Quốc mẫu Âu Cơ được nhà nước ta đề nghị đưa vào danh sách “Các nữ thần trên thế giới”

16:47 16/05/2008
Nhân giỗ tổ Hùng Vương 10 tháng 3 Âm lịch

Quốc mẫu Âu Cơ


Sử sách của nước ta còn ghi lại rất rõ ràng: Thời đại Hùng Vương, nước ta là nước Văn Lang và được phân thành 15 bộ, tương đương với phạm vi cư trú của 15 bộ lạc hợp thành dân cư nước Việt cổ. Trong 15 bộ, thì bộ Văn lang là bộ gốc, là trung tâm của nước Văn Lang nằm trên hợp lưu của ba con sông: sông Thao, sông Đà và sông Lô. Lãnh thổ bộ này trải rộng ra hai bên sông Thao, sông Hồng từ dãy núi Ba Vì sang dãy núi Tam Đảo, phạm vi tương đương với tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc cộng với tỉnh Sơn Tây (cũ), một phần tỉnh Yên Bái và miền nam tỉnh Tuyên Quang. Như vậy, cách đây đúng 4880 năm, vùng đất Tổ Hùng Vương nằm gọn vào khoảng giữa bộ Văn Lang. Tục truyền, ở nơi đây, bà Âu Cơ đã sinh ra một bọc trăm trứng, sau nở thành trăm người con. (Bà Âu Cơ là con gái của Đế Lai, lấy Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương và bà Thần Long).
Một hôm Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng đứng đầu thủy tộc, nàng là giống Tiên sống trên cạn là chính, Thủy hoả khắc, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh trăm con, chung hợp thật khó vì giòng giống bất đồng khó ở lâu với nhau được”. Nói rồi chia cho Âu Cơ 50 người con, còn 50 người con theo Lạc Long Quân xuôi về phía .
Âu Cơ và 50 người con lên ở đất Phong Châu, họ tôn người con trưởng lên làm vua lấy hiệu là Hùng Vương thứ nhất, đặt tên nước là Văn Lang (nay thuộc Bạch Hạc, Phú Thọ). Đến nay, các nhà nghiên cứu về sử học ở nước ta còn cho biết: Trong huyền sử nói rằng, khi chia tay với Lạc Long Quân, bà Âu Cơ dẫn các con trụ lại ở vùng Hiền Lương (thuộc Hạ Hoà - Phú Thọ ngày nay) là một nơi có nhiều cảnh đẹp... “Mẹ dừng chân đốn gỗ chò để làm nhà. Mẹ gọi nước Ghềnh Hạc dội về. Mẹ gọi gió Chàm Lâm thổi ngược. Mẹ uốn sông Cái chảy đằng trước, xếp núi non trùng điệp đằng sau. Mẹ bảo con cháu khơi Ngòi Lớn bên phải, khơi Ngòi Vằn bên trái. Mẹ bảo dân đào Ao Muội và Móng Hội để thả cá. Mẹ dạy dân đắp gò trồng cây như Gò Cám, Gò Thị, Gò Sung, Gò Sở... chim chóc rủ nhau đến hót, hươu nai rủ nhau chạy nhảy. Mẹ tìm ra hạt lúa. Mùa xuân Mẹ dạy dân cày bừa. Mùa hạ Mẹ dạy dân gặt hái. Đồi nương có lúa nếp xen lẫn nương mía, nương dâu. Mẹ dạy dân nhào bột nếp với nước mía để làm bánh đằng. Dân làng bắt chước chế thành nhiều thứ bánh khác nhau như bánh rán, bánh mật, bánh nếp. Mẹ dạy dân dệt vải làm quần áo che thân. Hiền Lương trở nên một vùng giàu có yên vui...”.
Mẹ Âu Cơ lập nghiệp tại đây và cũng mất tại đây. Dân chúng sau này lập đền tôn thờ Mẹ và suy tôn Mẹ là Quốc Mẫu Việt . Đền Quốc Mẫu Âu Cơ được dân làng thành lập từ năm nào không rõ, nhưng theo những người dân ở đó cho biết, thì lần trùng tu cách đây khoảng trên dưới 200 năm, vào thời Gia Long nhà Nguyễn (1802 - 1819). Đền có 5 gian kiến trúc theo kiểu chữ Nhất, sau đền có một cây đa già trên 100 tuổi, tán lá xum xuê tôn cho ngôi đền một vẻ đẹp vừa thanh thoát vừa tôn nghiêm. Trong đền có một bức tượng Quốc Mẫu Âu Cơ cao gần một thước ngồi vào một ngai, hai tay đặt lên đầu gối, chân đi hài cong (vân sào), đầu đội mũ lấp lánh những hạt kim cương. Cánh đây vừa đúng mười năm: vào năm Tân Mùi (1991), ngôi đền này đã được Bộ Văn hoá Thông tin nước ta công nhận là “Di tích Lịch sử - Văn hoá”.
Truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ, đã cho cả dân tộc ta niềm tự hào là con Rồng, cháu Tiên. Theo giáo sư Đinh Gia Khánh, thì Hồng Bàng là một loài chim lớn, tên Âu Cơ cũng là tên một loài chim. Chữ Lạc trong Âu Lạc và trong Lạc Việt mà chúng ta thường nói về Quốc Tổ, về đất nước lúc cội nguồn, có nghĩa là một loài chim có đuôi dài như chim phượng hoàng, chim trĩ, chim công. Vì thế, để biểu tượng cho sự hoà hợp, người ta thường dùng hai hình tượng là Rồng - Phượng (Phụng) trước để nói lên nguồn gốc của dân tộc, sau là về mỹ thuật và ý nghĩa như trên đã nói.
Từ hàng nghìn năm nay, hình tượng Quốc Tổ Lạc Long Quân và Quốc Mẫu Âu Cơ, là hình ảnh thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, nhiều ngôi đền đã được lập nên để thờ phụng người Cha, người Mẹ của giống nòi. Nhưng nếu nói nơi có quy mô bề thế, thì phải kể tới ngôi đình Bình Đà (ở xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây). Ngôi đình làng Bình Đà có từ nhiều thế kỷ trước và luôn được dân làng chăm chút tu sửa hàng năm, ở đình có tấm bia ghi từ năm Kỷ Mùi (1919) viết rằng: “Đình làng ta thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân đã có từ lâu đời...”, và hai tấm bia có hoạ tiết hình Rồng rất đẹp thời nhà Lý... Ngoài ra, đền thờ Lạc Long Quân còn lưu giữ được bức chạm nổi sơn son thiếp vàng có niên kỷ đầu thế kỷ thứ 11. Bức chạm được phối trí nội dung rất trang trọng: Giữa tầng 2 và 3 là hình tượng Quốc Tổ Lạc Long Quân đội mũ bình thiên, mặc áo hoàng bào, tay cầm hốt, chân đi hia, được xem là một cổ vật quý giá của quốc gia.
Lễ giỗ Quốc Tổ Lạc Long Quân được tổ chức vào ngày mùng 6 tháng 3 Âm lịch, trước 4 ngày giỗ tổ Hùng Vương (10 tháng 3 Âm lịch) tại đền Hùng, Phú Thọ. Trong ngày lễ tưởng niệm này, dân làng bầy đủ lễ vật trước hương án như 100 bánh oản, 100 quả chuối, 100 bánh dẻo, 100 chiếc ghế chéo để mời 100 người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ về dự hội.
Được biết, riêng Quốc Mẫu Âu Cơ đã được Nhà nước ta đề nghị đưa vào danh sách “các Nữ thần trên thế giới” do Cơ quan Văn hoá - Giáo dục và Khoa học Liên Hiệp quốc (UNESCO) chủ trì xét duyệt.


