BÍCH THU
(Đọc Tô Hoài - Đời văn và tác phẩm của Hà Minh Đức, Nxb Văn học, 2007)
Tô Hoài - Đời văn và tác phẩm của Hà Minh Đức là cuốn sách tập hợp những ghi chép và nghiên cứu về nhà văn Tô Hoài, một tác gia lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Đây là cuốn sách đầu tiên kết hợp hai phương diện ghi chép và nghiên cứu, góp một cách tiếp cận đa chiều và cập nhật về con người và sự nghiệp của nhà văn.
Tô Hoài - Đời văn và tác phẩm được hình thành trên mối cơ duyên văn học giữa đôi bạn vong niên Tô Hoài và Hà Minh Đức. Một bên là nhà văn, một bên là nhà nghiên cứu. Hai ông quen nhau từ năm 1957, và gần nửa thế kỷ trải qua những bước thăng trầm của cuộc đời cũng như của đời sống văn học, nhà văn Tô Hoài đã trở thành bậc trưởng lão của làng văn và giáo sư Hà Minh Đức cũng đã trở thành một trong những tên tuổi tiêu biểu của giới lý luận phê bình. Trong suốt chặng đường dài của thế kỷ XX cho đến nay, mối quan hệ giữa hai ông cũng là của hai giới sáng tác và phê bình vẫn chân tình, đằm thắm và bền chặt. Ở hai ông, không còn là chuyện của hai nhân vật thuộc lĩnh vực phê bình hay sáng tác mà giản dị chỉ là chuyện của hai người bạn...
Hà Minh Đức bắt đầu ghi chép về nhà văn Tô Hoài từ năm 1965 đến nay. Qua những cuộc trò chuyện với Tô Hoài, Hà Minh Đức đã lắng nghe và nhận ra những câu nói hay, những câu chuyện thú vị về cuộc đời và những kinh nghiệm nghệ thuật của cây bút sớm thành danh này rất bổ ích đối với ông, nếu không ghi lại sẽ bị lãng quên. Từ sau những lần gặp gỡ, Hà Minh Đức bắt đầu có ý thức ghi chép về Tô Hoài và đã khơi gợi ở nhà văn những vấn đề mà ông quan tâm tìm hiểu. Thời gian trôi đi, những câu chuyện của Tô Hoài như ngày nào vẫn luôn hấp dẫn Hà Minh Đức. Các trang ghi chép của ông ngày càng dày thêm với nhiều thông tin, tư liệu phong phú. Câu chuyện của Tô Hoài cũng là câu chuyện về văn học Việt hiện đại với những vận động và đổi thay theo tiến trình văn học dân tộc giúp người nghiên cứu bước vào thế giới nghệ thuật độc đáo của nhà văn.
Tô Hoài - Đời văn và tác phẩm gồm ba phần. Phần I: Trò chuyện và ghi chép. Phần II: Nghiên cứu về tác phẩm của Tô Hoài. Phần III: Phụ lục. Ở phần Trò chuyện và ghi chép (18 bài), có thể “chấm công” cho cả người kể chuyện lẫn người ghi chép. Nói như Hà Minh Đức, một nửa cuốn sách là của nhà văn Tô Hoài. Sau khi ghi lại một cách trung thành, đầy đủ lời kể của Tô Hoài, Hà Minh Đức đã chỉnh trang, hệ thống theo vấn đề, thành một tập bản thảo, đã được nhà văn Tô Hoài đọc và góp ý. Nhưng khi cầm cuốn sách mới in trên tay, nhà văn cao niên này vẫn không khỏi bùi ngùi xúc động... Những trang Trò chuyện và ghi chép thật sự gây ấn tượng và lôi cuốn với người đọc. Nổi bật ở đây là những câu chuyên chân thực, giàu tri thức và vốn sống của Tô Hoài được ghi chép chính xác và cụ thể, phù hợp với chất giọng, với cách nói rủ rỉ mà thâm trầm, dí dỏm của nhà văn. Phần Trò chuyện và ghi chép đã cung cấp cho độc giả những thông tin bổ ích, lý thú và mới mẻ về Tô Hoài và đồng nghiệp của ông trên những nẻo đường văn nghiệp đầy gian nan và thử thách. Trong câu chuyện của mình, Tô Hoài không ngần ngại hé lộ tuy bị một nhà phê bình cùng thế hệ gọi là “thằng ngoại ô láu cá” nhưng nhà văn vẫn kiên trì theo đuổi đề tài lâu dài của mình là khu vực ngoại thành - vùng quê Hà Nội thân yêu của ông từ loạt truyện viết cho người lớn: Quê người (1942), Mười năm (1958), Quê nhà (1980)... đến loạt truyện viết cho thiếu nhi: Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, Nhà Chử...
