HÀ XUÂN HUỲNH
Bút ký dự thi
Cách trung tâm Cố đô độ 30 cây số về phía Đông Nam, Tân Sa là một trong sáu làng - Mai Vĩnh, Khánh Mỹ, Tân Sa, Kế Võ, Xuân Thiên thượng, Xuân Thiên hạ - của xã Vinh Xuân, Phú Vang.
Ảnh: internet
Làng có từ khi nào, chẳng rõ. Lần giở “Ô Châu cận lục” do Dương Văn An nhuận sắc năm 1555 - đời nhà Mạc - không thấy; đến “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn viết năm 1776 - thời cuối các chúa Nguyễn - làng là một phường trong số 12 xã, 1 thôn, 9 phường, thuộc tổng Kế Thực, huyện Hương Trà; tới “Đồng Khánh địa dư chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn do Hoàng Hữu Xứng làm Tổng tài (tức Chủ biên), soạn xong năm 1887 - triều Đồng Khánh (1885 - 1888) - làng lại là một ấp thuộc tổng Kế Mỹ, huyện Phú Vang. Theo dòng lịch sử, địa danh tổng, xã, huyện nhiều lần đổi thay, tên làng vẫn thế!
Bị kẹp giữa biển và phá, trước đây, vào ra Tân Sa hầu như bằng đường thủy. Nhớ lại, người từng trải lắc đầu, thở dài, cảm thán bằng hai từ: cơ cực. Từ Huế, thuở xưa, đò rời bến Đông Ba chiều tối, chèo cả đêm, 8 giờ sáng hôm sau mới thấu. Gần hơn, tàu thủy - thực chất là thuyền gỗ, to như hai chiếc thuyền rồng bây giờ ghép lại, chở được trên dưới trăm người - tuyến Huế - Xuân Thiên hạ, ngày một chuyến, khởi hành từ Đông Ba, sát chân cầu Đông Ba khoảng 11 giờ, 4 - 5 giờ chiều là tới. Ngang địa phận, chấp nhận ướt quần, tàu ghé gần bờ rồi lội vào, còn không, tới bến đỗ phải cuốc bộ lên hơn hai cây số. Lúc về mới da diết bởi xong việc thì đã hết chuyến đò, mọi người góp tiền thuê đò lên Thuận An, bắt xe buýt Thuận An - Huế. Thanh niên trai tráng hay đạp xe về ngả Phú Bài, ngang Thủy Châu rẽ trái nặp theo đường liên thôn đến Viễn Trình, đi đò ngang qua Xuân Thiên Hạ.
Đò dọc đò ngang lùi về dĩ vãng khi ba cây cầu bê tông vĩnh cửu “nối những bờ vui”, Quốc lộ 49B thảm nhựa phẳng lì suốt từ cửa Thuận tới cửa Tư Hiền, ai nấy tự do lựa chọn lộ trình. Riêng tôi, tôi ít lặp lại - nếu xuống cầu cửa Thuận thì lên cầu Trường Hà hoặc ngược lại và thường chọn phương án 1 vì có dịp ghé thăm tháp Chăm Phú Diên mà do tính chất công việc, tôi và các anh Thanh tra Văn hóa có mặt ngay từ lúc mới phát hiện. Ngôi tháp mang trên mình nhiều cái nhất vừa được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (VietKings) và Liên minh Kỷ lục thế giới (WorldKings) công nhận là tháp Chăm cổ bằng gạch chìm sâu dưới cồn cát ven biển được khai quật và bảo tồn đầu tiên trên thế giới. Tân Sa cách đây không xa.
