Thừa Thiên Huế hướng về 1000 năm Thăng Long - Hà Nội

10:18 01/10/2010
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội là sự kiện có ý nghĩa trọng đại không chỉ đối với đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Nội mà còn đối với mọi người dân Việt Nam, kiều bào ta ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc. Trong dòng chảy 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Thừa Thiên Huế tự hào có gần 150 năm là kinh đô của nước Việt Nam, kế thừa những tinh hoa văn hóa Thăng Long trên vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân. Với tình cảm thiết tha về Thủ đô, về Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, tỉnh Thừa Thiên Huế đã triển khai nhiều hoạt động hưởng ứng tích cực.

Thừa Thiên Huế là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa đặc sắc và truyền thống cách mạng vẻ vang. Đây cũng là nơi in dấu ấn sâu đậm của Bác Hồ đã cùng với gia đình Người sinh sống, học tập thời tuổi trẻ. Thừa Thiên Huế có thành phố Huế - Cố đô của Việt Nam, là thành phố anh hùng “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường”, thành phố di sản văn hóa thế giới, thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam. Huế còn là trung tâm văn hóa và du lịch; trung tâm y tế chuyên sâu; trung tâm đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực của miền Trung và cả nước.

Thực hiện Chỉ thị 32-CT/TW, ngày 20/3/2009 của Bộ Chính trị về tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn trong hai năm 2009-2010, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế đã ban hành Nghị quyết để cụ thể hóa Chỉ thị của Bộ Chính trị về tuyên truyền, quảng bá 1000 năm Thăng Long - Hà Nội và Đại lễ kỷ niệm. Năm 2010 cũng là năm Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Ban Tổ chức các ngày lễ lớn của tỉnh trong hai năm 2009 - 2010 đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, có ý nghĩa hướng về 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, nhằm thể hiện tình cảm, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, giới thiệu và nâng cao tầm vóc Thủ đô Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung; biểu dương những thành tựu to lớn của quê hương, đất nước.

Cùng với sự phát triển của đất nước, thời gian qua trên địa bàn tỉnh đã có nhiều công trình được khởi công xây dựng, khánh thành, các họat động lễ hội để chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, góp phần phục vụ và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Các công trình ở Thừa Thiên Huế gắn biển chào mừng cấp quốc gia hướng về Đại lễ: Tượng đài Quang Trung - Nguyễn Huệ tại núi Bân.Đây là công trình văn hóa lớn, thể hiện niềm thành kính tri ân và tôn vinh công lao to lớn của người anh hùng “áo vải cờ đào”; khơi dậy niềm tự hào về một thời kỳ đấu tranh dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc, làm sống lại không khí hào hùng của đoàn quân Tây Sơn trước giờ xuất quân tiến ra Bắc đánh đuổi giặc ngoại xâm. Công trình khu tượng đài và di tích lịch sử văn hóa núi Bân hoàn thành trở thành điểm nhấn mang tính nghệ thuật cao, kiến trúc đẹp, trở thành một địa chỉ du lịch, văn hóa mới trên bản đồ du lịch của Việt Nam và Cố đô Huế.