NGUYỄN DUY CÁCH
(nguồn: TCSH số 146 - 04 - 2001)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN VĂN VINH                                 Bút kýAi về cầu ngói Thanh ToànCho em về với một đoàn cho vui

  • NGUYỄN NHÃ TIÊN                         Bút ký"Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ. Hưng tộ diên trường ức vạn xuân". Nghĩa là: đất nước Hồng Lam sau ta năm trăm năm sẽ là một thời kỳ hưng thịnh vạn mùa xuân.Không hiểu những tương truyền về "sấm ký" Trạng Trình "ứng nghiệm" đến dường nào, đâu là nguyên bản và thực hư ra sao? Có điều, chúng tôi đang viếng thăm làng quê Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo - quê hương của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đúng vào cái khoảng thời gian "sau năm trăm năm" ấy, và nhất là vào giữa cái kỳ gian mà đất nước đang từng ngày" Hưng tộ diên trường ức vạn xuân".

  • TRẦN HOÀNGTrong tiếng Việt, từ "Văn vật" là một từ thuộc nhóm từ gốc Hán và cùng tồn tại song song với các từ: Văn hoá, Văn hiến, Văn minh. Người xưa thường dùng từ này để nói, viết về truyền thống văn hoá của một vùng đất, hoặc của một địa phương. Chẳng hạn, lâu nay, cư dân đồng bằng Bắc bộ đã có câu: "Thăng Long là đất ngàn năm văn vật". Song có lẽ từ "Văn vật" xuất hiện nhiều nhất trong các cụm từ "làng văn vật", "danh hương văn vật". Điều này cho thấy từ xa xưa, tổ tiên ta đã rất quan tâm đến "văn hoá làng" và "làng văn hoá".

  • TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử loài người, có những bức tranh, những pho tượng lấp lánh toả ánh hào quang lặng im của chúng trong sự lâu bền của năm tháng. Có những ký ức có thể thi gan cùng vĩnh cửu. Nhưng có lẽ, ngôn từ có sức mạnh riêng mà không một thách thức nào, dù là của không gian hay thời gian có thể làm nhạt nhoà những âm vang của nó. Tất nhiên, một khi nó đã đi vào trái tim và khối óc của con người. 1034 chữ của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một trong những áng ngôn từ có sức sống bền vững với thời gian như thế.

