Tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc năm 2009

14:52 26/03/2010
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.

Năm nay, từ những hoạt động sác tạo phong phú, đa dạng của tất cả văn nghệ sĩ của 8 hội chuyên ngành, chúng ta nhận thấy rằng văn học nghệ thuật tỉnh ta ngày càng được phát huy và khởi sắc.           

Hội kiến trúc và Hội nghệ sĩ múa chưa kịp hoàn thành và công bố, biểu diễn các tác phẩm lớn của mình trước công chúng nên không đăng ký dự giải. Sáu hội chuyên ngành còn lại đều có tác phẩm gửi đăng ký tham gia. Kết quả bao gồm Hội âm nhạc: 2 tác phẩm, Hội nhà văn: 3 tác phẩm, Hội nhiếp ảnh: 3 tác phẩm, Hội mỹ thuật: 2 tác phẩm, Hội văn nghệ dân gian: 1 công trình, Hội sân khấu: 1 tác phẩm dành cho người cao tuổi.

Về âm nhạc, có thể nói hai ca khúc lần này là kết quả có chọn lọc và phá cách của các tác giả trên cái nền truyền thống xét về ca từ và giai điệu. Nhạc phẩm Về quê em của Phạm Phước Nghĩa và nhạc phẩm Về với Quảng Ngạn yêu thương của Quốc Anh đều hướng về vùng phá Tam Giang quen thuộc. Về quê em, với giai điệu beat, tiết tấu vừa phải đã gây được thiện cảm cho người nghe. Hình bóng người mẹ, người quê lam lũ, nhân hậu và giàu đức hy sinh hiện lên nối liền ước mơ đôi bờ sông nước, nối liền quá khứ với hiện tại và tương lai. Còn ca khúc Về với Quảng Ngạn yêu thương được cấu trúc bằng chất liệu nhạc trẻ, giai điệu đơn giản, nhưng tiết tấu lại sôi nổi, trẻ trung, càng phát triển về sau có láy một chút chất dân ca theo nhip hò lao động đã nói lên niềm vui của tuổi trẻ trước sự đổi thay của cuộc sống và con người nơi đây.

Hội mỹ thuật với 2 tác phẩm có phong cách riêng rất dễ nhận biết. Đặng Mậu Tựu với Đất và nước từ chất liệu sơn dầu đã lý giải bằng đường nét, màu sắc mang tính triết lý nguyên hợp độc đáo để nói lên sự sinh thành của Đất và Nước trong lẽ biến hóa vi diệu của vũ trụ và con người. Những mảng liên hoàn để nói lên sự bền vững của hiện hữu, chỗ nứt nẻ lại là nơi để tái sinh và phát triển. Đất và Nước chính là sự tồn tại trong sự nối tiếp và hoàn thiện như thế.

Nguyễn Thị Hải Hòa với bức tranh Sự yên tĩnh ở trong vườn, chất liệu in kẽm, thể hiện niềm hạnh phúc nguyên sơ trong sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên. Ở đó, hoa cỏ, chim muông với âm thanh và màu sắc, hương thơm tương hợp trong nhau để làm nên thế giới của sự sống mà con người là chủ thể ý thức tận hưởng chúng trong sự sống bất tử của ý niệm tuyệt đối rằng con người và thiên nhiên mãi đồng hành, dù trong phôi phai, thì thiên nhiên lại hồi sinh từ ruột đất, từ trong trầm tích của đất đai những niềm vui sinh nở. Cứ thế, sự sống luôn tinh khôi như trăng non và lá xanh.

