Qua đò Tam Giang

08:52 14/10/2015

PHI TÂN
     Bút ký

Phá Tam Giang trải dài theo hướng từ Bắc vào Nam, song song với bờ biển từ huyện Phong Điền cho đến huyện Phú Lộc (Thừa Thiên Huế), được chảy vào bởi ba con sông lớn là sông Ô Lâu, sông Bồ và sông Hương.

Minh họa: Nhím

Xuôi đò trên phá Tam Giang sẽ cảm nhận mây nước mênh mông hữu tình, thỉnh thoảng bắt gặp từng đàn cá quẫy, một cánh chim vút lên từ mặt phá sải dài đôi cánh kiêu hãnh, hay cảnh một gia đình vạn chài quây quần bên bữa cơm chiều trên chiếc đò nhỏ ấm cúng… Tam Giang tự lâu rồi hiện hữu trong tôi như một phần quê hương thân thương, đầy những giấc mơ xanh.

Xóm nhà chồ Điền Hải bên bờ phá có một tên gọi dân dã: xóm Sáo. Sáo ở đây chính là nò sáo - một ngư cụ cố định trên phá Tam Giang. Những năm 80 của thế kỷ trước, khi người làm ruộng phải chạy gạo từng bữa vì thiếu lương thực thì đời sống của ngư dân xóm Sáo là mơ ước của những người dân nông thôn. Người dân xóm Sáo sống nhờ “lộc” của phá Tam Giang. Mỗi lần xóm đổ nò cá tôm phải tính từ đơn vị tạ trở lên mà là cá to, cá ngon đặc sản của phá; hay mỗi mùa lụt từng đàn con chình, con lệch, con lươn trôi về dày đặc cả trộ sáo, cứ thế đổ đầy đò mang về chợ. Nghe mấy bác ngư dân kể về chuyện con chình của phá Tam Giang mới thú vị. Loài chình sống ở những con suối đầu nguồn, đến mùa mưa nó trôi về phá theo con nước. Điều lạ là con chình bắt ở suối thịt không ngon, phải đến khi nó trôi về phá thấm vị của con nước lợ mới béo. Anh bạn học của tôi quê ở làng Thế Chí Đông, một làng nông nghiệp gần phá Tam Giang kể: “Con gái làng tau hồi đó lấy được chồng xóm Sáo cứ như giờ lấy Việt kiều, được cha mạ nhà trai cho vợ chồng nửa trộ sáo mần ăn, là cả một gia sản lớn. Ngư dân phá Tam Giang có một tục kiêng kỵ, đàn bà không được đi làm nghề vì sợ xui, nên được làm dâu xóm Sáo vô cùng sướng, chỉ việc ở nhà phục vụ chồng con và mỗi ngày gánh cá tôm ra chợ bán…”. Tôi đã nhiều lần ghé xóm Sáo chơi và ngạc nhiên trước những ngôi nhà chồ bằng gỗ rộng rãi thoáng mát. Ngồi xếp bằng nhậu trên nhà chồ nghe ngọn gió hào phóng mang theo cả mùi nước lợ từ phá Tam Giang thổi về, ngỡ mình đang ngồi trên một chiếc đò lớn neo trên sóng nước mênh mông. Nhà chồ được xây dựng kiên cố, vững chãi bằng gỗ giống như những ngôi nhà sàn ở Tây Nguyên. Dưới sàn nhà, chủ nhà để các ngư cụ đánh cá và chiếc ghe nhỏ. Nhìn kiến trúc của những ngôi nhà chồ bên chân phá mới hiểu rằng: nếu như nông dân có người mẹ lớn là Đất thì ngư dân có người mẹ lớn là Nước. Kiến trúc của những ngôi nhà chồ chính là hình bóng của những chiếc đò trên cạn. Tôi càng hiểu thêm triết lý sống của ngư dân Tam Giang khi đọc hai câu thơ của một người bạn sinh ra và lớn lên trong một ngôi nhà chồ xóm Sáo: “Vạn đò giỗ tổ trên sông/ Khom lưng mà lạy ròng ròng nước trôi”.