*
Vỏn vẹn 1,5 km2 diện tích tự nhiên với 158 hộ, 633 nhân khẩu, có 2 xóm - xóm trong và xóm ngoài, có 9 họ - họ Lê khai canh, họ Trần, Nguyễn, Phạm, Trương, Huỳnh khai khẩn, Tân Sa khá khiêm tốn so với các làng trong xã - diện tích Vinh Xuân là 18,09 km2, 8800 khẩu với 1913 hộ(1). Địa bạ thời Gia Long, giúp hậu sinh hình dung rõ hơn bản quán của mình: “Tân Sa khách hộ phường: đông giáp phường Khánh Mỹ, thôn Hoa Lộc và biển, tây giáp phường Khánh Mỹ và sông, nam giáp phường Kế Đăng, có cột đá làm giới, bắc giáp phường Khánh Mỹ, thôn Hoa Lộc, có cọc gỗ làm giới. Toàn diện tích 280 mẫu, 3 sào, 1 thước, 4 tấc, 5 phân. Tư điền 60 mẫu, 1 sào, 13 thước, 2 tấc. Gia cư, ruộng, mộ, hoang nhàn 220 mẫu, 3 sào, 3 thước, 2 tấc, 5 phân. Khe cừ 250 tầm(2)”.
Đáng nói, giữa làng - từ đường làng ra phá - có 5 cồn đất bao đời nay dân làng ra sức giữ gìn, coi đó là vùng đất hun đúc linh khí cho làng, được gọi theo dáng vẻ bên ngoài: Cồn Sách - giống quyển sách đang mở ra, Cồn Bút - dung đất dài giống hình cây bút, Cồn Nghiên, còn gọi là Vũng Vườn, ao nước không bao giờ cạn, tựa nghiên mực, Cồn Giếng - vũng nước có bờ bao quanh giống chiếc giếng và Cồn Nậy, đám đất vuông vức. Thật tiếc, thời gian, thời tiết và bàn tay của người vô ý khiến nhiều cồn biến dạng, mất dấu!
Bao bọc mạn tây Tân Sa là phá Hà Trung, cảnh đẹp thứ 16 trong “Thần kinh nhị thập cảnh” của vua Thiệu Trị. “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn mô tả: “Phá Hà Trung: Ở phía đông bắc huyện Phú Lộc, nước phá từ các sông Lợi Nông, Sư Lỗ và Cao Đôi tụ lại rộng hơn 2 dặm, chu vi hơn trăm dặm, có 2 đầm là đầm Hà Trung và đầm Minh Lương, nước đầm một đường chảy về phía đông nam ra cửa Tư Hiền, một đường chảy về phía đông bắc ra cửa Thuận An. Phá này trước thuộc huyện Phú Vang, năm Minh Mệnh thứ 15 đổi cho thuộc huyện Phú Lộc, năm Thiệu Trị thứ 3, thơ ngự chế “Thần kinh nhị thập cảnh” có một bài đề là “Hải nhi quan ngư” (Ra phá xem cá) khắc vào bia và dựng nhà bia ở bờ đầm Minh Lương”.(3)
Địa hình Tân Sa có 4 khu vực rõ rệt: từ bờ phá vào đường làng cỡ 400 mét, dài cỡ 600 mét, là dải đồng bằng, chia đôi phía ngoài là đất trồng lúa rộng 15 héc ta, bên trong là đất trồng hoa màu 18 héc ta, tiếp là khu dân cư đến trảng cát, dùng làm nơi chăn thả gia súc, nghĩa địa; tới cồn cát cao 9 - 10 mét, dài 400 - 500 mét chạy ra bờ biển. Đập rào - dân làng quen gọi phá là rào - rộng 3 mét, làm từ những năm 1959 - 1960, chạy từ cửa Thuận An xuống, vừa ngăn mặn vừa là tuyến giao thông dọc phá, nay hư hỏng nhiều. Do thiếu nước tưới nên 1 năm làm được một vụ - vụ đông xuân, còn hoa màu thì mùa nào thức nấy - khoai, sắn, đậu đỗ, mía, ớt,… Từ trái ớt bà con chế biến thành món nước ớt ngon nức tiếng hơn 30 năm nay.
Ngoài đất nông nghiệp, Tân Sa còn có 4 héc ta mặt nước đầm phá, 11 hộ chuyển sang nuôi trồng thủy sản với các loại có giá trị kinh tế, cho thu nhập ổn định và cao hơn làm nông. Hy vọng hướng đi mới sớm giúp người dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu bền vững.