Hội văn nghệ dân gian năm nào cũng chỉ gửi lên một công trình có chất lượng được Hội đồng nghệ thuật đánh giá cao. Đó là chuyên luận Tìm hiểu đồng dao người Việt của Triều Nguyên - tác giả liên tiếp đạt giải nhiều năm liền ở Trung ương và địa phương. Công lao và khả năng sáng tạo miệt mài của anh đã trả lại cho anh những giá trị cân bằng. Đây là kết quả của quá trình sưu tầm, nghiền ngẫm và thao tác khoa học bài bản của tác giả, để thông điệp đến người đọc những thông tin mới từ một đối tượng cũ là đồng dao. Nghiên cứu đặc trưng thể loại bằng phương pháp cấu trúc - hệ thống và so sánh - phân loại là phương pháp chủ yếu giúp tác giả thành công trong việc chỉ ra thi pháp đặc sắc của đồng dao  người Việt về hai bình diện nội dung và hình thức. Tác giả có nhiều phát hiện bổ sung trên cơ sở sưu tầm thêm các đơn vị đồng dao mới và trên cơ sở phân tích từng yếu tố tham gia cấu thành đồng dao cả lịch đại và đồng đại, có đối sánh với đồng dao của các dân tộc thiểu số và các thể loại khác như vè, ca dao và thơ thiếu nhi có dạng thức liên quan.

Hội nhiếp ảnh, năm nay có ba tác phẩm vào được giải mà không ai bàn luận gì thêm. Cảnh Tăng với Lớp học vùng cao đã săn được cái thần trong ánh mắt của các em học sinh miền núi khi hướng về mẹ chữ và ngỡ ngàng trước những bài học đầy khó khăn và thú vị mà thầy giáo truyền đạt trên bảng. Cái khả giải, bất khả giải qua bức ảnh đã cho người xem thấy được đường đến với mẹ chữ và tri thức là gian nan như thế nào. Còn Trương Vững lại hướng ống kính của mình về phía bao la sông nước qua bức ảnh Vây bắt. Nghệ thuật tung chài của ngư phủ thuần thục đến nỗi như thế trận đã an bài thắng lợi. Giây phút bấm máy của nghệ sĩ đúng vào lúc ánh chiều cũng vừa ngưng lặng, tạo thành vệt vàng rực rỡ trên những mắt lưới, thể hiện được sự cộng hưởng giữa thiên nhiên và con người trong bức tranh lao động. Bức ảnh Mưu sinh của Hồ Ngọc Sơn lại khai thác một khía cạnh đời thường khác không kém phần xúc động và nhân ái. Một con người bất hạnh, không còn hai chân nguyên vẹn, với chiếc xe đạp tay đã miệt mài trong mưa để bán từng vé số và bán báo để kiếm sống độ nhật qua ngày giữa bao nhiêu  số phận mưu sinh khác.

Như mọi năm, Hội nhà văn năm nay cũng đã chọn được ba tác phẩm xuất sắc thuộc ba thể loại đặc trưng để “ứng thí” và cả ba đều được Hội đồng nghệ thuật nhất trí đánh giá cao. Nguyên Quân với thi phẩm Viết bên Hộ thành hào đã tạo được tích hợp sáng tạo mới trên mẫu số thi pháp riêng của anh từ các tập thơ trước. Không gian Hộ thành hào là nơi nhà thơ an vị để hướng đường chân trời của thi ca về mọi nẻo lãng du, mọi không gian và thời gian hiện thực và tâm tưởng để yêu thương và chiêm nghiệm, để hoài vọng và kiếm tìm trong “cõi nhân gian bé tí” nội tâm mình những mảnh vỡ của ký ức và tâm trạng, may ra còn có chất liệu để ghép chúng lại với nhau trong trò chơi ngôn ngữ.

Phạm Phú Phong với Mây của trời rồi gió sẽ mang đi - tập tản văn, tạp luận va chân dung ký. Tập sách là kết quả của 20 năm miệt mài đi và chép, nghĩ và viết, tâm niệm và nghiền ngẫm, vui buồn và sẻ chia… Có thể nói, 36 bút ký văn hóa - văn học làm thành chỉnh thể tác phẩm là 36 tâm trạng và hồi ức của tác giả khi nhập vào đối tượng để vực dậy những niềm vui, nỗi buồn, tự hào và ân nghĩa của chính mình đối với cảnh vật và con người mà anh yêu quý, không viết không đành. Vì vậy, tập sách tự nó cũng đã tích hợp được nhiều phẩm chất đáng quý của người viết ký trữ tình, ký nội cảm, ký hoài niệm.