Trong dịp kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng quê hương Thừa Thiên Huế, ngày 25/3/2010, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tổ chức Lễ khánh thành công trình Hiển Đức Môn - Lăng Minh Mạng. Công trình được các nghệ nhân có nhiều kinh nghiệm tiến hành trùng tu trong ba năm, sử dụng tối đa các vật liệu truyền thống như gỗ, các loại vữa cũ, ngói, gạch lưu ly, sơn ta, quỳ vàng... kết hợp với công nghệ thi công truyền thống nhằm hạn chế tối đa tác động thiên nhiên đến di tích. Nhờ dùng phương pháp trùng tu khảo cổ như phân tích chất liệu để xác định thành phần, công nghệ xưa và thời điểm xây dựng; bóc tách theo lớp sơn thếp, áo tường, lát nền để phục chế đúng hiện trạng cũ… nên Hiển Đức Môn được các chuyên gia đánh giá là giống với nguyên gốc thời mới được xây dựng lăng. Đây là công trình được Tập đoàn Than Việt Nam tài trợ để tri ân vua Minh Mạng, người đã ra đạo dụ cho khai thác than đầu tiên ở nước ta; và cũng là công trình trùng tu quan trọng, mang nhiều ý nghĩa hướng về 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Ngay từ đầu năm 2010, cùng với các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao... lễ hội chào mừng các ngày lễ lớn, các ngày kỷ niệm lịch sử của dân tộc, nhiều lễ hội trước Festival Huế 2010 được tổ chức, đóng góp vào chuỗi sự kiện chào mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, tiêu biểu như: Lễ đăng quang của Hoàng đế Quang Trung và khánh thành khu tưởng niệm anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ (9/1); Lễ hội Đền Huyền Trân (9/1ÂL) - lễ hội mang dấu ấn văn hóa - tâm linh, thể hiện tấm lòng của nhân dân tri ân Đức Vua Trần Nhân Tông và công lao mở cõi của Huyền Trân, công chúa Đại Việt tại vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế ngày nay; Lễ tế Xã Tắc (tháng 2 ÂL), lễ hội Sóng nước Tam Giang ở vùng đầm phá Tam Giang (Quảng Điền, 30/4 - 1/5);... và các hoạt động kỷ niệm 50 năm kết nghĩa “Hà Nội - Huế - Sài Gòn/ Là cây một gốc, là con một nhà”, để lại những ấn tượng tốt đẹp,... Có thể nói, không khí lễ hội hướng về 1000 năm Thăng Long - Hà Nội ở Huế được diễn ra liên tục, phong phú và sôi nổi, hiệu quả với quy mô lớn, đều khắp và đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của nhiều tầng lớp nhân dân.

Festival Huế 2010 là lễ hội văn hóa nghệ thuật, du lịch có quy mô quốc gia và quốc tế. Với chủ đề Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển, hướng tới 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, diễn ra từ ngày 5-13/6/2010, Festival Huế lần thứ 6 đã thành công rực rỡ. Lễ hội quy tụ những chương trình nghệ thuật đặc sắc. Đặc biệt nhiều chương trình nghệ thuật trong nước đã khắc họa khí phách của cha ông, khát vọng thống nhất non sông dựng nên nghiệp lớn từ Hoa Lư đến Thăng Long - Hà Nội. Lễ hội tái hiện Cuộc thao diễn thủy binh dưới thời các chúa Nguyễn khang định chủ quyền của đất nước Việt Nam bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, là ấn tượng oanh liệt, hào hùng một thời của dân tộc. Lễ hội Áo dài “Vọng thiên niên” được trình diễn trên nền nhạc là các bài hát về Hà Nội du dương, trầm bổng, sâu lắng, hướng về 1000 năm Thăng Long - Hà Nội một cách sang trọng, thướt tha và quyến rũ. Lễ hội “Hành trình mở cõi” là thiên lịch sử 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế được sân khấu hóa với nhiều loại hình nghệ thuật diễn xướng giàu chất ước lệ sử thi, tập trung khai thác tiến trình mở cõi của các chúa Nguyễn trong mối liên hệ với truyền thống của dân tộc và tình cảm của cả nước đối với đất Thăng Long. Các sự kiện được tái hiện trong đêm lễ hội với 1000 diễn viên, sân khấu dài 400 mét, thiết kế 5 tầng được công nhận kỷ lục Guiness của Việt Nam, đã khẳng định các bậc tiền nhân xác lập chủ quyền lãnh thổ dựa trên cơ sở đầy đủ các yếu tố lịch sử, địa lý, pháp lý, văn hóa; đặc biệt là tình cảm, tâm thức luôn hướng về nguồn cội của những lớp người Việt - nước non ngàn dặm ra đi... và trong hào khí “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.

Ngoài ra, các hoạt động triển lãm mỹ thuật của 5 vùng kinh đô Việt Nam xưa và nay gồm: Phú Thọ, Ninh Bình, Hà Nội, Huế và Thanh Hóa, phản ánh sâu sắc cuộc sống, con người của 5 vùng đất kinh đô xưa và nay. Chương trình quảng diễn mỹ thuật “Ký ức từ Cố đô Thăng Long đến Cố đô Huế”, cuộc sắp đặt diều Huế với số lượng 1.000 con diều trên cầu Trường Tiền đều mang ý nghĩa hướng về Thăng Long - Hà Nội.