Những cuộc trò chuyện giữa Tô Hoài và Hà Minh Đức đã bộc lộ cái duyên riêng, cái âm trầm nốt lặng của những người từng trải chuyện đời và chuyện nghề. Cả nhà văn và nhà nghiên cứu đều biết chia sẻ và đồng cảm với lĩnh vực của mỗi người, và đều hướng đến cái đích chung là văn học. Văn học của ngày qua và của hôm nay, vừa chồng chất kỷ niệm vừa rất thời sự cập nhật. Từ những suy nghĩ về văn chương Tự lực văn đoàn, văn chương kháng chiến đến văn chương thời kỳ đổi mới. Từ những sáng tác của chính mình về đề tài Hà Nội, miền núi, thiếu nhi đến những sáng tác của các bạn văn cùng thời. Từ những quan niệm về thể loại, về nghiên cứu phê bình, về văn học và báo chí đến những dự định sáng tác... Tất cả đều hiện ra hết sức chân thật, hấp dẫn và có sức hút với người đọc.
Trên những trang ghi chép về Tô Hoài, dễ nhận thấy Hà Minh Đức không chỉ gợi chuyện mà còn đối thoại với những nhấn nhá, luyến láy khiến câu chuyện vừa tự nhiên, chân tình, vừa đậm đà ý vị. Có lúc Hà Minh Đức như người trong cuộc, có lúc lại như người quan sát; “Anh (Tô Hoài - BT) đi giữa dòng đời, nhập cuộc mà như người đi bên cạnh, bên trên để thấy cho hết cái khách quan của sự sống”.
Sang đến phần II: Nghiên cứu về tác phẩm văn học của Tô Hoài, người đọc gặp lại một cây bút nghiên cứu phê bình quen thuộc. Những cuộc gặp gỡ và ghi chép về Tô Hoài thực sự có ý nghĩa với phần nghiên cứu của Hà Minh Đức. Nó là một yếu tố làm tăng thêm độ tin cậy và phong phú trong các bài viết của ông về nhà văn. Bằng kinh nghiệm nghề nghiệp và sự hiểu biết kỹ lưỡng đời văn và tác phẩm Tô Hoài, các bài viết của Hà Minh Đức có hàm lượng khoa học cao đã phát hiện và khẳng định những đóng góp của văn xuôi Tô Hoài với lịch sử văn học dân tộc trong tiểu luận: Tô Hoài. Hà Minh Đức cũng đã ghi nhận một cách thuyết phục tài năng của ngòi bút nhà văn qua Truyện về các loài vật của Tô Hoài.
