Qua đò Tam Giang

08:52 14/10/2015

PHI TÂN
     Bút ký

Phá Tam Giang trải dài theo hướng từ Bắc vào Nam, song song với bờ biển từ huyện Phong Điền cho đến huyện Phú Lộc (Thừa Thiên Huế), được chảy vào bởi ba con sông lớn là sông Ô Lâu, sông Bồ và sông Hương.

Minh họa: Nhím

Xuôi đò trên phá Tam Giang sẽ cảm nhận mây nước mênh mông hữu tình, thỉnh thoảng bắt gặp từng đàn cá quẫy, một cánh chim vút lên từ mặt phá sải dài đôi cánh kiêu hãnh, hay cảnh một gia đình vạn chài quây quần bên bữa cơm chiều trên chiếc đò nhỏ ấm cúng… Tam Giang tự lâu rồi hiện hữu trong tôi như một phần quê hương thân thương, đầy những giấc mơ xanh.

Xóm nhà chồ Điền Hải bên bờ phá có một tên gọi dân dã: xóm Sáo. Sáo ở đây chính là nò sáo - một ngư cụ cố định trên phá Tam Giang. Những năm 80 của thế kỷ trước, khi người làm ruộng phải chạy gạo từng bữa vì thiếu lương thực thì đời sống của ngư dân xóm Sáo là mơ ước của những người dân nông thôn. Người dân xóm Sáo sống nhờ “lộc” của phá Tam Giang. Mỗi lần xóm đổ nò cá tôm phải tính từ đơn vị tạ trở lên mà là cá to, cá ngon đặc sản của phá; hay mỗi mùa lụt từng đàn con chình, con lệch, con lươn trôi về dày đặc cả trộ sáo, cứ thế đổ đầy đò mang về chợ. Nghe mấy bác ngư dân kể về chuyện con chình của phá Tam Giang mới thú vị. Loài chình sống ở những con suối đầu nguồn, đến mùa mưa nó trôi về phá theo con nước. Điều lạ là con chình bắt ở suối thịt không ngon, phải đến khi nó trôi về phá thấm vị của con nước lợ mới béo. Anh bạn học của tôi quê ở làng Thế Chí Đông, một làng nông nghiệp gần phá Tam Giang kể: “Con gái làng tau hồi đó lấy được chồng xóm Sáo cứ như giờ lấy Việt kiều, được cha mạ nhà trai cho vợ chồng nửa trộ sáo mần ăn, là cả một gia sản lớn. Ngư dân phá Tam Giang có một tục kiêng kỵ, đàn bà không được đi làm nghề vì sợ xui, nên được làm dâu xóm Sáo vô cùng sướng, chỉ việc ở nhà phục vụ chồng con và mỗi ngày gánh cá tôm ra chợ bán…”. Tôi đã nhiều lần ghé xóm Sáo chơi và ngạc nhiên trước những ngôi nhà chồ bằng gỗ rộng rãi thoáng mát. Ngồi xếp bằng nhậu trên nhà chồ nghe ngọn gió hào phóng mang theo cả mùi nước lợ từ phá Tam Giang thổi về, ngỡ mình đang ngồi trên một chiếc đò lớn neo trên sóng nước mênh mông. Nhà chồ được xây dựng kiên cố, vững chãi bằng gỗ giống như những ngôi nhà sàn ở Tây Nguyên. Dưới sàn nhà, chủ nhà để các ngư cụ đánh cá và chiếc ghe nhỏ. Nhìn kiến trúc của những ngôi nhà chồ bên chân phá mới hiểu rằng: nếu như nông dân có người mẹ lớn là Đất thì ngư dân có người mẹ lớn là Nước. Kiến trúc của những ngôi nhà chồ chính là hình bóng của những chiếc đò trên cạn. Tôi càng hiểu thêm triết lý sống của ngư dân Tam Giang khi đọc hai câu thơ của một người bạn sinh ra và lớn lên trong một ngôi nhà chồ xóm Sáo: “Vạn đò giỗ tổ trên sông/ Khom lưng mà lạy ròng ròng nước trôi”.