Các họat động kỷ niệm những ngày lễ lớn trong năm đã được các ban ngành, địa phương trong tỉnh chủ động triển khai thực hiện, gắn với chủ đề 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, như: xây dựng phim tài liệu về quan hệ kết nghĩa, hợp tác giữa Huế - Hà Nội - TP Hồ Chí Minh; giới thiệu một số phim tư liệu lịch sử, tổ chức trưng bày giới thiệu tư liệu, di vật, cổ vật; triển lãm các tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh; phát động đợt sáng tác các tác phẩm VHNT, báo chí và tổ chức cuộc thi tìm hiểu về Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội; tổ chức Hội thảo: “Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế trong dòng chảy lịch sử 1000 năm Thăng Long - Hà Nội”, Liên hoan nghệ thuật quần chúng; xuất bản tập sách “Thăng Long - Hà Nội - Phú Xuân - Huế - Những gương mặt tiêu biểu” được dư luận hoan nghênh trong dịp Festival Huế 2010; tổ chức thành công hội chợ văn hóa, du lịch, thương mại Hà Nội - Huế - TP Hồ Chí Minh. Sắp đến trong dịp Đại lễ, tỉnh sẽ tổ chức triển lãm ảnh “Hà Nội - Thừa Thiên Huế, xưa và nay”...

Tỉnh đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo, hướng dẫn, đề cương tuyên truyền với hình thức, nội dung phong phú, đa dạng để quảng bá, giới thiệu về Thăng Long - Hà Nội. Hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp và trên các phương tiện thông tin đại chúng trong tỉnh đã thường xuyên tuyên truyền về Đại lễ đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Trên cửa ngõ bắc - nam của thành phố, các trục đường chính, trung tâm huyện lỵ, thị xã, những nơi công cộng đã được trang trí bằng nhiều khẩu hiệu, panô, áp phích, cờ hoa... Hoạt động tuyên truyền đã tạo khí thế chính trị sôi nổi, phấn khởi, góp phần quan trọng làm cho nhân dân trong tỉnh hiểu sâu sắc thêm và càng tự hào Hà Nội ngàn năm văn vật, thủ đô, trái tim thân yêu của cả nước, gắn liền với những giá trị văn hóa đặc sắc và ý nghĩa trọng đại của sự kiện Thăng Long - Hà Nội tròn 1000 năm.

Tinh thần tự hào và ý thức bảo vệ các di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội là nguồn nhựa sống trong tâm hồn các thế hệ công dân Việt Nam. Hà Nội bước vào năm kỷ niệm Đại lễ 1.000 năm trong một tâm thế “vận hội ngàn năm chưa từng có” đã đặt Thủ đô của đất nước trước những thời cơ mới. Chiều dài 1000 năm lịch sử thẳm sâu đã hun đúc, kết tinh, hình thành và nuôi dưỡng những giá trị văn hóa tinh thần đặc sắc của con người và vùng đất Thăng Long - Hà Nội mến yêu, được nhân dân trong cả nước trân trọng và ngưỡng mộ, được bạn bè quốc tế thừa nhận và tôn vinh.

Hướng về Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Đảng bộ và nhân dân Thừa Thiên Huế vinh dự góp phần bảo vệ, gìn giữ và phát triển di sản văn hóa của Thăng Long - Hà Nội trên đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế ngày nay. Những hoạt động của tỉnh đã thể hiện tình cảm sâu lắng, thiết tha của tỉnh nhà với con người và vùng đất Hà Nội trong mối quan hệ là cây một cội,con một nhà, luôn khắc sâu tình cảm của Thủ đô Hà Nội đã dành cho tỉnh nhà trong nhiều năm qua. Tự hào biết bao Hà Nội của chúng ta - Niềm tin và hy vọng!

PHAN CÔNG TUYÊN
(260/10-10)



Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.

  • Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "

  • Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.