Tác phẩm xuất sắc thứ ba của Hội nhà văn thuộc về thể loại tiểu luận - phê bình văn học. Đó là tập Đang tồn tại bằng một cuộc sống nháp của nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch. Làm thơ và viết lý luận - phê bình văn học xưa nay cũng đã có nhiều, nhưng để có thơ hay và lý luận - phê bình hay lại là rất hiếm. Nguyễn Khắc Thạch đạt cả hai. Tư cách kép này ở anh thể hiện trong tập sách, ở chỗ anh đã tạo cho mình một tiếng nói và giọng điệu riêng trong nghiên cứu và phê bình. Bằng vốn văn học, triết học và mỹ học có chọn lọc và tích hợp theo tư tưởng riêng của mình, Nguyễn Khắc Thạch đã đánh giá về thơ, về tư duy thơ, về quan niệm sáng tạo một cách mới mẻ và độc sáng, trong đó tư duy thiền học đã cộng hưởng và phái sinh rất nhiều trong tư duy phê bình và lý luận của anh.

Cũng như những năm trước, năm nay Hội đồng nghệ thuật bình xét và vui mừng trao giải thưởng Người cao tuổi cho nhạc sỹ Minh Phương. Đó là tập kịch ngắn Tiếng sáo đầu thu (đạt giải nhì Hội diễn không chuyên toàn tỉnh). Tác phẩm hưởng ứng cuộc vận động sáng tác “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây là thành công rất đáng trân trọng của một người chuyên sáng tác ca khúc và giao hưởng. Xin chúc mừng nhạc sỹ Minh Phương.

Mười một tác phẩm với đủ các loại hình - bằng tiếng nói riêng - đã thể hiện vừa tập trung vừa đa dạng, phong phú hiện thực cuộc sống chung của cả nước và tỉnh nhà bằng cái nhìn nhân sinh, triết lý sâu sắc để tìm cách trả lời những câu hỏi và yêu cầu bức thiết của cuộc sống và cũng của chính bản thân nghệ thuật đặt ra, thông qua cá tính sáng tạo của từng nghệ sĩ trong tương quan với từng môi trường, từng hoàn cảnh, từng điểm nhìn trần thuật và chiêm cảm.

Những gì mà các văn nghệ sĩ Hội LHVHNT tỉnh Thừa Thiên Huế đạt được qua giải thưởng 2009 chính là kết quả của quá trình tìm tòi, thể nghiệm và sáng tạo với tinh thần đổi mới, tích hợp, hội nhập cùng nền văn học nghệ thuật cả nước và thế giới, với mong muốn được phục vụ, được sáng tạo vì cuộc sống, vì nhân dân và vì nghệ thuật.

Vỹ Dạ, 08 - 01 - 2010
HỒ THẾ HÀ
(253/03-10)





Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • 1. Trung tâm văn hóa tôi muốn đề cập ở đây là thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế. Đã là một Trung tâm văn hóa thì bao giờ cũng quy tụ nhiều nhân tài lớn, trên nhiều lĩnh vực, từ mọi miền đất nước, thậm chí từ cả ngoài nước, trải qua nhiều thế hệ, nhiều thử thách khó khăn mới vun đắp lên nổi một truyền thống, mà có được truyền thống văn hóa lại càng khó khăn hơn. Trong bài viết này tôi chưa đề cập tới những nhà khoa học, những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ xuất sắc đang sống và hoạt động tại Thừa Thiên Huế, mà tôi chỉ muốn nói tới chủ yếu các vị đã qua đời nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm, lâu dài cho mảnh đất này, góp phần quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa Huế.

  • Trên thế giới có nhiều nền văn hóa khác nhau. Trong mỗi nước, ngoài mẫu số chung về nền văn hóa của cả dân tộc, còn có văn hóa vùng miền được phân định căn cứ vào đặc điểm nhân văn riêng của từng nơi. Nơi nào có được tính cách nhân văn đặc thù thì nơi ấy có văn hóa địa phương hay văn hóa bản địa. Một từ mà các nhà văn hóa học năng sử dụng khi đề cập đến lĩnh vực này là “bản sắc”. Nếu dùng từ bản sắc làm tiêu chí để nhận diện văn hóa thì Việt Nam có nền văn hóa riêng của mình, trong đó có văn hóa Huế.