Cách đây không lâu tôi lại về Điền Hải, vừa vô sân ủy ban xã gặp ngay anh Tế, công an xã đang chắp tay sau lưng đi lui đi tới có vẻ căng thẳng lắm. Thấy tôi, anh mừng ra mặt: “Chà có mấy nhà báo về đây rồi, nhờ mấy chú ra phá Tam Giang mần cấy phóng sự “thủy tặc” trên phá giúp tụi tui…”. Nói xong anh móc điện thoại gọi cho bà con ngoài xóm Sáo chuẩn bị đò giang. Tôi đi cùng anh Tế và chú Công Chủ tịch xã Điền Hải ra xóm Sáo. Ở đó đã có mấy người quen là anh Chiến, anh Chính đang đứng đợi ở bến đò. Đò nổ máy bành bạch lao ra phá. Nhưng đò lạng lui lạng tới trên con phá mấy vòng mà chẳng thấy “thủy tặc” xuất hiện. Anh Tế đốt thuốc phì phà liên tục tỏ vẻ căng thẳng lắm. Đò chạy hồi lâu, chú Công mới đề nghị anh Chiến giở một trộ nò coi thử, chỉ thấy một con cá bống bằng ngón tay cái, còn lại là mấy con tôm con cá liu tiu. Anh Tế mặt hằm hằm: “Đó mấy chú thấy không, hồi trước giở một nò là đầy một rổ cá, chừ cái bọn “thủy tặc” càn quét môi sinh nên cá mú đi mô hết”. Chờ thêm một hồi nữa vẫn không thấy “thủy tặc”. Anh Chiến nói “Thôi mình lái đò vô Cồn Cát chơi”. Cồn Cát là khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên phá có cắm biển cấm không được đánh bắt. Cách đó mấy tháng, mấy trăm con cá dìa giống được thả xuống khu vực này. Đến Cồn Cát, chú Công nói: “Đây giống như là khoa sản của bệnh viện rứa nghe. Cá đẻ ra chỗ ni an toàn, còn kêu là tái tạo nguồn lợi thủy sản cho phá Tam Giang đang cạn kiệt…”. Đang chong mắt nhìn xuống đáy phá xem mấy con cá dìa đã lớn được chừng mô thì anh Chính la lên: “Có đò “thủy tặc”! Thế là chiếc đò của mấy anh em tăng tốc lao ra đoạn giữa phá. Nhưng do công suất máy chiếc đò chúng tôi hơi yếu nên chỉ thấy được đò của “thủy tặc” mà không bắt được. “Thủy tặc” là một đôi vợ chồng còn khá trẻ, nước da đen sạm, mặt mũi cũng hiền lành, chất phác. Tôi hỏi anh Chiến: “Mấy anh có biết họ không?” “Mấy đứa ở trên xóm vạn chài gần cửa Lát đó. Mấy đứa ni không có ý thức cứ dùng giã cào khai thác hến, quậy nước cáu hết làm cá không to nổi luôn”. Tôi cười nói: “Gọi họ là “thủy tặc” nghe nặng nề quá!” Anh Tế ấp a ấp úng: “Thì tui nghe báo chí của mấy chú nói “thủy tặc” tụi tui cũng kêu theo thôi; chứ mấy đứa ni “côi răng đưới đái” có chi mà tặc với tè”… Buổi trưa hôm đó, mấy anh em ngồi nhà chồ nhậu, mồi là đĩa rạm bè phá Tam Giang rang muối. Anh Chính có vẻ áy náy lắm: “Làm nghề bữa ni “hèn” quá không có cá tôm đãi mấy anh em”. Nhai rào rạo miếng rạm bè mình nghĩ bụng, người ta cũng là vì mưu sinh bức bách mà nhắm mắt dùng xung điện, giã cào khai thác hủy diệt như đôi vợ chồng mình bắt gặp buổi sáng trên phá… Thiệt buồn là “lộc” phá Tam Giang đã không còn phong phú như năm nào.

