Những tòa nhà tráng lệ, trung tâm mua sắm sầm uất và các công trình đầy hứa hẹn tương lai… đã vẽ nên bức tranh về một thành phố vội vã chuyển mình. Nhưng còn có một Hà Nội dung dị, đời thường hơn. Chính những khía cạnh khác nhau ấy đã tạo nên nét riêng cho Hà Nội.
Một thành phố đáng sống là khiến những lối sống khác nhau được bén rễ - Nguồn: ITN
Những nông dân trong phố
“Dù chỉ cách vài bước chân từ con đường chính xe cộ đi lại như mắc cửi, trò chuyện với cụ khiến tôi cảm thấy như mình vừa về một làng quê Việt Nam chính gốc, nơi cả những người xa lạ cũng được tiếp đón nồng hậu. Và bên chén nước chè xanh, những câu chuyện rổn rảng không chút ngần ngại hay dò xét như người ta thường thấy ở giữa lòng đô thị” - Aaron Vansintjan, nghiên cứu sinh tại Trường Đại học London chia sẻ về quá trình nghiên cứu Hà Nội. Trong 6 tháng, Aaron đã đi khắp các con phố và có khám phá thú vị về ảnh hưởng đô thị hóa lên cuộc sống của người dân. Không gian trống bị thu hẹp, thay thế bằng nhà bê tông, nhiều siêu thị, cửa hàng tiện ích, chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch... Dù vậy, nhiều người vẫn tiếp tục sử dụng theo cách truyền thống: Mua thực phẩm của gánh hàng rong hay tự trồng rau, hoa, cây cảnh… Vì thế, nhiều khu phố Hà Nội có không gian pha lẫn truyền thống và hiện đại.
Nhưng đằng sau hình ảnh hàng rong hay ban công đầy hoa, vườn rau tươi xanh… là câu chuyện về thân phận những con người ở thành phố. Đó là chuyện của những nông dân - giờ là công dân của một Hà Nội mở rộng, đã bán hết đất ruộng nhưng vẫn muốn tiếp tục làm nông bằng cách tận dụng những công trình xây dựng dang dở. Như ở Tây Hồ, một cặp vợ chồng già đã sống cả đời trong ngôi nhà tạm bợ dựng trên nền bãi tập kết rác khổng lồ, tự tạo khoảnh vườn nhỏ để trồng rau sạch phục vụ khách nước ngoài. Hay ở Nhật Tân, sau khi khu đô thị Ciputra mọc lên, người dân duy trì nghề của ông cha bằng cách chuyển địa điểm trồng đào sang bãi sông Hồng, nơi trước đây là khu vực trồng rau, còn rau lại trồng trong các thùng xốp…
“Ở Tây Hồ, Nhật Tân, Trung Hòa Nhân Chính, Linh Đàm… cũng có thể là bất cứ nơi nào của Hà Nội, họ là những nông dân trong phố, gọi đô thị mình đang sống là làng. Họ không có nhiều lựa chọn về cách sống trong một thành phố mà buộc phải tự tạo ra, theo cách của riêng mình” - Aaron Vansintjan nói.
Sự “ngạc nhiên bền vững”
“Câu chuyện vỉa hè vẫn đang gây xôn xao dư luận, khi chính quyền can thiệp để làm cho ngăn nắp, sạch sẽ, nhưng lại đụng chạm đến rất nhiều vấn đề trong thành phố… Chúng ta không chặn sự phát triển mà chọn lấy cách làm tốt. Hãy nhìn nhận thành phố là của chung mọi người. Thay vì cứ băn khoăn thành phố phải thế nào mới đáng sống, thì cần suy ngẫm ngược lại xem chúng ta có thể làm gì để thành phố này tốt hơn”. Phó Viện trưởng Viện Kiến trúc Quốc gia, PGS.TS. Phạm Thúy Loan |
Việc trồng rau, mua bán hàng rong… là cách người dân đô thị tạo ra môi trường sống thân thuộc hơn, thực phẩm khi ấy trở thành phương tiện tham gia và xây dựng đời sống cộng đồng. Theo Aaron, “nó là quà tặng để cải thiện mối quan hệ với hàng xóm, biểu tượng của làng quê, gợi nhớ về giá trị truyền thống Việt Nam từ sâu thẳm mỗi người. Bởi vậy, mọi yếu tố đang hiện hữu trong đô thị Hà Nội, tuy không phải lúc nào cũng rõ ràng, nhưng vẫn có giá trị riêng”.