Là một trong số những nhà nghiên cứu quan tâm đến sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài, Hà Minh Đức đã dõi theo khá đều đặn những tác phẩm có tiếng vang của nhà văn: Vợ chồng A Phủ, Miền Tây, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ... Ngay từ sau thời kỳ đổi mới, trong không khí cởi mở, dân chủ của đời sống văn học, Hà Minh Đức đã góp tiếng nói khách quan, công bằng đánh giá lại tiểu thuyết Mười năm, xác định đúng vị trí của nó trong bộ ba tiểu thuyết viết về quê hương của Tô Hoài cũng như với đời văn của ông và với văn học một thời. Cho đến nay, Tô Hoài là một trong số hiếm hoi các nhà văn xuất hiện từ thời tiền chiến, vẫn sáng tác, và vừa cho ra mắt tiểu thuyết Ba người khác (2007) đồng thời vẫn ấp ủ những trang viết về Hà Nội trước thời kỳ đổi mới. Kết thúc phần viết này, Hà Minh Đức đã chốt lại bằng một bài viết xen lẫn cảm hứng nghiên cứu và sáng tạo, một lần nữa khẳng định: Tô Hoài, một đời văn giàu sáng tạo.
Trong phần cuối cùng, Hà Minh Đức đã giới thiệu với người đọc sự đón đọc và tiếp nhận tác phẩm của Tô Hoài ở nước ngoài: Dế mèn phiêu lưu ký ở Liên Xô, Đọc Đảo hoang dịch ở Liên Xô, Cảm tưởng của các đoàn viên thiếu niên Sưmôrư ở Tôkyô về phim Kim Đồng... Bên cạnh những ghi chép về Tô Hoài, phần nghiên cứu tác phẩm Tô Hoài cùng các tư liệu bên ngoài cũng như của nhà văn nói về mình đã đem đến cho độc giả những thông tin hữu ích là thiết thực.
Tô Hoài - Đời văn và tác phẩm là cuốn sách thể hiện sự gắn bó, ăn ý giữa nhà văn và nhà nghiên cứu. Nếu như trước đây đã có cuốn Tô Hoài - về tác gia và tác phẩm, tập hợp những bài viết về Tô Hoài thì hôm nay có thêm Tô Hoài - Đời văn và tác phẩm, cuốn sách bổ trợ những hiểu biết về chủ thể sáng tạo. Cái nhìn khách quan của bạn đọc và cái nhìn chủ quan của nhà văn có sự gặp gỡ ngõ hầu đưa tới một cái nhìn toàn vẹn, đầy đặn hơn diện mạo của một nhân vật văn chương, có những bước đồng hành với tiến trình văn học Việt Nam hiện đại. Với tư cách của một nhà nghiên cứu, Hà Minh Đức đã góp thêm một cách tiếp cận hiệu quả và có ý nghĩa về Tô Hoài nói riêng và về văn học nghệ thuật nói chung.
B.T
(SH222/08-2007)
(Đọc tập thơ “Thế giới và tôi” của Ngô Tự Lập)Tôi kém Ngô Tự Lập hơn chục tuổi nhưng không “trẻ” hơn anh. Tuổi trẻ làm ta cao ngất lên, tuổi già đôi khi cũng vậy. Nhưng cao ngất lên ta thấy gì nào?
“Tết không vào nhà tôi”(*)nghĩa là tết không vào nhà Phùng QuánCâu thơ tâm trạngVấn nạn một đời
Nhà thơ Phùng Quán trọn cuộc đời (1932 - 1995) là một chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn xông xáo và nhiệt huyết.
Đầu những năm 61, Phùng Quán về lao động tại nông trường Thắng Lợi, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Quán ở đội 6 khai hoang, tôi ở đội canh nông Ngọc Ách từ trước.
Chỉ trong vòng 63 năm từ 1930 đến 1993, văn học Mỹ đã vinh dự nhận được 11 giải Nobel. Đây là một thành tựu vượt bậc đáng tự hào mà không phải bất cứ một quốc gia nào có thể sánh kịp. Đóng góp vào ánh hào quang ấy có John Steinbeck - nhà văn lớn của văn học hiện thực Mỹ.
