Phú Hội, thành phố Huế. Thuở thiếu thời ông là người ngay thẳng, vui tính, thích văn chương nghệ thuật; ông bước vào nghề báo từ năm 1929 và tham gia hoạt động tích cực trong phong trào Mặt trận Dân chủ tại Huế và hoạt động báo chí do Xứ ủy Trung kỳ chỉ đạo.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ

    Trong lịch sử xây dựng tổ chức văn nghệ trên đất Cố đô Huế 70 năm qua, nơi ghi dấu nhiều sự kiện, nhiều kỷ niệm nhất hẳn là ngôi nhà 26 Lê Lợi, bên bờ nam sông Hương.

  • Đó là đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điếu văn linh mục Phạm Bá Trực.

  • Từ Thượng thư Bộ Hình triều Nguyễn, cụ Bùi Bằng Đoàn đã vượt qua những định kiến của thời cuộc, của chế độ cũ - mới để tham gia chính quyền cách mạng.

  • HOÀNG VŨ THUẬT
                    Bút ký

    Hồi ấy tôi cũng là ông giáo làng, sáng đi tối về. Chiến tranh như cái máy ủi đã san phẳng bất cứ thứ gì dựng lên trên mặt đất.

  • Văn Cao là một trong những nhạc sĩ thuộc lớp tiền bối của nền tân nhạc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của ông luôn gắn chặt và hoà trộn với dòng chảy lịch sử của dân tộc. Nhiều tác phẩm của ông đã trở thành di sản âm nhạc quý báu của nước nhà. Trong đó, có tác phẩm Tiến quân ca - Quốc ca Việt Nam – mà ông là tác giả.

  • PHAN QUANG
                Hồi ký

    Vua Hàm Nghi ghé làng tôi. Vua nghỉ lại ở nhà tôi. Điều đó xảy ra một trăm năm về trước. Và nhà ấy là nhà của ông nội tôi.

  • Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Ngân Giang viết như một dòng sông tuôn chảy điều hòa. Bà là một hiện tượng trên thi đàn Việt Nam: người làm thơ liên tục dài năm nhất (từ 1922 tới khi bà qua đời- 2002), có số lượng thơ thuộc loại nhiều nhất (hơn 5.000 bài) có nhiều bài được truyền tụng (như Trưng nữ vương, Xuân chiến địa...)

  • KỶ NIỆM 68 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ (27/7/1949 - 2015)

    PHẠM HỮU THU 

    Trước khi ông Lê Sáu, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế qua đời, tôi may mắn được ông kể cho nghe nhiều chuyện, phần lớn là những ân tình mà đồng bào, đồng chí đã dành cho cách mạng trong những năm ác liệt của chiến tranh, nhất là những tấm gương lặng lẽ hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

  • PHAN NAM SINH

    Thầy tôi mất trưa hôm 16/1/1959 tại số nhà 73 phố Thuốc Bắc - Hà Nội. Sau khi cùng các anh chị tôi lo xong đám tang cho ông, mẹ tôi thu dọn tất cả số sách báo, sổ tay ghi chép, di cảo... của ông để lại vào trong hai chiếc va li loại lớn được ông mang về từ lần đi Trung Quốc dự lễ tưởng niệm 20 năm ngày mất của Lỗ Tấn.

  • Nhiều người Huế ngày trước thuờng ngâm nga câu hát: “ Cô gái nữ sinh Đồng Khánh kia ơi/ Cô đi về đâu tan buổi học rồi?/ Cô xuôi Đập Đá hay về Nam Giao/ Cô về Bến Ngự hay về Đông Ba / Cô về Vĩ Dạ hay ngược Kim Luông/… Tôi mơ một bóng khi về đơn côi/ Áo dài dáng đẹp tóc còn buông lơi/ Ghi một kỷ niệm cuộc đời trong tôi”.

  • BÙI KIM CHI 

    Vào Thành nội, hai con đường nhỏ hai bên hông trường trung học Hàm Nghi có lá phượng bay, có vòm nhãn che đường làm nền cho ngôi trường uy nghi, bề thế nằm ở giữa. Trước cổng trường có con đường nhỏ chạy ngang qua với hai hàng mù u lấp lánh nắng vàng tươi chụm đầu vào nhau nghe và thủ thỉ chuyện học trò.

  • THÁI KIM LAN

    Từ xa nhận được hung tin Thầy nhập viện trong tình trạng nguy cập, tôi nôn nóng muốn về, hi vọng được gặp lại Thầy.

  • HƯỚNG ĐẾN KỶ NIỆM 70 NĂM HỘI VHNT THỪA THIÊN HUẾ

    LÊ TRỌNG SÂM

  • 90 NĂM BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM(21/6/1925 - 2015)

    THANH NGỌC

    Sự hình thành và phát triển của Hội Văn học Nghệ thuật (VHNT) Thừa Thiên Huế kể từ khi ra đời đến nay đã gắn bó rất chặt với đời sống báo chí. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi những mầm xanh của VHNT rất cần được gieo trồng trên cánh đồng báo chí. Điều khác nữa, Huế - vùng đất từng là “thủ đô văn hóa” của cả nước, nơi báo chí phát triển cực thịnh mấy chục năm từ trước 1945 đến 1975, các nhà văn hoạt động mạnh mẽ trên lĩnh vực báo chí là lẽ đương nhiên.

  • TRANG ĐOAN

    “Một tiếng lôi đình kinh vũ trụ
    Tấm gương trung nghĩa động thần minh.”[1]

     

  • Nhân kỷ niệm 125 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tối 19/5 kênh VTV1 đã trình chiếu bộ phim tài liệu: Hồ Chí Minh - Bài ca Tự do. Có thể khẳng định: đây là một trong những bộ phim tài liệu đặc sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh mà tôi đã từng được xem.

  • NSND Trà Giang chia sẻ ký ức và cảm xúc về bức ảnh được chụp cùng Bác Hồ năm 1962.