  • Tôi quê Hà Tĩnh, nhưng lại sinh ra ở Huế, khi ông cụ tôi ngồi ghế Phủ Doãn, tức là “sếp” cái cơ quan đóng bên bờ sông Hương ở giữa Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Hai Bà Trưng - Đồng Khánh xưa, nay đang được xây dựng to đẹp đàng hoàng gấp nhiều lần ngày trước. (Thời Nguyễn phong kiến lạc hậu, nhưng lại có quy chế chỉ những người đậu đạt cao và thường là người ngoại tỉnh mới được ngồi ghế Phủ Doãn để vừa có uy tín, học thức đối thoại được với quan chức trong Triều, vừa tránh tệ bênh che hay cho người bà con họ hàng chiếm giữ những chức vụ béo bở. Nói dài dòng một chút như thế vì nhiều bạn trẻ thời nay không biết “Phủ Doãn” là chức gì; gọi là “Tỉnh trưởng” cũng không thật đúng vì chức Phủ Doãn “oai” hơn, do Huế là kinh đô, tuy quyền hành thực sự người Pháp nắm hầu hết).

  • *Từ tâm thức kính sợ trời đất đến lễ tế Giao: Từ buổi bình minh của nhân loại, thiên nhiên hoang sơ rộng lớn và đầy bất trắc, với những hiện tượng lạ kỳ mưa gió, lũ lụt, sấm chớp, bão tố... đã gieo vào lòng người nhiều ấn tượng hãi hùng, lo sợ. Bắt nguồn từ đó, dần dần trong lịch sử đã hình thành tập tục thờ trời, thờ đất, thờ thần linh ma quỷ. Đó là nơi trú ẩn tạo cảm giác an toàn cho con người thuở sơ khai. Ở phương Đông, tập tục thờ cúng trời đất, thần linh gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, phổ biến từ trong gia đình đến thôn xóm, làng xã. Khi chế độ quân chủ hình thành, một số triều đình đã xây dựng những “điển lệ” quy định việc thờ cúng trời đất, thần linh, với những nghi thức trang trọng, vừa biểu thị quyền uy tối thượng của nhà vua, vừa thể hiện khát vọng mong cầu quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, phong hoà vũ thuận của muôn dân.

  • Sông Hương thuộc loại nhỏ của Việt Nam, nhưng với Thừa Thiên Huế có thể nói là “tất cả”. Hệ thống sông Hương cung cấp nước, tạo môi trường để phát triển gần như toàn bộ nền kinh tế - xã hội của Thừa Thiên Huế, đặc biệt sông Hương còn là biểu tượng của Huế, hai bên bờ mang nặng di sản văn hoá nhân loại. Nhưng đồng thời nó cũng đưa lại những trận lụt lớn vào mùa mưa, nhiễm mặn vào mùa hè...

  • Huế được Chính phủ xác định là một trong 5 thành phố cấp quốc gia, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch. Quá trình phát triển đô thị, Huế đồng thời cũng đứng trước những thử thách mới, còn nhiều bất cập nhưng Huế vẫn giữ được nét kiến trúc riêng. Hình ảnh một thành phố mà kiến trúc và thiên nhiên hoà quyện, phải chăng đó là bản sắc Huế, khó trộn lẫn với bất kỳ một đô thị nào khác trong cả nước.

  • I. Toàn cầu hóa và lý luận văn học: I.1. “Toàn cầu hóa” làm cho “thế giới trở nên phẳng” (Thomas F.Fredman). Lý luận văn học là một lĩnh vực khoa học nhằm cắt nghĩa, lý giải, khái quát văn chương, đặt trong khung cảnh đó, nó cũng được “thế giới hóa”, tính toàn cầu hóa này tạo nên một mặt bằng chung, hình thành một ngôn ngữ chung. Từ đó mới có sự đối thoại, tiếp biến học hỏi lẫn nhau giữa các nền lý luận của các châu lục, quốc gia tạo nên một thể thống nhất trong đa dạng.