Hồi học cấp 3, tôi có mấy đứa bạn là cư dân xóm sáo Vĩnh Tu, cũng là một xóm sáo trù phú nằm ven phá Tam Giang thuộc xã Quảng Ngạn, huyện Quảng Điền. Nhớ mùa thi tốt nghiệp cấp III, cả hai lớp 12 năm đó của trường Tam Giang tập trung về nhà Dũng “đầy” để ba nó đưa đò qua bên kia phá vô Sịa dự thi. Dũng giờ là hiệu phó trường tiểu học ở quê, vợ chồng đã xây nhà riêng ở gần trường học nhưng hằng đêm vẫn đi cột nghề đánh cá trên phá… Nhắc Vĩnh Tu là phải nói cái bến đò ngang qua phá Tam Giang. Biết bến Cồn Tộc - Vĩnh Tu mới biết thế nào là sóng nước Tam Giang. Tôi là khách quen của bến đò này phải chừng 10 năm với bao nhiêu là chuyến đò đi đò về. Những ngày đẹp trời, đi đò ngang là một cái thú để ngắm mây, ngắm nước; là những phút thư giãn trên đoạn đường dài mấy chục cây số từ Huế về nhà. Nhưng những ngày mưa gió, ngồi lên đò là thấy bất an. Chiếc đò nhỏ nổ máy lao ra giữa mịt mùng mưa gió, sóng nước, bập bềnh lên xuống giữa bạt ngàn gió, còn nước thì vô tư tạt ướt nhẻm cả áo quần hành khách. Những lúc như thế chỉ có cách nhìn vào gương mặt tỉnh rụi của mấy bác lái đò để tự trấn an mình. Có lần tôi về thăm quê vào một buổi trưa gió Lào. Trưa vắng, khách chỉ có tôi và anh Minh chủ đò và là người lái đò. Thấy Minh đội cái nón, miệng phì phèo điếu thuốc mà run. Gương mặt Minh còn ngái ngủ, hắn nổ máy ra đoạn giữa phá, chiếc đò cứ xoay tròn, xoay tròn, nước tràn vô đến nửa lòng đò vì gió Lào quá mạnh. Hắn giục mình tát nước còn hắn thì tìm cách lái đò vượt sóng. Sau phút hú vía hắn mới giải thích: “Khi hôm tui xem bóng đá khuya nên lái đò mất tập trung; tổ cha cái thằng tây bán nhà (Tây Ban Nha) đá thì hay mà để thua”. Khi đó cũng chỉ biết thở phào mà cười với hắn: “Tây bán nhà mô chẳng biết chút nữa thì ông bán mạng tui cho Hà bá rồi!”

Những người có nhiều kỷ niệm nhất với bến đò Vĩnh Tu - Cồn Tộc có lẽ là những thầy cô giáo đến từ Huế và những vùng bên kia phá sang dạy học ở các trường học bên này. Mới đây ngồi trò chuyện với anh Hài, trước là chủ tịch xã Quảng Ngạn, anh nói một trong những việc mà anh làm được khi còn làm chủ tịch là ký quyết định miễn phí cho tất cả thầy cô giáo đi đò ngang qua bến đò Vĩnh Tu, vì thầy cô phần lớn là nghèo mà có cái tâm vượt phá để dạy học đã là một sự cống hiến lớn rồi! Lại nhớ cái năm đổi tên Trường PTTH số 3 Hương Điền (ngôi trường cấp 3 duy nhất của những làng quê bên kia phá hồi đó) thành Trường PTTH Tam Giang, thầy giáo dạy Toán của lớp tôi là thầy Phùng Đăng Khánh đã nói là thầy không đồng ý tên trường Tam Giang bởi nó gợi lên sự xa xôi, cách trở, khó khăn khiến không ít sinh viên sư phạm phải lắc đầu khi phân công về đây dạy học… Thầy Khánh người Hà Tĩnh, vừa học xong khoa Toán - Đại học Sư phạm 1 Hà Nội đã đăng ký vô luôn Bình Trị Thiên dạy học. Thầy kể: “Bước xuống đò từ bến Đông Ba, chạy một đoạn thấy mù mịt mây nước mình không tưởng tượng nổi sẽ đến một vùng quê như thế nào...”. Vùng quê đó là Ngũ Điền nơi thầy trở thành một kẻ ngụ cư danh tiếng được học trò và người dân thương mến. Nhưng cuối cùng trường đã lấy tên là Tam Giang cho đến nay và có cầu rồi, trường xa xôi cũng đã hóa gần…