Gần biển nhưng không theo nghề biển, dân làng Tân Sa chí thú ruộng vườn, một số làm thầy làm thợ. Điều kiện canh tác khó khăn trong khi người sinh sôi, đất đâu nảy nở, cuộc sống bần cùng đeo đẳng nên chẳng rõ từ bao giờ, lớp lớp người dân Tân Sa tha phương kiếm sống, hành trang mang theo chỉ là tính chuyên cần, chịu khó của người dân vùng gió cát, tinh thần cố kết cộng đồng và khát vọng tâm linh cháy bỏng; đặc biệt phụ nữ Tân Sa hết lòng chiều chồng thương con. Vượt lên chính mình, bỏ qua mặc cảm “người xa nguồn”, nhiều con em Tân Sa thành đạt, khá giả nơi đất khách. Thế là những “chim xa rừng” về làng giúp đỡ anh em, chung tay xây dựng nhà thờ họ, nhánh, sửa sang tôn tạo lăng mộ cha ông, đến nỗi có người đùa ở Tân Sa nhà thờ nhiều hơn nhà ở! Hầu hết người Tân Sa xa xứ có dịp là về và tâm tư muốn an nghỉ trên mảnh đất quê nhà để “nghe sóng vỗ dạt dào biển cả” đời đời! Ghé Tân Sa vào nửa cuối tháng 8 âm lịch hằng năm, lúc các họ các nhánh chạp mộ, mới thấy hết tấm lòng hướng về cội nguồn của “kiều dân” Tân Sa. Không khí lễ hội bao trùm đầu làng cuối xóm, nhà nhà rộn rã tiếng nói cười, chẳng cần biết đâu về, họ nào, gặp nhau tay bắt mặt mừng, thật đúng:
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”(4)
Trong số “kiều dân” Tân Sa ấy có ông ngoại, mệ ngoại tôi.
*
45 năm trôi qua, tôi còn nhớ như in hôm mẹ gọi anh em tôi, bảo rằng: ngày mai mẹ về làng với các dì. Anh em tôi tranh nhau xin đi cùng và phần thắng thuộc về anh, tôi ở nhà cho heo ăn, tiếp nhận một nhân khẩu tạm trú, con của dì, được biệt phái đến ngủ với tôi cho đỡ sợ. Nhìn nét mặt rạng ngời, háo hức của mẹ, tôi biết mẹ chờ đợi giây phút này từ lâu rồi, có lẽ đây là lần đầu mẹ về quê ngoại.
Đất nước thống nhất chưa đầy tháng, mẹ vượt tuyến về thăm quê. Nói vượt tuyến là vì qua cầu Hiền Lương phải có giấy phép qua lại giới tuyến, còn không thì lội sông Bến Hải. Lúc ra, mẹ toàn kể chuyện ông ngoại; rằng ông mất đã lâu, trước đó một thời gian, ông về làng sống nơi nhà nhánh, ngày ngày kiếm củi chất đống, gốc nào to thì bửa, hỏi thì ông nói để làm đám, ai cũng cười khi thấy ông còn khỏe; được ít hôm, ông đi! Vậy mà hơn hai năm, mẹ mới thu xếp được để về làng thắp hương cho ông.
Ân hận không hỏi song tôi đoán chắc lần về làng này là lần đầu cũng là lần cuối do đò giang cách trở, hồi nhỏ mấy khi mẹ được ông mệ cho đi theo; lớn lên chút nữa, mẹ phải phụ mệ ngoại buôn bán, sáng chợ Chử, chiều chợ Thông, lấy chồng, theo chồng tập kết, thử hỏi đi khi nào; do bạo bệnh, hơn 10 năm sau mẹ đi vào cõi vĩnh hằng! Mẹ tôi - người họ Trần 3 Tân Sa.
Tương truyền, thủy tổ họ Trần làng Tân Sa là ngài Trần Thọ Cảnh, làm quan dưới trướng chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687). Trong lần tháp tùng Hiền Vương xuống cửa Tư Hiền dựng chùa Thánh Duyên trên núi Thúy Vân(5), khi lên ngài dừng chân Tân Sa. Bằng con mắt của người am tường phong thủy, địa lý, nhận thấy cuộc đất tốt, ngài lập nghiệp tại đây, sinh hạ 4 trai, 1 gái. Con cái trưởng thành, vợ chồng ngài ra lại Thọ Xuân, Thanh Hóa. 4 con trai là trưởng họ - Trần 1, Trần 2, Trần 3 ở làng Tân Sa, Trần 4 khai canh, sinh sống tại làng Phương Diên bên cạnh.