Cách đây không lâu tôi lại về Điền Hải, vừa vô sân ủy ban xã gặp ngay anh Tế, công an xã đang chắp tay sau lưng đi lui đi tới có vẻ căng thẳng lắm. Thấy tôi, anh mừng ra mặt: “Chà có mấy nhà báo về đây rồi, nhờ mấy chú ra phá Tam Giang mần cấy phóng sự “thủy tặc” trên phá giúp tụi tui…”. Nói xong anh móc điện thoại gọi cho bà con ngoài xóm Sáo chuẩn bị đò giang. Tôi đi cùng anh Tế và chú Công Chủ tịch xã Điền Hải ra xóm Sáo. Ở đó đã có mấy người quen là anh Chiến, anh Chính đang đứng đợi ở bến đò. Đò nổ máy bành bạch lao ra phá. Nhưng đò lạng lui lạng tới trên con phá mấy vòng mà chẳng thấy “thủy tặc” xuất hiện. Anh Tế đốt thuốc phì phà liên tục tỏ vẻ căng thẳng lắm. Đò chạy hồi lâu, chú Công mới đề nghị anh Chiến giở một trộ nò coi thử, chỉ thấy một con cá bống bằng ngón tay cái, còn lại là mấy con tôm con cá liu tiu. Anh Tế mặt hằm hằm: “Đó mấy chú thấy không, hồi trước giở một nò là đầy một rổ cá, chừ cái bọn “thủy tặc” càn quét môi sinh nên cá mú đi mô hết”. Chờ thêm một hồi nữa vẫn không thấy “thủy tặc”. Anh Chiến nói “Thôi mình lái đò vô Cồn Cát chơi”. Cồn Cát là khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên phá có cắm biển cấm không được đánh bắt. Cách đó mấy tháng, mấy trăm con cá dìa giống được thả xuống khu vực này. Đến Cồn Cát, chú Công nói: “Đây giống như là khoa sản của bệnh viện rứa nghe. Cá đẻ ra chỗ ni an toàn, còn kêu là tái tạo nguồn lợi thủy sản cho phá Tam Giang đang cạn kiệt…”. Đang chong mắt nhìn xuống đáy phá xem mấy con cá dìa đã lớn được chừng mô thì anh Chính la lên: “Có đò “thủy tặc”! Thế là chiếc đò của mấy anh em tăng tốc lao ra đoạn giữa phá. Nhưng do công suất máy chiếc đò chúng tôi hơi yếu nên chỉ thấy được đò của “thủy tặc” mà không bắt được. “Thủy tặc” là một đôi vợ chồng còn khá trẻ, nước da đen sạm, mặt mũi cũng hiền lành, chất phác. Tôi hỏi anh Chiến: “Mấy anh có biết họ không?” “Mấy đứa ở trên xóm vạn chài gần cửa Lát đó. Mấy đứa ni không có ý thức cứ dùng giã cào khai thác hến, quậy nước cáu hết làm cá không to nổi luôn”. Tôi cười nói: “Gọi họ là “thủy tặc” nghe nặng nề quá!” Anh Tế ấp a ấp úng: “Thì tui nghe báo chí của mấy chú nói “thủy tặc” tụi tui cũng kêu theo thôi; chứ mấy đứa ni “côi răng đưới đái” có chi mà tặc với tè”… Buổi trưa hôm đó, mấy anh em ngồi nhà chồ nhậu, mồi là đĩa rạm bè phá Tam Giang rang muối. Anh Chính có vẻ áy náy lắm: “Làm nghề bữa ni “hèn” quá không có cá tôm đãi mấy anh em”. Nhai rào rạo miếng rạm bè mình nghĩ bụng, người ta cũng là vì mưu sinh bức bách mà nhắm mắt dùng xung điện, giã cào khai thác hủy diệt như đôi vợ chồng mình bắt gặp buổi sáng trên phá… Thiệt buồn là “lộc” phá Tam Giang đã không còn phong phú như năm nào.