Đã là dân miệt phá Tam Giang không ai không đi đò dọc. Đó là một khoảng không gian, thời gian đầy ắp kỷ niệm. Từ Huế về quê hay ngược lại phải mất nửa ngày sông nước nên ngồi trên đò có thể làm một cuộc nhậu, một sòng bài và nếu ai may mắn có thể làm quen với một cô gái nào đó tình cờ cùng chung chuyến đò dài. Tôi chắc rằng có những mối tình đã được chớm nở trên những chuyến đò dọc như thế. Có những đôi mãi bên nhau, mà cũng có những đôi phải tình duyên nửa gánh để lòng mãi dở dang một chuyến đò đời... Những chuyến đò mang những âm sắc của phố thị về với những làng quê hẻo lánh, những chuyến đò chở những ước mơ của những đứa học trò nghèo khăn gói lên thành phố trọ học.

Từ Huế về quê theo đường cầu Ca Cút, những khi đẹp trời tôi lại dừng chân nơi con đập Thảo Long để ngắm sông. Sông Hương và sông Bồ mãi mê chảy qua làng mạc và phố thị để rồi hợp lưu tại ngã ba Sình. Từ đây Hương Bồ là một dòng chảy lớn chảy qua đập Thảo Long đổ ra phá mẹ Tam Giang. Cái tên Thảo Long nghe hay lắm mà cũng chưa thấy ai giải thích xuất xứ của cái tên này. Hồi trước mỗi lần từ quê đi đò lên về Huế đều qua cửa đập Thảo Long. Những ngày hè, khi nước mặn từ biển dâng lên, đập Thảo Long đóng van cửa đập và khách đi đò phải chịu cảnh tăng bo. Tôi đã nhiều lần đi tăng bo như thế. Nhớ nhất là có lần ngồi đò từ quê đi lên Huế thấy chiếc đò bên tê từ Huế xuôi về phá có một đứa quen cùng trọ ký túc xá. Anh chàng này người Quảng Nam theo người yêu là sinh viên sư phạm về quê nàng chơi. Hai anh chị đang say ngắm cảnh mây nước, bất ngờ một cơn gió mạnh thổi bay chiếc mũ của cô nàng. Ngay lập tức, anh chàng lao ùm xuống sông vươn những sải tay dài chụp lấy chiếc mũ cho người yêu trong cái nhìn trầm trồ của tất cả những người ở cả hai chiếc đò. Về sau, hai người không nên duyên làm tôi cứ bâng khuâng mãi… Những chuyến đò tăng bo nhiều kỷ niệm đã thành xa vắng. Đò dọc cũng dần thưa lắm khách đi. Qua đập Thảo Long nhìn dòng sông, nhìn những cánh đồng cỏ xanh um tùm tôi cố tìm ra một nét gì đó liên quan đến cái tên Thảo Long nhưng đành chịu. Ngày đẹp trời, dòng Hương Bồ bình lặng điểm xuyến mấy chiếc ghe câu đẹp như một bức tranh thủy mặc. Không biết anh chàng người Quảng Nam đó có lần nào trở lại nơi này không?