Dương Văn An từng đúc kết: “Nếu không có nhân vật thì lấy gì để thấy rõ khi un đúc tốt đẹp của núi sông”(6). Với Tân Sa, anh em cô cậu Trần Như Sơn - Đặng Huy Trứ minh chứng cho điều đó.
Trần Như Sơn, người con họ Trần 3, sinh năm Ất Hợi (1815), năm mất và hoạn lộ của ông ngay con cháu đang thờ cúng cũng không rõ, chỉ biết ông và Đặng Huy Trứ làm quan đồng triều Tự Đức. Năm 1864, đi công cán Hạ Châu (tức Singapore) về, ông được ban hàm Hồng Lô Tự Khanh, sung chức Tham Biện Ty vận chuyển sứ. Hay tin, Đặng Huy Trứ đang là Bố Chánh Quảng Nam có thơ mừng cho là “ngọc lành vô giá bên nhà ngoại”(7). Tới 1869, ông tiếp tục được Trần Tiễn Thành đề cử đi Hạ Châu cùng Nguyễn Văn Hựu, Lê Huy để thăm dò tình hình(8). Bia chùa làng - Phước Sa tự - còn ghi: Tháng 6 năm Tự Đức thứ 27 ông là đốc công công trình này - “giám tạo Nội Vụ phủ Thị lang Trần Như Sơn”. Sử liệu triều Nguyễn cung cấp: đứng đầu phủ Nội Vụ là một Thị lang hàm chánh tam phẩm(9). Bia mộ của ông ở làng đơn giản với dòng chữ “Nguyên Tham Tri Bộ Lại…”.
Thân mẫu danh nhân Đặng Huy Trứ cùng họ, cùng nhánh với Trần Như Sơn. Cụ Đặng Văn Trọng, thân phụ Đặng Huy Trứ, răn dạy con cháu:
“Có vợ phải biết vợ từ đâu đến
Có con phải biết con do ai sinh ra”
Vì vậy, Đặng Huy Trứ luôn dành tình cảm đặc biệt với bên ngoại, thể hiện qua câu nói đến nay con cháu họ Trần 3 vẫn nhắc: có mẹ ta mới có ta! Chuyến công vụ lần hai (1867) trở về, ông dâng tặng họ ngoại 3 độc bình sứ, 5 đèn lồng nay còn lưu giữ ở nhà thờ họ Trần 3. Nhiều lái buôn lần mò tìm đến, trả giá rất cao 3 độc bình nhưng họ Trần từ chối. Theo ông Đặng Hồng Sơn tại hội thảo khoa học, danh nhân Đặng Huy Trứ, người khai lập ngành nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức tại Huế ngày 11/03/2018, đây là những đồ sứ đặc biệt do một vị quan nhà Nguyễn đi công cán nước ngoài đặt làm vì mục đích cá nhân có các chủ đề trang trí và hiệu đề do cá nhân người đặt hàng yêu cầu, “đặc biệt đến mức có cả một dòng đồ sứ làm giả đồ sư ký kiểu của Đặng Huy Trứ”.
Hậu duệ Đặng Huy Trứ, sau khi dịch và xuất bản các cuốn “Từ thụ yếu quy” và “Đặng Dịch Trai ngôn hành lục” của ông vào năm 1994, đã viết thư gửi sách tặng họ Trần 3. Thư có đoạn: “Đặng Huy Trứ, người cháu ngoại họ Trần, nhờ tiếp thu lời dạy của cha, của mẹ, và tình thương của bên ngoại, nên khi ra làm việc nước luôn tự coi mình là “con của thứ dân, hết lòng phục vụ nhân dân, quên mình”.(10)
Thời hiện đại, không thể không nhắc mảnh đất bé nhỏ này đã sản sinh cho quân đội ba vị tướng - trung tướng Trần Thanh Từ, thiếu tướng Trần Thanh Kỳ, thiếu tướng Huỳnh Thúc Tâm (tức Huỳnh Văn Dương).