Hồi học cấp 3, tôi có mấy đứa bạn là cư dân xóm sáo Vĩnh Tu, cũng là một xóm sáo trù phú nằm ven phá Tam Giang thuộc xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền. Nhớ mùa thi tốt nghiệp cấp III, cả hai lớp 12 năm đó của trường Tam Giang tập trung về nhà Dũng “đầy” để ba nó đưa đò qua bên kia phá vô Sịa dự thi. Dũng giờ là hiệu phó trường tiểu học ở quê, vợ chồng đã xây nhà riêng ở gần trường học nhưng hằng đêm vẫn đi cột nghề đánh cá trên phá… Nhắc Vĩnh Tu là phải nói cái bến đò ngang qua phá Tam Giang. Biết bến Cồn Tộc - Vĩnh Tu mới biết thế nào là sóng nước Tam Giang. Tôi là khách quen của bến đò này phải chừng 10 năm với bao nhiêu là chuyến đò đi đò về. Những ngày đẹp trời, đi đò ngang là một cái thú để ngắm mây, ngắm nước; là những phút thư giãn trên đoạn đường dài mấy chục cây số từ Huế về nhà. Nhưng những ngày mưa gió, ngồi lên đò là thấy bất an. Chiếc đò nhỏ nổ máy lao ra giữa mịt mùng mưa gió, sóng nước, bập bềnh lên xuống giữa bạt ngàn gió, còn nước thì vô tư tạt ướt nhẻm cả áo quần hành khách. Những lúc như thế chỉ có cách nhìn vào gương mặt tỉnh rụi của mấy bác lái đò để tự trấn an mình. Có lần tôi về thăm quê vào một buổi trưa gió Lào. Trưa vắng, khách chỉ có tôi và anh Minh chủ đò và là người lái đò. Thấy Minh đội cái nón, miệng phì phèo điếu thuốc mà run. Gương mặt Minh còn ngái ngủ, hắn nổ máy ra đoạn giữa phá, chiếc đò cứ xoay tròn, xoay tròn, nước tràn vô đến nửa lòng đò vì gió Lào quá mạnh. Hắn giục mình tát nước còn hắn thì tìm cách lái đò vượt sóng. Sau phút hú vía hắn mới giải thích: “Khi hôm tui xem bóng đá khuya nên lái đò mất tập trung; tổ cha cái thằng tây bán nhà (Tây Ban Nha) đá thì hay mà để thua”. Khi đó cũng chỉ biết thở phào mà cười với hắn: “Tây bán nhà mô chẳng biết chút nữa thì ông bán mạng tui cho Hà bá rồi!”

Những người có nhiều kỷ niệm nhất với bến đò Vĩnh Tu - Cồn Tộc có lẽ là những thầy cô giáo đến từ Huế và những vùng bên kia phá sang dạy học ở các trường học bên này. Mới đây ngồi trò chuyện với anh Hài, trước là chủ tịch xã Quảng Ngạn, anh nói một trong những việc mà anh làm được khi còn làm chủ tịch là ký quyết định miễn phí cho tất cả thầy cô giáo đi đò ngang qua bến đò Vĩnh Tu, vì thầy cô phần lớn là nghèo mà có cái tâm vượt phá để dạy học đã là một sự cống hiến lớn rồi! Lại nhớ cái năm đổi tên Trường PTTH số 3 Hương Điền (ngôi trường cấp 3 duy nhất của những làng quê bên kia phá hồi đó) thành Trường PTTH Tam Giang, thầy giáo dạy Toán của lớp tôi là thầy Phùng Đăng Khánh đã nói là thầy không đồng ý tên trường Tam Giang bởi nó gợi lên sự xa xôi, cách trở, khó khăn khiến không ít sinh viên sư phạm phải lắc đầu khi phân công về đây dạy học… Thầy Khánh người Hà Tĩnh, vừa học xong khoa Toán - Đại học Sư phạm 1 Hà Nội đã đăng ký vô luôn Bình Trị Thiên dạy học. Thầy kể: “Bước xuống đò từ bến Đông Ba, chạy một đoạn thấy mù mịt mây nước mình không tưởng tượng nổi sẽ đến một vùng quê như thế nào...”. Vùng quê đó là Ngũ Điền nơi thầy trở thành một kẻ ngụ cư danh tiếng được học trò và người dân thương mến. Nhưng cuối cùng trường đã lấy tên là Tam Giang cho đến nay và có cầu rồi, trường xa xôi cũng đã hóa gần…