  • Đêm Nguyên tiêu 15 tháng giêng Quý Mùi 2003, thực hiện chủ trương của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại TTH đã tổ chức trên sông Hương một đêm thơ rất tuyệt vời. Ban tổ chức cho biết Hội Nhà văn Việt Nam đã được phép quyết định kể từ năm nay lấy ngày 15 tháng giêng âm lịch hằng năm làm Ngày Thơ Việt Nam. Quyết định ấy lay động tâm trí tôi vốn đang ưu tư với Huế Thành phố Festival, thay vì đọc thơ, trong đêm Nguyên tiêu ấy tôi đã phác họa sơ lược về một Festival thơ. Không ngờ ý kiến của tôi được Đêm thơ Nguyên tiêu hưởng ứng và các nhà thơ đã đề nghị tôi nên thực hiện một Hồ sơ cho Festival Thơ.

  • Trí thức trong bất cứ thời đại nào và ở đâu cũng là một nguồn lực quan trọng, là sức mạnh tinh thần nối kết truyền thống của dân tộc với thành tựu trí tuệ của thời đại. Khi nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức gắn kết được với sức mạnh cộng đồng thì xã hội sẽ có những chuyển biến tích cực. Ngược lại, nguồn lực trí tuệ không được phát huy thì năng lực phát triển của xã hội sẽ bị suy thoái. Thừa Thiên Huế có một thời là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Đàng Trong và trở thành kinh đô của cả nước. Vì thế Huế đã từng là nơi hội tụ nhiều thế hệ trí thức tinh hoa của đất nuớc. Lớp trí thức lớn lên tại Thừa Thiên Huế có điều kiện tiếp cận với những thiết chế và sinh hoạt văn hoá, học thuật có tầm cở quốc gia (Quốc Tử Giám, Quốc Sử Quán, Hàn Lâm Viện, Thái Y Viện. Khâm Thiên Giám.. ), năng lực trí tuệ của trí thức ở kinh kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, cả trên lĩnh vực tư duy sáng tạo và quản lý, thực hành.

  • I. Sự hình thành và phát triển hệ thống đường phố ở Huế: Trước khi Huế được chọn để xây dựng kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, đất Phú Xuân - Huế kể từ năm 1738 đã là nơi đóng đô thành văn vật của xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Rồi Phú Xuân lại trở thành kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh toàn thắng quân Tây Sơn; từ Thăng Long ông trở về Phú Xuân, chọn lại đất ấy, lấy ngày lành, lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long. Tháng 5 năm 1803, nhà vua sai người ra ngoài bốn mặt thành Phú Xuân, xem xét thực địa, định giới hạn để xây dựng kinh thành mới. Trên cơ sở mặt bằng thành Phú Xuân cũ, lấy thêm phần đất của 8 làng cổ lân cận, mở rộng diện tích để xây dựng nên một kinh thành rộng lớn hơn trước. Cùng với việc xây dựng thành quách, cung điện, nha lại, sở ty... thì đường sá trong kinh thành cũng được thiết lập.

  • Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn, nay là cố đô, một trong những trung tâm văn hoá và du lịch quan trọng của Việt Nam , trải qua quá trình đô thị hoá, vừa mang dấu ấn của một đô thị cổ phương Đông, vừa có đặc trưng của một đô thị mới. Để góp phần định hướng phát triển và tổ chức quản lý vùng đất nầy, một trong những việc cần làm là nên soát xét lại kết quả của quá trình đô thị hóa để lựa chọn những giải pháp quản lý phù hợp.

  • Trong quá khứ, mảnh đất Phú Xuân - Huế đã được chọn để đóng đô thành của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, rồi đến kinh đô Đại Việt của nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ, sau nữa là kinh đô Việt Nam thống nhất dưới thời họ Nguyễn Phúc trị vì và cuối cùng trở thành cố đô từ sau Cách mạng Tháng 8.1945. Huế đã và đang là thành phố Festival - một thành phố lễ hội mang nhiều thành tố văn hóa đặc trưng của Việt Nam theo một quy chế đặc biệt. Để có cái nhìn khách quan về lịch sử, thiết nghĩ, chúng ta hãy điểm lại vài nét quá trình đi lên của thành phố Huế để trở thành đô thị loại I - đô thị đặc biệt hôm nay.