Em họ mẹ tôi - Trần Đình Trung - sống trong căn nhà mặt tiền đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng từ trước 1975. Vợ mất, con gái duy nhất lấy chồng, năm 2015, cậu bán nhà ra quê, xây ngôi nhà nhỏ trong khuôn viên nhà nhánh, sống một mình. Tuổi 82, sáng chiều cậu nhúc nhắc đi bộ thăm hỏi bà con, viếng mộ tổ tiên, ăn uống đạm bạc. Tuổi ấy là mong mỏi của biết bao người dân Tân Sa như ông ngoại tôi, mẹ tôi…, chứng tỏ chất lượng cuộc sống của người dân Tân Sa ngày một tốt hơn. Có lẽ, cậu cũng đang dọn mình để bước vào thế giới bên kia giống ông ngoại tôi hồi nào.
Cận kề tuổi hoa giáp, trong tôi thường bị ám ảnh bởi điệp từ “mới thôi” đầy khắc khoải của Hoàng Phủ Ngọc Tường nhất là đoạn:
“Rồi một ngày trắng tóc
Nhưng lòng anh vẫn khôn nguôi
Thời gian sao mà xuẩn ngốc
- Mới thôi, đã một đời người”(11)
Chưa một lần trải nghiệm cảm giác đi đò trên sông nước như anh tôi, làm sao tôi có thể nhắm mắt. Ước gì có tuyến du lịch bằng thuyền rồng thăm các di tích quốc gia dọc phá Hà Trung - tháp Chăm Phú Diên, chùa Thánh Diên - chiêm ngưỡng trời mây sóng nước “Hà Trung hải nhi”, cảnh đẹp của đất Thần Kinh, chắc chắn du khách “bềnh bồng cho đến mai sau”(12)
Sắp tới chạp ngoại, tôi sẽ về làng, bước thật chậm trên con đường làng có “biển một bên và “phá” một bên”, miệng khẽ ngân nga những câu còn thuộc lõm bõm trong “Hải nhi quan ngư” của vua Thiệu Trị:
“Biển nhỏ một vùng lộng sắc trời
Sáo the vây cá lắng dòng soi
…
Tâm hồn rộng mở cùng trăng gió
An lạc muôn dân dạ thảnh thơi”(13)
H.X.H
(TCSH404/10-2022)
---------------------
(1) Lịch sử đấu tranh, xây dựng của Đảng bộ và nhân dân xã Vinh Xuân (1930 - 2015) - Nxb. Thuận Hoá, 2020, tr 8, 17. Số liệu năm 2016.
(2) Sđd tr 16,17.
(3) Bản dịch của Phạm Trọng Điềm, Nxb. Thuận Hóa 1997, tr 151.
(4) Chế Lan Viên - “Tiếng hát con tàu”, in trong tập Thơ Việt Nam (1945 - 1985), Nxb. Giáo dục 1985, tr.89.
(5) Từ điển lịch sử Thừa Thiên Huế - Nxb. Thuận Hóa, 2000, mục “Thánh Duyên - chùa” viết: Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687) có dịp qua đây thấy phong cảnh đẹp, sơn thủy hữu tình nên cho lập một ngôi chùa làm nơi cầu phúc cho dân trong vùng (tr. 774 - 775) nhưng mục “Thúy Vân - núi” lại viết: Trên núi có chùa Thánh Duyên chẳng rõ dựng từ bao giờ (tr. 799).
Sách hướng dẫn du lịch Non nước Việt Nam - 2009 của Tổng cục Du lịch viết: Chùa do chúa Nguyễn Phúc Chu dựng vào khoảng cuối thế kỷ 17 (mục chùa Thánh Duyên, tr.438).
(6) Dương Văn An - Ô Châu cận lục - Nxb. Thuận Hóa, 2001, bản dịch của Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc tr. 15.
(7) Đặng Huy Trứ - Con người và tác phẩm, Nxb. TP. Hồ Chí Minh 1990, tr.279.
(8) Nguyễn Đắc Xuân - Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành, Nxb. Thuận Hóa, 2010, tr.314.
(9) Võ Hương An - Từ điển nhà Nguyễn - Nam Việt xuất bản, 2012, tr.500.
(10) Bản thảo hướng về cội nguồn của Trần Huy Hà, tr.64.