Đã là dân miệt phá Tam Giang không ai không đi đò dọc. Đó là một khoảng không gian, thời gian đầy ắp kỷ niệm. Từ Huế về quê hay ngược lại phải mất nửa ngày sông nước nên ngồi trên đò có thể làm một cuộc nhậu, một sòng bài và nếu ai may mắn có thể làm quen với một cô gái nào đó tình cờ cùng chung chuyến đò dài. Tôi chắc rằng có những mối tình đã được chớm nở trên những chuyến đò dọc như thế. Có những đôi mãi bên nhau, mà cũng có những đôi phải tình duyên nửa gánh để lòng mãi dở dang một chuyến đò đời... Những chuyến đò mang những âm sắc của phố thị về với những làng quê hẻo lánh, những chuyến đò chở những ước mơ của những đứa học trò nghèo khăn gói lên thành phố trọ học.

Từ Huế về quê theo đường cầu Ca Cút, những khi đẹp trời tôi lại dừng chân nơi con đập Thảo Long để ngắm sông. Sông Hương và sông Bồ mãi mê chảy qua làng mạc và phố thị để rồi hợp lưu tại ngã ba Sình. Từ đây Hương Bồ là một dòng chảy lớn chảy qua đập Thảo Long đổ ra phá mẹ Tam Giang. Cái tên Thảo Long nghe hay lắm mà cũng chưa thấy ai giải thích xuất xứ của cái tên này. Hồi trước mỗi lần từ quê đi đò lên về Huế đều qua cửa đập Thảo Long. Những ngày hè, khi nước mặn từ biển dâng lên, đập Thảo Long đóng van cửa đập và khách đi đò phải chịu cảnh tăng bo. Tôi đã nhiều lần đi tăng bo như thế. Nhớ nhất là có lần ngồi đò từ quê đi lên Huế thấy chiếc đò bên tê từ Huế xuôi về phá có một đứa quen cùng trọ ký túc xá. Anh chàng này người Quảng Nam theo người yêu là sinh viên sư phạm về quê nàng chơi. Hai anh chị đang say ngắm cảnh mây nước, bất ngờ một cơn gió mạnh thổi bay chiếc mũ của cô nàng. Ngay lập tức, anh chàng lao ùm xuống sông vươn những sải tay dài chụp lấy chiếc mũ cho người yêu trong cái nhìn trầm trồ của tất cả những người ở cả hai chiếc đò. Về sau, hai người không nên duyên làm tôi cứ bâng khuâng mãi… Những chuyến đò tăng bo nhiều kỷ niệm đã thành xa vắng. Đò dọc cũng dần thưa lắm khách đi. Qua đập Thảo Long nhìn dòng sông, nhìn những cánh đồng cỏ xanh um tùm tôi cố tìm ra một nét gì đó liên quan đến cái tên Thảo Long nhưng đành chịu. Ngày đẹp trời, dòng Hương Bồ bình lặng điểm xuyến mấy chiếc ghe câu đẹp như một bức tranh thủy mặc. Không biết anh chàng người Quảng Nam đó có lần nào trở lại nơi này không?