  • Hội nghị cán bộ Việt Minh mở rộng vào cuối tháng 4 đầu tháng 5/1945 diễn ra trên đầm Cầu Hai đề ra chủ trương lớn để phát triển phong trào cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, chuẩn bị cùng cả nước khởi nghĩa cướp chính quyền khi có thời cơ. Sau hội nghị, phong trào cách mạng phát triển đều khắp trong toàn tỉnh. Đầu tháng 8, được tin quân đội Nhật bị quân đồng minh đánh bại ở nhiều nơi, nhất là ở Mãn Châu Trung Quốc, Thường vụ Việt Minh dự đoán ngày Nhật theo chân phát xít Đức bị đánh bại không còn xa, đã quyết định đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Giữa tháng 8 được tin Nhật Hoàng sẵn sàng đầu hàng, Thường vụ Việt Minh chỉ đạo các huyện khởi nghĩa. Sau khi tất cả các huyện phụ cận Huế khởi nghĩa thành công, ngày 20/8 Thường vụ Việt Minh triệu tập 6 huyện bàn quyết định chọn ngày 23.8.1945 là ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Cũng ngay chiều ngày 20.8.1945 phái đoàn Trung ương có cụ Hồ Tùng Mậu, anh Nguyễn Duy Trinh và anh Tố Hữu đã đến Huế, vì Huế là thủ đô của chính quyền bù nhìn lúc bấy giờ. Khởi nghĩa ở Huế mang sắc thái đặc biệt có tính chất quốc gia. Ta giành lại chính quyền không phải từ tay một tỉnh trưởng mà là từ triều đình nhà Nguyễn - Bảo Đại ông vua cuối cùng, bên cạnh Bảo Đại lại có cả bộ máy chính quyền Trần Trọng Kim do Nhật lập ra. May mắn thay đoàn phái bộ Trung ương vào kịp thời nên vẫn giữ nguyên ngày khởi nghĩa (23.8.1945). Đêm 20.8.1945 cuộc họp của phái đoàn Trung ương và Thường vụ Tỉnh ủy thông qua kế hoạch khởi nghĩa của tỉnh và cử ra Ủy ban khởi nghĩa gồm có: anh Tố hữu là Chủ tịch đại diện cho Trung ương, tôi làm Phó Chủ tịch (PCT) đại diện cho Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh địa phương cùng một số ủy viên: Lê Tự Đồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...

  • Ba mươi năm trước, cùng với lực lượng cách mạng, những người làm Báo Cờ Giải Phóng của Đảng bộ Thừa Thiên Huế sôi nổi chuẩn bị số báo đặc biệt và có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng quê hương. Tháng 10/1974, chúng tôi được tham gia hội nghị Tỉnh ủy mở rộng bàn về đẩy mạnh nhiệm vụ đánh kế hoạch bình định, mở rộng vùng giải phóng nông thôn đồng bằng, phối hợp có hiệu quả với các chiến trường, góp phần giải phóng miền Nam, Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ cho Báo Cờ Giải Phóng ra số báo đặc biệt, nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn để chuyển tải khí thế cách mạng miền Nam và trong tỉnh, đưa mệnh lệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Thừa Thiên Huế và các chính sách của Mặt trận đối với vùng giải phóng.

  • Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, lực lượng an ninh huyện Phú Vang đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với 95 thương binh, 135 liệt sĩ và không có một cán bộ, chiến sĩ nào đầu hàng phản bội, lực lượng an ninh huyện Phú Vang và 4 cán bộ an ninh huyện đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