Không thể nhớ hết là mình đã ngược xuôi bao nhiêu chuyến đò như thế. Hấp dẫn nhất vẫn là đoạn qua cửa Thuận An. Đứa bé hiếu kỳ là tôi chỉ cần nghe tiếng ông chủ đò nói với người lái đò: “Tới cửa Thuận rồi coi lái đò cho cẩn thận!”, là ngay lập tức mình nhoài đầu ra mạn đò để xem những con sóng bạc đầu từ cửa biển mặc cho người lớn can ngăn, la mắng. Đó là những khi trời yên biển lặng; ngày mưa gió, đò đi qua cửa Thuận có khi sóng đập nước tràn vào khoang. Khách trên đò ngồi im thin thít cùng chung sự âu lo… Không còn theo những chuyến đò dọc nữa, tôi mới chợt nhận ra rằng con đường từ bến đò làng qua sông, qua phá đến bến Đông Ba để làm quen với đời sống phố thị là con đường quan trọng nhất của đời mình và rất nhiều bè bạn ở những vùng quê ven phá Tam Giang. Tôi nhớ mãi mùi xăng dầu, mùi khói, mùi cá mùi tôm và ngọn gió nồm mát rượi mùa hè, hơi giá lạnh những chiều đông bao trùm cả khoang đò. Nhớ cảnh thường thấy những cô cậu sinh viên mỗi lần về thăm nhà theo đò lên lại Huế trọ học có thêm một bao gạo nhỏ, chai nước mắm, mấy bó rau của gia đình tiếp viện. Với tôi, chuyến đò vui nhất trong cuộc đời là ngày hai vợ chồng đưa bé gái đầu lòng vừa chào đời được 5 ngày từ bệnh viện Trung ương Huế lên đò về quê ngoại.

Bây chừ từ Huế về quê tôi, một vùng quê cuối dòng Ô Lâu nơi mà con sông kết thúc dòng chảy của mình để đổ vào phá mẹ Tam Giang, cách Huế tới chừng 50 cây số bên bờ phá nay đã có đến cả mấy ngã đường. Từ đường Ca Cút, đường An Lỗ, đường Sịa hay xa chút là đường Phò Trạch chỉ cần có hơn nửa tiếng đồng hồ phóng xe máy là có mặt ở quê. Mỗi lần đi ngang cầu Ca Cút, tôi đều mang mang cái cảm giác “trời đất bao la, chìm đắm trong ta” cho dù buổi sáng, buổi chiều hay đêm buông. Có lẽ cái cảm giác bao la, bàng bạc với trời đất, mây nước đó đến từ những câu chuyện trên con phá và cả câu ca xưa: Thương em anh cũng muốn vô/ Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang. Cây cầu đã được mang tên là Tam Giang từ khi mới khánh thành, chấm dứt những chuyến đò ngang qua phá một thời, nhưng cái địa danh bến đò xưa Ca Cút gợi cảnh quá, miên viễn quá thành ra cầu vẫn cứ là Ca Cút trong lòng người. Có cầu, những chuyến đò dọc từ các bến đò sông quê theo phá Tam Giang rồi theo sông Hương đến bến đò Đông Ba lên Huế hay ngược lại đang thưa vắng dần. Hôm qua, tôi nhận được tin nhắn của một người bạn: “Bến Đông Ba đã không còn đò về quê mình nữa...”. Con sóng Tam Giang chợt dậy lên trong tôi những bến bờ xa vắng, lẻ loi. Một thoáng buồn quạnh quẽ về những ngày theo sông theo phá trên bao chuyến đò lênh đênh.

P.T
(SDB18/09-15)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • LÊ KHAI           Bút kýAnh đưa tôi một tờ giấy cuộn tròn và nói: Tuần qua tôi đi tìm mộ liệt sĩ ở Truồi (huyện Phú Lộc). Tìm một mộ mà phát hiện ra tám mộ. Buồn! Tôi làm bài thơ. Anh xem và chữa giúp. Cả đời tôi chưa quen làm thơ.  Anh chào tôi rồi vội vã về vì đang có việc cần.

  • HÀ KHÁNH LINH            Trích Hồi ký… Mùa xuân 1967, địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, ngày một ác liệt hơn. Các trạm khách dọc tuyến đường 559 không ngày nào không bị đánh trúng hoặc B52 hoặc bom tọa độ, hoặc pháo tầm xa. Ngày nào cũng có thương vong. Có những đơn vị trên đường hành quân vào Nam chưa đến địa điểm tập kết đã bị đánh tơi tả, chỉ còn sót lại vài người. Các cơ quan đơn vị đóng chung quanh khu vực phần nhiều đã bị đánh trúng.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ                                        Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!

