Sống lại không gian đình làng xưa

09:09 25/12/2017

Khi các hoạt động diễn xướng dân gian dần tách khỏi, đình làng dường như đánh mất một phần linh hồn, còn nghệ thuật truyền thống cũng thiếu khí vị. Theo NSƯT Đoàn Thanh Bình, những buổi diễn của Giáo phường Đình làng Việt một năm qua chính là hành trình để mỗi người được về lại ngày xưa, đắm mình trong đời sống văn hóa cộng đồng.

Giáo phường Đình làng Việt biểu diễn ở đình So - Nguồn: Đình làng Việt

Của dân gian trả lại dân gian

- Một năm trước, cơ duyên gì khiến bà trở thành Quản giáp của Giáo phường Đình làng Việt?


“Nói đi cũng phải nói lại, giáo phường chỉ là một đơn vị rất nhỏ, không làm thay vai trò của Nhà nước, các đơn vị văn hóa được. Để di sản về lại với dân gian, chúng tôi chỉ đang cố sức bằng cái tâm, để cho người ta hiểu. Có hiểu thì mới thích. Đó là một cách mở lối cho nghệ thuật dân gian truyền thống”.

NSƯT Đoàn Thanh Bình

- Hoạt động của nhóm Đình làng Việt có một số bạn đưa nghệ thuật vào nhưng chỉ là đánh đôi khúc đàn, ngâm thơ… nhưng lần nào cũng thấy người dân hưởng ứng thích thú quá. Rồi một hôm, cả nhóm tới thăm đình Mỏ Nhài, huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn), khi nghỉ bên bãi đất ven suối, cạnh chợ và mở chiếu hát ngẫu hứng, bà con các bản kéo đến xem rất đông. Thế là nảy ra ý tưởng phải đưa nghệ thuật về lại dân gian. Tôi trở thành Quản giáp của Giáo phường như vậy.

- Ngôi đình Việt đẹp về kiến trúc, mỹ thuật nhưng linh hồn của đình là đời sống văn hóa cộng đồng. Các hoạt động diễn xướng dân gian có phải một phần hồn cốt ấy, thưa bà?

- Nó thực chất đã trở thành phong tục tập quán của làng quê xưa. Khi chúng tôi mở chiếu chèo sân đình mới thấy chính tại đình làng, chèo được về đúng không gian của nó và ngôi đình cũng sống động hẳn lên. “Cái gì của dân gian thì trả cho dân gian”, vì vậy, trở thành tuyên ngôn của Giáo phường đình làng Việt.

- Không biết tuyên ngôn ấy đã được đón nhận như thế nào?

- Lần nào đi diễn cũng rất đặc biệt. Như ở Thổ Hà (Bắc Giang), khán giả đông sát xung quanh, sau đình còn có một cây đa lớn, trẻ con trèo cả lên xem. Ngôi đình từ gác tam quan, từng vuông sân gạch đều rất đẹp, cộng thêm hoạt động diễn xướng trở thành không gian ấn tượng, không còn trầm lắng như trước nữa. Hay sau các buổi diễn ở đình làng, có người tâm sự 60 năm mới được xem một tiết mục “đích thực là hay”. Có những người xem chèo sân đình từ lúc còn là trẻ con, đến giờ tóc bạc da mồi mới được xem lần nữa. Chúng tôi nhớ một kỷ niệm ở đình Hà Hồi (Thường Tín, Hà Nội) có một cụ già lưng còng rồi, lúc đang diễn dở thì cụ đứng lên đi ra cổng. Ai cũng tưởng cụ bỏ về nhưng hóa ra cụ về lấy tiền quay lại tặng cho những cô Thị Màu, anh Nô của chiếu chèo sân đình…

Giáo phường Đình làng Việt biểu diễn ở đình So - Nguồn: Đình làng Việt

- Dường như với chất dân dã ấy, không gian đình làng đã xóa nhòa khoảng cách giữa khán giả và diễn viên?