Dưới góc độ quy hoạch kiến trúc, KTS Hoàng Thúc Hào gọi những giá trị này là sự “ngạc nhiên bền vững” của Hà Nội. “Mặc dù so với trước đây, cân bằng sinh thái đã bị đô thị hóa tác động ghê gớm, nhưng Hà Nội vẫn đẹp bởi những sắc thái riêng do lối sống đa dạng của các nhóm người khác nhau tạo thành”. Đồng tình với quan điểm này, Aaron cho biết: “Những người dân yếu thế, câu chuyện của họ ít được kể, họ không được tham gia nhiều vào quá trình quy hoạch nhưng biết cách khiến cuộc sống trở nên đáng yêu bằng đời sống công cộng phong phú. Ở các thành phố khác, như London (Anh), Ottawa (Canada), Bruxelles (Bỉ)… sẽ khó bắt chuyện cởi mở với người lạ, cũng đừng mong tìm thấy hàng rong như trên phố Hà Nội. Giá trị đó khiến ta thấy nơi đây gần gũi như mình luôn thuộc về”.
Mọi lối sống được bén rễ
Theo Phó Viện trưởng Viện Kiến trúc Quốc gia, PGS.TS. Phạm Thúy Loan, giá trị sống của một thành phố cần được xác định dựa trên khía cạnh tôn trọng và bảo đảm cách sống của các cộng đồng khác biệt. “Quy hoạch không nên làm ảnh hưởng đến quyền dù chỉ một nhóm cộng đồng. Khi thành phố phát triển, các không gian bị ăn bởi những công trình, cái còn lại chính là sự gắn kết con người trong xã hội. Không gian công cộng, sân chơi cho trẻ em, những thùng xốp trồng cây tạm bợ… tưởng đơn giản nhưng ý nghĩa hơn ta tưởng”, PGS.TS. Phạm Thúy Loan nói.
KTS Hoàng Thúc Hào nhận định, nơi chốn lý tưởng không thể chỉ đáp ứng chất lượng sống cho một nhóm cộng đồng, mà dành cho mọi người. Phát triển một thành phố phải dựa trên nhiều góc độ, cho phép các nhóm cộng đồng cùng thích ứng. “Sẽ luôn có mâu thuẫn nhưng cần để mọi người có cơ hội lên tiếng, nhất là những người đang ít có tiếng nói trong thành phố”. Từ kinh nghiệm nghiên cứu nhiều thành phố khác nhau, theo Aaron Vansintjan, đối với thành phố biến chuyển ngày càng mạnh mẽ như Hà Nội, với sự tích hợp đa dạng văn hóa, lối sống, việc lắng nghe tiếng nói của các nhóm cộng đồng càng trở nên quan trọng. “Một thành phố đáng sống là khiến những lối sống khác nhau được bén rễ, và điều đặc biệt là nó dành cho mọi người”.
Nguồn: Lê Thư - ĐBND
NGUYỄN NHÃ TIÊN Bút ký"Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ. Hưng tộ diên trường ức vạn xuân". Nghĩa là: đất nước Hồng Lam sau ta năm trăm năm sẽ là một thời kỳ hưng thịnh vạn mùa xuân.Không hiểu những tương truyền về "sấm ký" Trạng Trình "ứng nghiệm" đến dường nào, đâu là nguyên bản và thực hư ra sao? Có điều, chúng tôi đang viếng thăm làng quê Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo - quê hương của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đúng vào cái khoảng thời gian "sau năm trăm năm" ấy, và nhất là vào giữa cái kỳ gian mà đất nước đang từng ngày" Hưng tộ diên trường ức vạn xuân".
TRẦN HOÀNGTrong tiếng Việt, từ "Văn vật" là một từ thuộc nhóm từ gốc Hán và cùng tồn tại song song với các từ: Văn hoá, Văn hiến, Văn minh. Người xưa thường dùng từ này để nói, viết về truyền thống văn hoá của một vùng đất, hoặc của một địa phương. Chẳng hạn, lâu nay, cư dân đồng bằng Bắc bộ đã có câu: "Thăng Long là đất ngàn năm văn vật". Song có lẽ từ "Văn vật" xuất hiện nhiều nhất trong các cụm từ "làng văn vật", "danh hương văn vật". Điều này cho thấy từ xa xưa, tổ tiên ta đã rất quan tâm đến "văn hoá làng" và "làng văn hoá".
TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử loài người, có những bức tranh, những pho tượng lấp lánh toả ánh hào quang lặng im của chúng trong sự lâu bền của năm tháng. Có những ký ức có thể thi gan cùng vĩnh cửu. Nhưng có lẽ, ngôn từ có sức mạnh riêng mà không một thách thức nào, dù là của không gian hay thời gian có thể làm nhạt nhoà những âm vang của nó. Tất nhiên, một khi nó đã đi vào trái tim và khối óc của con người. 1034 chữ của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một trong những áng ngôn từ có sức sống bền vững với thời gian như thế.