(Đọc “Thơ Trần Quốc Thực” – Nxb HNV 2007)Giữa rất nhiều giọng thơ khoa trương, khoe mẽ hôm nay, Trần Quốc Thực là một giọng thơ lặng lẽ đầy bản sắc. Sự ngại giao tiếp, sự âm thầm dâng hiến cho thơ của Trần Quốc Thực đã khiến cho nhiều người không biết đến thơ anh.
Văn học huyền ảo ra đời mang lại một thành tựu của phương pháp sáng tác. Một bước chuyển tiếp sau hàng thế kỉ từ cổ điển, lãng mạn, rồi hiện thực.
(Đọc lại "Chân dung và đối thoại" của Trần Đăng Khoa)Tôi đã viết vài dòng góp ý chân tình sau khi đọc lướt cuốn "Chân dung và đối thoại" của Trần Đăng Khoa. Nếu Khoa thực sự hiểu được vấn đề cũng như dư luận đánh giá đúng cuốn sách thì tôi không đọc lại và cũng không viết nữa làm gì.
Nếu ai đã được say, đã được bay cùng vầng trăng trong thơ Lý Bạch, thì sẽ không khỏi chạnh lòng khi đọc những vần thơ trăng của Đặng Huy Trứ. Đặng Huy Trứ có yêu trăng không ?Rất yêu. Yêu rất nhiều...
Phùng Quán ơi ! Bây giờ trước cái chòi ngóng sóng ở mé Hồ Tây nhà anh, quán nhậu mọc lên nghi ngút, che khuất những bầy sâm cầm đương hạ cánh xuống hoàng hôn. Cái nhìn của anh cũng đói, nhưng ở thế giới bên kia anh đâu có ngán :"Trong trăm nghìn nỗi đói/tôi nếm trải cả rồi/tôi chỉ kinh khiếp nhất/ là nỗi đói tình người
Những câu thơ này ở trong bài Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi. Lịch sử đất nước, qua con mắt thơ Lưu Quang Vũ, bao trùm là gió và tình yêu. Cũng có thể mượn câu này để nói về đời và thơ của chính anh. Điều anh ước đã làm những trang thơ anh có rất nhiều gió.
Đây là công trình nghiên cứu tổng kết có tính chất chiến lược Chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước KXO6 "Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội" do cố giáo sư Nguyễn Hồng Phong làm chủ nhiệm. Văn hóa chính trị truyền thống Việt là một đề tài quan trọng của công trình.
NGUYỄN THỤY KHA(Đọc “Gửi VB” thơ của Phan Thị Vàng Anh, Nhà xuất bản Hội Nhà văn - 2006)Có một thời, người ta giấu kín nỗi cô đơn như một khuyết tật của mình để được hoà nhập vào đám đông ồn ào, hơn hớn lên đường, để được hy sinh và dâng hiến vô danh. Nhưng đã là khuyết tật thì có giấu mãi cũng đến lúc phải lộ ra, nữa là nỗi cô đơn không thể thiếu ở mỗi kiếp người. Mãi đến thời thanh bình, nỗi cô đơn của thân phận dần dà mới được nói ra.
Hoạ sỹ Đỗ Kỳ Hoàng nguyên ủy viên thường vụ Hội LH.VHNT TT.Huế, nguyên chủ tịch Hội Mỹ thuật TT.Huế, nguyên giảng viên Đại học Nghệ thuật Huế v.v... đã từ trần ngày 26 tháng 10 năm 2006, hưởng thọ 75 tuổi.Thương tiếc người hoạ sỹ tài danh xứ Huế, Sông Hương xin đăng bài viết của nhà thơ Võ Quê và xin được coi đây như một nén hương tưởng niệm
Ai cũng biết, anh là tác giả của các tập thơ và trường ca Bến đợi, Hát rong, Hoa tường vi trong mưa, Ngựa trắng bay về, Gõ chiều vào bàn phím...với những thao thiết của dã quỳ vàng, của thông xanh, xoan tím, phượng hồng, những gió và nắng, những bùn lầy và cát bụi, những cần rượu và cồng chiêng