  • TRẦN QUỐC TOẢN Tôi sinh ra và lớn lên giữa làng Hến bé nhỏ bên bờ sông La xã Đức Tân (tức Trường Sơn ngày nay) huyện Đức Thọ - tỉnh Hà Tĩnh. Qua sự nhọc nhằn của cha, vất vả của mẹ đã đút mớm cho tôi từng thìa nước hến, bát cháo hến để rồi tôi lớn dần lên.

  • HỒ TƯNằm trên dải cát ven phá Tam Giang, từ xưa làng tôi cũng đã có một ngôi đình. Đến năm 1946, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, Chính quyền cách mạng đã vận động nhân dân triệt phá ngôi đình để tránh cho Tây khỏi làm nơi trú đóng.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG Đất nước ta, miền Bắc và miền nối liền nhau bằng một dải đất dài và hẹp gọi là miền Trung. Dãy Trường Sơn chạy dọc biên giới phía Tây như một cột sống vươn những chi nhánh dài ra tận biển Đông, làm thành những đèo, trong đó hiểm trở là đèo Hải Vân.

  • PHẠM TIẾN DUẬT1.Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, khi nghiên cứu về dân tộc học, có luận điểm cho rằng, trong quá trình định cư dần dà từ Bắc vào Nam, các cộng đồng, một cách tự nhiên, hình thành từng vùng thổ âm khác nhau.

  • PHAN THUẬN AN.Nhiều người từng đến Lăng Cô hoặc nghe nói đến địa danh Lăng Cô, nhưng ít ai biết rằng vua Khải Định là người phát hiện ra khu du lịch nghỉ mát này.Có thể nói vua Khải Định là ông vua thích du lịch nhất trong số 13 vị vua triều Nguyễn (1802- 1945). Trong đời mình, nhà vua đã đi du lịch nhiều nơi tring nước và cả nước ngoài nữa.

  • Thiền tông, nhờ lịch sử lâu dài, với những Thiền ngữ tinh diệu kỳ đặc cùng truyền thuyết sinh động, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Á đông xưa và thấm nhuần văn hóa Tây phương ngày nay nên đã cấu thành một thế giới Thiền thâm thúy, to rộng.

  • Anh tôi đang giàu lên với nghề nuôi rắn độc, bị con hổ mang hỏi thăm vào tay. Mấy tiếng đồng hồ cáng tắt qua các cánh rừng đến bệnh viện huyện được cứu sống, nhưng vết thương bị hoại tử, hơn tháng sau mới xuất viện, tiêu tốn hơn chục triệu. Năm sau anh tôi lại bị chính con hổ mang ấy hỏi thăm ở tay kia. Lần này thì tôi đánh xe đi mời thầy thuốc rắn bản Lúng.

  • Đó là làng Lệ Mật thuộc xã Việt Hưng, (thị trấn Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội). Làng này có nghề nuôi bắt rắn, tới nay đã qua 900 năm.

  • Các hoàng đế nước Việt xưa phần lớn giỏi chữ Hán, biết thơ văn, trải Lý, Trần, Lê, Nguyễn đời nào cũng có các tác phẩm ngự chế quý giá. Nhưng tất cả các tác phẩm ấy đều nằm trong quỹ đạo Nho Giáo, dùng chữ Hán và chữ Nôm để diễn đạt cảm xúc về tư tưởng của mình.

  • "Sang Xuân ta sẽ ăn Tết khai hạ vào ngày mùng 7 tháng Giêng".     Vì sao vua Quang Trung dám tuyên bố cả quyết như trên trước mặt ba quân? Tất cả bí mật của cuộc hành binh khôi phục Thăng Long đều được "gói trọn" trong một chiếc bánh chưng.

  • LGT: Nhà văn Thái Vũ với những cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng như Cờ nghĩa Ba Đình, Biến động - Giặc Chày Vôi, Huế 1885... nay đã gần 80. Tuổi già sức yếu song ông đã hoàn thành tập Hồi ức, gồm 4 phần dày dặn. Trong đấy phần II: HUẾ - QUẢNG NGÃI VÀ LK5 là những trang hồi ức đầy “xốn xang” trước và sau CM tháng Tám.Sông Hương xin trích đăng một phần nhỏ gửi tới bạn đọc nhân kỷ niệm ngày CM tháng Tám thành công và Quốc khánh 2 – 9. 

  • Nếu kể cả những công trình nghiên cứu văn hóa, địa lý, lịch sử có đề cập đến các địa danh ở các tỉnh Trung Trung Bộ thì xưa nhất phải kể đến “ Ô Châu cận lục” của Dương Văn An đời Mạc chép về sông núi, thành trì, phong tục của  xứ Thuận Quảng, từ Quảng Bình đến Quảng Nam. Kế đến là “ Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn tập hợp những tài liệu về địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa trong thời gian làm đô đốc xứ Thuận Hóa cuối thế kỷ 18.