- Là diễn viên chuyên nghiệp, tôi đi diễn có âm thanh, ánh sáng, sân khấu lung linh, nhưng quả thực nó không cho cảm giác thăng hoa như diễn ở đình làng. Trong sân khấu hộp, diễn viên và khán giả bị ngăn cách, còn không gian đình làng thì gần gũi, khán giả trở thành đối tượng thứ ba, những tràng cười nghiêng ngả cũng như tham gia vào vở diễn. Bởi vậy, về với sân đình, cứ như các cụ xưa, mượn ngay cảnh trí ấy mà thể hiện. Đi một vòng quanh chiếu đã chuyển từ không gian này sang không gian khác rồi, chẳng cần thuyết minh hay chuyển cảnh, người xem vẫn hiểu. Đó là sân khấu cách điệu, ước lệ đúng nghĩa của chèo.

“Dao năng mài thì sắc”

- Đưa nghệ thuật trở lại làm sống dậy di sản đình làng. Mong muốn vậy nhưng làm không dễ, thậm chí có thể đánh mất những gì thuộc về truyền thống…

- Thật khó xét đoán đầy đủ, song quả thực có nhiều lễ hội đưa chèo, quan họ… về nhưng chỉ mang hình thức trình diễn sân khấu. Mà như vậy thì không thể làm cho người ta hứng thú với nghệ thuật truyền thống được. Vấn đề lớn nhất bây giờ là làm thế nào mang tới cho công chúng thứ nghệ thuật đích thực, những gì chuẩn mực và có tính hấp dẫn.

- Nên giáo phường ngoài biểu diễn thì nhiệm vụ chính còn là truyền dạy?

- Đúng vậy. Giảng dạy trong Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh, tôi thấy rằng sinh viên hơi thiệt thòi, không có môi trường thực hành đúng nghĩa. Ở trường số tiết học phải chia cho môn kiến thức cơ bản nên thời gian học chuyên ngành quá ít, càng khó có những chuyến đi thực tập với sự hướng dẫn, chỉ dạy tỉ mỉ. Mọi người vẫn nói các em ra trường cứ như… Cao Biền ấy, non lắm, gọi là nắm được cơ bản nhưng cái cơ bản ấy vẫn cứng cứng. Trong khi học nghệ thuật phải được cầm tay chỉ việc, dày công rèn luyện. Mục đích của giáo phường chủ yếu là để các em được trải nghiệm. Cùng nhóm Đình làng Việt đi điền dã một lần/tháng, các em trong giáo phường vừa được tham quan di sản, vừa cọ xát thực tế, tiếp xúc với giá trị chuẩn mực.

- Thành quả một năm nhìn lại ra sao, thưa bà?

- Tôi thấy cái được lớn nhất là chứng kiến các em trưởng thành, mình vất vả nhưng dù sao cũng có thành quả bù đắp. Nghệ thuật truyền thống biểu diễn đã khó, truyền dạy cho chân thực cũng nhọc nhằn không kém. Rất vui là nhiều em tham gia kỳ đầu, tới giờ rõ ràng thấy “lên tay”, phong cách nhuần nhuyễn hơn. Các trích đoạn không được học trong nhà trường thì các em được diễn thật, những điều về chèo cổ sân đình trước chỉ giảng lý thuyết thì giờ các em được hiểu từ thực tế. “Dao năng mài thì sắc” là thế.

- Phải hiểu về ông cha mình thì mới nắm bắt được tương lai và quá trình tìm hiểu chính là đang lấp đầy những khoảng trống trong hiện tại. Ý kiến này gợi cho bà suy nghĩ gì?

- Tôi cảm thấy điều ấy hơi mơ hồ và có vẻ xa vời quá! Thực chất, chúng tôi chỉ biết dạy và… hy vọng. Các em sau khi ra trường như cánh chim bay đi, ở ngoài tầm tay của mình rồi, trong khi nhu cầu cuộc sống, sự thay đổi của xã hội lại quá mạnh, ai biết trước điều gì. Bây giờ thú thật là chỉ biết làm sao khi còn ở giáo phường, các em hiểu nghệ thuật truyền thống đích thực và làm theo cách ông bà xưa đã làm. Rồi may các em có thể trở thành hạt giống gieo ra nơi khác, lớp nọ gối lớp kia.

- Xin cảm ơn bà!

Theo Lê Thư - ĐBND

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.

  • Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.

  • Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.

  • “Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.

  • Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.

  • I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.

  • Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.

  • Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.

  • Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.

  • Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.

  • Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.

  • Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.

  • (Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)

  • Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.

  • Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.

  • Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.

  • Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

  • Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.