(11) “Dù năm dù tháng” - in trong tập Người hát phù dung - Nxb. Thuận Hóa, 1997 tr.8.
(12) Tên một bài thơ trong tập “Người hát phù dung” của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
(13) Thần kinh nhị thập cảnh: thơ vua Thiệu Trị - Nxb. Thuận Hóa, 1997, tr.213.
PHẠM XUÂN DŨNG
Nếu ai vào Cố đô Huế mà đến thăm di tích thật đặc biệt, có một không hai là Hổ Quyền sẽ thấy vàng son một thuở của uy quyền phong kiến khi cho xây dựng đấu trường để hổ đấu với voi, phảng phất đấu trường La Mã cổ đại.
MAI VĂN ĐƯỢC
VÕ VINH QUANG
VŨ NHƯ QUỲNH
TÔ NHUẬN VỸ
Chỉ còn ít ngày nữa khai mạc Liên hoan Ảnh nghệ thuật của 6 tỉnh Khu 4 cũ nhưng Ban tổ chức vẫn chưa "phát hiện” ra một địa điểm nào trong thành phố có thể trưng bày 180 bức ảnh (mỗi tỉnh tuyển chọn gởi đến 30 bức).
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Võ dân tộc còn gọi là võ ta, nghĩa là võ cổ truyền dân tộc Việt, vốn đã tồn tại lâu đời, đa dạng, khó tra cứu.
TRẦN VĂN DŨNG
Trong suốt quá trình tồn tại của mình, Đồng tôn tương tế phổ đã cố gắng chăm lo đời sống vật chất lẫn tinh thần cho những người hoàng phái, tôn thất. Tinh thần tương thân tương ái từ những năm 20 của thế kỷ XX này đã góp phần lan tỏa giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, và đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
NGUYỄN SƠN THỦY
Kể từ năm 1993, Huế được công nhận là di sản văn hóa thế giới, ngành du lịch Thừa Thiên Huế (TT Huế) đã nổi lên như một điểm đến không thể thiếu trong hành trình du lịch Việt Nam của du khách trong và ngoài nước.
PHƯỚC HẢI
Dịch bệnh thời nào cũng xảy ra, không chỉ ở một vùng, một nước một khu vực mà có lúc là toàn cầu, nhất là trong điều kiện giao thương thuận lợi như hiện nay.
THANH TÙNG
Du lịch là hoạt động giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, các vùng văn hóa, các quốc gia. Người ta đi du lịch là để tìm hiểu những điều kỳ thú mà ở nước mình, vùng đất mình ở không có.
NGUYỄN QUANG HÀ
Kinh Thành Huế được khởi công xây dựng từ thời vua Gia Long (1805) và hoàn thành dưới triều vua Minh Mạng (1832). Ngay từ thời vua Gia Long trở đi, khu vực Kinh Thành Huế là nơi sinh hoạt, làm việc của các quan nha, đồn trú doanh trại quân đội, quan xưởng triều đình, dinh cơ tư thất của tầng lớp quan lại và phủ đệ của các ông hoàng, bà chúa. Tầng lớp dân chúng chỉ được sinh sống ở vùng ngoại vi, lân cận Kinh Thành.
PHAN THUẬN THẢO
Ca Huế là loại hình âm nhạc thính phòng dành cho giới danh gia vọng tộc, tao nhân mặc khách ở kinh đô Huế ngày xưa. Đây là loại hình âm nhạc có tính chất tri âm tri kỷ, cho nên, Ca Huế có hình thức diễn xướng gọi là Ca tri âm1.
ĐỖ MINH ĐIỀN
Lần đầu tiên ở vùng đất Cố đô, có một tổ chức thuần túy về văn chương, mỹ thuật và thể thao ra đời - đó là Hội Mỹ Hòa, chính thức được công nhận tư cách pháp lý vào ngày 17 tháng 6 năm 1935, đánh dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển văn hóa Huế. Ra đời cách nay 85 năm nhưng Hội Mỹ Hòa đã có quan điểm và phương châm hành động tiến bộ, quy tụ được nhiều tri thức tiêu biểu góp phần gìn giữ di sản văn hóa.
NGUYỄN KHOA ĐIỀM