  • Trong mọi thời đại Hoàng đế và kẻ sĩ có mối quan hệ đặc biệt. Đó là mối quan hệ giữa người cầm quyền và người trí thức có nhân cách và tài năng. Khi Hoàng đế là minh quân thì thu phục được nhiều kẻ sĩ, khi Hoàng đế là hôn quân thì chỉ có bọn xu nịnh bất tài trục lợi bên mình còn kẻ sĩ bị gạt ra ngoài thậm chí có khi bị giết hại. Lịch sử bao triều đại đã chứng minh điều đó. Mối quan hệ giữa Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp của thế kỷ XVIII là cuộc hội ngộ lớn, mang đến nhiều lợi ích cho quốc gia và có ý nghĩa cho muôn đời. Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiếp đều sống trong bối cảnh triều Lê suy tàn, chúa Trịnh lộng hành, chúa Nguyễn mới nổi dậy. Sau gần 300 năm hết nội chiến Lê Mạc đến Trịnh Nguyễn phân tranh đời sống nhân dân vô cùng khốn khổ. Trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Thiếp cáo quan về ở ẩn.

  • Năm 2008 là một năm khá kỳ lạ và đặc biệt của loài người. Nửa năm đầu, cả nhân loại thăng hoa với các chỉ số chi tiêu mà ngay cả các chiến lược gia kinh tế cũng phải bàng hoàng. Nửa năm cuối, quả bóng phát triển, ổn định bị lưỡi dao oan nghiệt của khủng hoảng đâm thủng nhanh đến nỗi hàng ngàn đại gia bị phá sản rồi, vẫn chưa lý giải nổi hai chữ “tại sao”. Bất ổn và đổi thay còn chóng mặt hơn cả sự thay đổi của những đám mây. Không phải ngẫu nhiên mà người Nhật lại chọn từ “thay đổi” (kanji) là từ của năm, vì B. Obama đã chiến thắng đối thủ bằng chính từ này (change)...

  • Bạn đọc thân mến! Hiệp hội Đo lường Thời gian quốc tế đã quyết định kéo dài thời gian của năm 2008 thêm 1 giây, và chúng ta đã chờ thêm 1 giây để đón chào năm mới. Sau thời khắc 23 giờ 59 phút 59 giây của ngày 31.12.2008, không phải là giây đầu tiên của năm mới mà phải sau thời khắc 23 giờ 59 phút 60 giây cùng ngày, năm 2009 - năm lẻ cuối cùng của thế kỷ 21, mới chính thức bắt đầu. Nhân loại đã có thêm một giây để nhìn lại năm cũ và bước sang năm mới. Và trong một giây thiêng liêng ấy, chắc chắn nhiều ý tưởng sáng tạo đã xuất hiện, nhiều tác phẩm nghệ thuật vừa hoàn tất, âm tiết cuối của câu thơ cuối một bài thơ vừa được nhà thơ viết xong và buông bút mãn nguyện. Cùng với ly rượu vang sóng sánh chúc mừng năm mới được nâng lên, cái đẹp, cái cao cả tiếp tục xuất hiện để phụng sự nhân loại và chắc chắn, những nụ hôn của tình yêu thương đã kéo dài thêm một giây đầy thiêng liêng để dư vị hạnh phúc còn vương mãi trên môi người.

  • Tham luận tại cuộc tọa đàm “Văn học trẻ Huế- nhìn lại và phát triển” của nhà thơ trẻ Lê Vĩnh Thái: "một lần ngồi uống cà phê tôi được một nhà thơ, người anh trong Hội thống kê về đội ngũ sáng tác trẻ nữ của cố đô Huế chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 5 người mà tuổi đã ngoài 30, còn tuổi từ 20, 25 đến 30 thì không thấy!?... "

  • Từ cuối tháng 6. 2008, trên mạng Internet, cùng lúc có những bài viết về nhiều nhà văn, nhà thơ ở Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ và ở Quảng Trị, Quảng Bình. Các bài viết được đăng tải trên các báo điện tử nước ngoài (hoặc sách in ra được các tờ báo đó đưa lên mạng), cả trên tờ báo của một tổ chức chống nhà nước Việt Nam cực đoan nhất, và trên blogs của một số nhà văn trong nước (được một số báo điện tử nước ngoài nối mạng sau đó). Mục đích khác nhau nhưng các bài đó, tạm xếp vào hai loại, có một điểm giống nhau: DỰNG ĐỨNG những sự kiện của cuộc đời và hoạt động của các nhà văn nhà thơ này.