TRẦN QUỐC TOẢN Tôi sinh ra và lớn lên giữa làng Hến bé nhỏ bên bờ sông La xã Đức Tân (tức Trường Sơn ngày nay) huyện Đức Thọ - tỉnh Hà Tĩnh. Qua sự nhọc nhằn của cha, vất vả của mẹ đã đút mớm cho tôi từng thìa nước hến, bát cháo hến để rồi tôi lớn dần lên.
HỒ TƯNằm trên dải cát ven phá Tam Giang, từ xưa làng tôi cũng đã có một ngôi đình. Đến năm 1946, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, Chính quyền cách mạng đã vận động nhân dân triệt phá ngôi đình để tránh cho Tây khỏi làm nơi trú đóng.
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG Đất nước ta, miền Bắc và miền nối liền nhau bằng một dải đất dài và hẹp gọi là miền Trung. Dãy Trường Sơn chạy dọc biên giới phía Tây như một cột sống vươn những chi nhánh dài ra tận biển Đông, làm thành những đèo, trong đó hiểm trở là đèo Hải Vân.
PHẠM TIẾN DUẬT1.Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, khi nghiên cứu về dân tộc học, có luận điểm cho rằng, trong quá trình định cư dần dà từ Bắc vào Nam, các cộng đồng, một cách tự nhiên, hình thành từng vùng thổ âm khác nhau.
PHAN THUẬN AN.Nhiều người từng đến Lăng Cô hoặc nghe nói đến địa danh Lăng Cô, nhưng ít ai biết rằng vua Khải Định là người phát hiện ra khu du lịch nghỉ mát này.Có thể nói vua Khải Định là ông vua thích du lịch nhất trong số 13 vị vua triều Nguyễn (1802- 1945). Trong đời mình, nhà vua đã đi du lịch nhiều nơi tring nước và cả nước ngoài nữa.
Thiền tông, nhờ lịch sử lâu dài, với những Thiền ngữ tinh diệu kỳ đặc cùng truyền thuyết sinh động, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Á đông xưa và thấm nhuần văn hóa Tây phương ngày nay nên đã cấu thành một thế giới Thiền thâm thúy, to rộng.
Nhân giỗ tổ Hùng Vương 10 tháng 3 Âm lịch
Anh tôi đang giàu lên với nghề nuôi rắn độc, bị con hổ mang hỏi thăm vào tay. Mấy tiếng đồng hồ cáng tắt qua các cánh rừng đến bệnh viện huyện được cứu sống, nhưng vết thương bị hoại tử, hơn tháng sau mới xuất viện, tiêu tốn hơn chục triệu. Năm sau anh tôi lại bị chính con hổ mang ấy hỏi thăm ở tay kia. Lần này thì tôi đánh xe đi mời thầy thuốc rắn bản Lúng.
Đó là làng Lệ Mật thuộc xã Việt Hưng, (thị trấn Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội). Làng này có nghề nuôi bắt rắn, tới nay đã qua 900 năm.
Các hoàng đế nước Việt xưa phần lớn giỏi chữ Hán, biết thơ văn, trải Lý, Trần, Lê, Nguyễn đời nào cũng có các tác phẩm ngự chế quý giá. Nhưng tất cả các tác phẩm ấy đều nằm trong quỹ đạo Nho Giáo, dùng chữ Hán và chữ Nôm để diễn đạt cảm xúc về tư tưởng của mình.
"Sang Xuân ta sẽ ăn Tết khai hạ vào ngày mùng 7 tháng Giêng". Vì sao vua Quang Trung dám tuyên bố cả quyết như trên trước mặt ba quân? Tất cả bí mật của cuộc hành binh khôi phục Thăng Long đều được "gói trọn" trong một chiếc bánh chưng.
LGT: Nhà văn Thái Vũ với những cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng như Cờ nghĩa Ba Đình, Biến động - Giặc Chày Vôi, Huế 1885... nay đã gần 80. Tuổi già sức yếu song ông đã hoàn thành tập Hồi ức, gồm 4 phần dày dặn. Trong đấy phần II: HUẾ - QUẢNG NGÃI VÀ LK5 là những trang hồi ức đầy “xốn xang” trước và sau CM tháng Tám.Sông Hương xin trích đăng một phần nhỏ gửi tới bạn đọc nhân kỷ niệm ngày CM tháng Tám thành công và Quốc khánh 2 – 9.
Nếu kể cả những công trình nghiên cứu văn hóa, địa lý, lịch sử có đề cập đến các địa danh ở các tỉnh Trung Trung Bộ thì xưa nhất phải kể đến “ Ô Châu cận lục” của Dương Văn An đời Mạc chép về sông núi, thành trì, phong tục của xứ Thuận Quảng, từ Quảng Bình đến Quảng Nam. Kế đến là “ Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn tập hợp những tài liệu về địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa trong thời gian làm đô đốc xứ Thuận Hóa cuối thế kỷ 18.