Không thể nhớ hết là mình đã ngược xuôi bao nhiêu chuyến đò như thế. Hấp dẫn nhất vẫn là đoạn qua cửa Thuận An. Đứa bé hiếu kỳ là tôi chỉ cần nghe tiếng ông chủ đò nói với người lái đò: “Tới cửa Thuận rồi coi lái đò cho cẩn thận!”, là ngay lập tức mình nhoài đầu ra mạn đò để xem những con sóng bạc đầu từ cửa biển mặc cho người lớn can ngăn, la mắng. Đó là những khi trời yên biển lặng; ngày mưa gió, đò đi qua cửa Thuận có khi sóng đập nước tràn vào khoang. Khách trên đò ngồi im thin thít cùng chung sự âu lo… Không còn theo những chuyến đò dọc nữa, tôi mới chợt nhận ra rằng con đường từ bến đò làng qua sông, qua phá đến bến Đông Ba để làm quen với đời sống phố thị là con đường quan trọng nhất của đời mình và rất nhiều bè bạn ở những vùng quê ven phá Tam Giang. Tôi nhớ mãi mùi xăng dầu, mùi khói, mùi cá mùi tôm và ngọn gió nồm mát rượi mùa hè, hơi giá lạnh những chiều đông bao trùm cả khoang đò. Nhớ cảnh thường thấy những cô cậu sinh viên mỗi lần về thăm nhà theo đò lên lại Huế trọ học có thêm một bao gạo nhỏ, chai nước mắm, mấy bó rau của gia đình tiếp viện. Với tôi, chuyến đò vui nhất trong cuộc đời là ngày hai vợ chồng đưa bé gái đầu lòng vừa chào đời được 5 ngày từ bệnh viện Trung ương Huế lên đò về quê ngoại.

Bây chừ từ Huế về quê tôi, một vùng quê cuối dòng Ô Lâu nơi mà con sông kết thúc dòng chảy của mình để đổ vào phá mẹ Tam Giang, cách Huế tới chừng 50 cây số bên bờ phá nay đã có đến cả mấy ngã đường. Từ đường Ca Cút, đường An Lỗ, đường Sịa hay xa chút là đường Phò Trạch chỉ cần có hơn nửa tiếng đồng hồ phóng xe máy là có mặt ở quê. Mỗi lần đi ngang cầu Ca Cút, tôi đều mang mang cái cảm giác “trời đất bao la, chìm đắm trong ta” cho dù buổi sáng, buổi chiều hay đêm buông. Có lẽ cái cảm giác bao la, bàng bạc với trời đất, mây nước đó đến từ những câu chuyện trên con phá và cả câu ca xưa: Thương em anh cũng muốn vô/ Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang. Cây cầu đã được mang tên là Tam Giang từ khi mới khánh thành, chấm dứt những chuyến đò ngang qua phá một thời, nhưng cái địa danh bến đò xưa Ca Cút gợi cảnh quá, miên viễn quá thành ra cầu vẫn cứ là Ca Cút trong lòng người. Có cầu, những chuyến đò dọc từ các bến đò sông quê theo phá Tam Giang rồi theo sông Hương đến bến đò Đông Ba lên Huế hay ngược lại đang thưa vắng dần. Hôm qua, tôi nhận được tin nhắn của một người bạn: “Bến Đông Ba đã không còn đò về quê mình nữa...”. Con sóng Tam Giang chợt dậy lên trong tôi những bến bờ xa vắng, lẻ loi. Một thoáng buồn quạnh quẽ về những ngày theo sông theo phá trên bao chuyến đò lênh đênh.

P.T
(SDB18/09-15)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • VĨNH NGUYÊN                Truyện kýSau “vụ” gặp em, tôi băn khoăn lắm lắm. Là bởi trước đó - trước quả rốc-két mà chiếc F4H phóng xuống và em bị thương dưới đùi, em đang chờ tháo dây thuyền ở hốc đá, còn tôi thì giữ lấy ống ti-dô cho nước vào hai cái thùng phuy trên thuyền cho em. Hai chiếc thùng phuy 400 lít nước sắp tràn đầy. Như vậy là quá đủ thời gian cho chúng ta có thể hiểu biết về nhau, tên tuổi, quê hương bản quán.

  • ĐẶNG VĂN SỞ          Ghi chépKhông hiểu sao tôi lại đi tìm anh - anh Nguyễn Đức Thuận - người anh chú bác ruột cùng chung sống dưới một mái nhà với tôi. Tôi chỉ nhớ là hồi đó chồng của cô tôi nằm mơ thấy anh, và bác vào tận Nha Trang để đi tìm anh Mậu, người đồng đội và là người chứng kiến lúc chôn cất anh.

  • NGUYỄN QUANG HÀMột buổi sáng vợ chồng anh Thảo, chị Ái đang đèo nhau, phóng xe Honda trên đường Nguyễn Trãi, một con đường lớn của thành phố Huế, bỗng có một người lao thẳng vào xe anh Thảo. Nhờ tay lái thiện nghệ, nên anh Thảo đã phanh xe kịp. Hai vợ chồng dựng xe, ra đỡ nạn nhân dậy.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGBút kýAnh đã xứng đáng với danh hiệu "Nghệ sĩ Nhân dân" của nhà nước ta phong tặng. Riêng Hội Nghệ sĩ điện ảnh Nhật Bản đã tặng cho anh giải thưởng vẻ vang dành cho người nghệ sĩ thuật lại sự tích dân tộc mình bằng điện ảnh...

  • ĐÀO XUÂN QUÝĐã lâu lắm, có đến hơn hai năm, kể từ khi bị tai nạn ở chân tôi chưa đi vào các hiệu sách, kể cả các hiệu sách ở Nha Trang. Đi tới các hiệu sách thì xa quá, đi bộ thì không đi nổi, mệt và nóng lắm, mà đi xe thuê thì cũng khó, vì họ không phải chỉ đưa mình tới nơi mà còn phải đợi hàng giờ khi mình phải tìm chọn sách nơi này nơi nọ, quầy này quầy khác v.v...

  • NGUYỄN THANH CHÍHai mươi tám tuổi, nó không biết chữ và không quen đi dép, mặc áo quần dài; lầm lũi, ít nói nhưng rất khoẻ mạnh... Với nó rừng là nhà, các lối mòn trong rừng thì thuộc như lòng bàn tay... Đó là Trương Ngọc Hoàng, sinh năm 1977.

  • NGUYỄN TRỌNG BÍNHMọi chuyện xẩy ra suốt 55 ngày đêm ở đơn vị trong cuộc tổng tiến công nổi dậy xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tôi đều nhớ như in. Thế mà, lạ lùng thay, suốt thời gian đó, hàng ngày mình ăn thế nào, lại không nhớ nổi. Chỉ nhớ mang máng có lúc ăn cơm nắm, ăn lương khô. Về giấc ngủ, có thể là tranh thủ nửa ngủ nửa thức giữa 2 trận đánh hoặc lúc ngồi trên xe trong đội hình hành tiến. Cố hình dung, tôi nhớ được bữa cơm chiều ở dinh Độc Lập, hôm 30-4-1975.

  • NGÔ MINHỞ CỬA NGÕ XUÂN LỘCSư Đoàn 7 thuộc Quân Đoàn 4 của chúng tôi hành quân từ Bảo Lộc về ém quân trong một rừng chuối mênh mông, chuẩn bị tấn công cứ điểm Xuân Lộc, cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn, đúng đêm 1-4-1975.

  • HUỲNH KIM PHONG(Chào mừng kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền , thống nhất đất nước 30.4.1975 - 30.4.2005)

  • LÊ HOÀNG HẢICon người từ khi cảm nhận thế giới xung quanh là lúc cảm được sự xa vắng, ly biệt... Nhớ hồi thơ dại, đứng trên bến sông trước nhà nhìn sang Cồn Hến thấy sông rộng lắm cứ nghĩ khó mà bơi sang sông được. Mỗi lần đi bộ từ nhà lên cầu Gia Hội dù chỉ vài trăm mét nhưng lại cảm thấy rất xa. Càng lớn khôn cảm nhận về khoảng cách được rút ngắn. Nhưng lạ thay khoa học ngày càng khám phá không gian, vũ trụ thì chạm đến cõi vô cùng.

  • HỒ NGỌC PHÚTôi về lại Huế sau trận lụt tuy muộn nhưng khá lớn vào gần cuối tháng 12 năm 2004. Ngồi ở quán cà phê Sơn bên bờ chân cầu Trường Tiền, nhìn sông Hương vào lúc sáng sớm sao thấy khang khác, trong có vẻ như sáng hơn ngày thường.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGĐã lâu tôi không hề nhắc đến hoa, và tôi cảm thấy tôi đã có lỗi đối với những người bạn tâm tình ấy dọc suốt một quãng đời chìm đắm trong khói lửa. Thật ra, những cánh hoa nhỏ bé và mong manh ấy đã viền con đường tuổi trẻ đầy kham khổ của tôi. Chiến chinh qua rồi có nhiều cái tôi đã quên, nhưng những cánh hoa dại dọc đường không hiểu sao tôi vẫn nhớ như in, như thể chúng đã được ấn vào trí nhớ của tôi thành những vết sẹo.

  • NGUYỄN THẾ QUANG(Chuyện tình chưa kể của nhà thơ Hoàng Cầm)

  • VÕ NGỌC LANTôi sinh ra và lớn lên tại vùng Kim Long, một làng nhỏ thuộc vùng cận sơn, không xa Huế là bao. Bởi thuở nhỏ chỉ loanh quanh trong nhà, trong làng ít khi được “đi phố” nên đối với tôi, Huế là một cái gì thật xa cách, thật lạ lùng. Đến nỗi tôi có ý nghĩ buồn cười: “Huế là của người ta, của ai đó, chứ không phải là Huế của tôi”, ngôi chợ mái trường, một khoảng sông xanh ngắt và tiếng chuông chùa Linh Mụ... mấy thứ ấy mới là của tôi.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGNhân một lần ghé ngang Paris , võ sư người Huế Nguyễn Văn Dũng đã đi thăm sông Seine. Đứng lặng lẽ bên dòng sông thơ mộng bậc nhất nước Pháp, bỗng lòng ông nhớ sông Hương quá trời. Về lại Việt , ngồi bên bờ sông Hương, ông vẫn hãy còn thấy nhớ cồn cào cái dòng chảy thầm thì trong sương mù như một nhát cắt ngọt ngào giữa trái tim đa cảm.

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGTôi rẽ vào nhà Thiệp để đưa bé Miên Thảo đi học. Cô bé hét vang nhà để bắt tìm cho ra chiếc dép đi trời mưa lạc nơi đâu không biết. Miên Thảo mặc chiếc quần Jean xanh và khoác áo len đỏ, choàng một chiếc phu la cổ màu đen trông thật đỏm dáng.

  • NGUYỄN QUANG HÀSông Bồ là con sông không dài, nhưng đẹp ở về phía Bắc Huế. Phía tả ngạn, hữu ngạn vùng thượng lưu sông là hai huyện Phong Điền và Hương Trà, vùng hạ lưu sông chảy qua Quảng Điền rồi đổ vào phá Tam Giang. Làng xóm hai bên bờ sông khá trù mật.

  • MINH CHUYÊN (Tiếp Sông Hương số 12-2008)

  • MINH CHUYÊN (Tiếp theo và hết)

  • LÊ HUỲNH LÂMCó thể gọi xứ Huế là thành phố của những tiếng chuông. Sự khởi đầu của một ngày, một ngày mai hun hút trong tương lai cũng như một ngày tận trong nghìn trùng quá khứ. Một ngày mà âm thanh từ đại hồng chung phát ra; vang, ngân, vọng và im bặt. Người ta gọi âm thanh đó là tiếng chuông. Vậy thì, im bặt cũng là một phần của tiếng chuông.