  • TRẦN KIM HỒĐảo Cồn Cỏ là vọng gác tiền tiêu, là con mắt của Vĩnh Linh - khu Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc XHCN, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam; do đó đảo Cồn Cỏ có vị trí vô cùng quan trọng, mặc dù diện tích chỉ có 4km2. Mât Cồn Cỏ, miền Bắc XHCN trực tiếp bị uy hiếp, nhất là vào lúc nguỵ quyền Ngô Đình Diệm không ngớt hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến; đế quốc Mỹ từng trắng trợn tuyên bố biên giới Hoa kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17.

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGHai cái máy lạnh hai cục trong căn phòng 40m2 của nhà hàng Hoa Chuối cộng với cả trận mưa chiều đột ngột tầm tã không làm dịu được sức nóng từ tấm thịnh tình của gần 50 cộng tác viên thân thuộc của tạp chí Sông Hương tại thủ đô Hà Nội.

  • TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, 60 năm qua là một chặng đường đặc biệt. Chưa bao giờ dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách đến như thế, phải chiến đấu và chiến thắng nhiều kẻ thù đến như thế. Pháp rồi Nhật, Tưởng và Anh; hết Mỹ đến Khơmer “đỏ”... Kẻ thù và đau khổ nhiều đến mức tưởng chừng như đất nước Việt Nam được tạo hoá sinh ra là để cho các loại kẻ thù nhòm ngó, tìm mọi cách thôn tính.

  • NGÔ MINHTừ tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng, quyết liệt nhất giữa ta và địch.

  • PHAN THỊ THU QUỲ Trên bờ Hương Giang êm đềm, có ngôi nhà nhỏ tôi được sinh ra ở đó. Hằng ngày tung tăng cắp sách đến trường Đồng Khánh, tôi cũng nhảy nhót trên bờ Hương Giang. Lớn lên tôi hoạt động nội thành thường đến hò hẹn bên cây phượng vỹ trước cửa Thượng Tứ, nơi đó là địa điểm giao nhận những “gói nhỏ”, để nhận công việc và để nhớ mật hiệu. Cho nên trên bờ Hương Giang tôi đã ngắm dòng sông thơ mộng với tôi gắn bó biết bao từ tuổi ấu thơ cho đến bước  vào đời.

  • NGUYỄN VĂN VINH                         Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.

  • TRẦN HOÀI                  Ghi chépThung lũng A Lưới chạy dài theo hướng Bắc Nam đến vài chục km. Đó là một thung lũng đẹp, là một vị trí quân sự chiến lược, là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến vừa qua...

  • LÊ BÁ ĐẢNGBạn của tôi rất nhiều. Năm ba bạn mà tôi nhắc nhở ra đây phần nhiều là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư còn nghệ sĩ thì chất cả đống.

  • NGUYỄN THẾ QUANGMùa hạ, trời Bát Tam Boong trong xanh. Những hàng cây thốt nốt lặng lẽ kiêu hãnh xòa những tán lá xanh che mát cả khu đồi. Trong căn nhà của sở chỉ huy Sư 179 quân đội Cămpuchia, trung tá Nguyễn Văn Du chuyên gia của bộ đội Việt Nam cởi thắt lưng ra treo khẩu K54 lên vách. Anh vui mừng trước khả năng chiến đấu ngày càng tốt của quân đội bạn. Trận đánh trả lực lượng quân đội Thái Lan bảo vệ sáu nghìn dân tị nạn ở chòm Rumthumây diễn ra nhanh chóng.

  • TỐ HỮU        Trích chương V, hồi ký Nhớ lại một thời

  • VÕ MẠNH LẬP            Ghi chépTrong những ngày tháng ba, hai lẻ sáu trời Hà Nội đẹp và dễ chịu. Cái nắng vàng phủ tràn thành phố, tôn màu của cây thêm xanh biếc, ngói trên các mái nhà như thắm thêm lên, đường phố đi lại thanh thoát và đặc biệt có chút se lạnh vào sáng sớm như sợi tơ vương của hơi thở cuối mùa đông còn lưu sót lại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                          Bút kýMã Yên là tên trên bản đồ của một ngọn núi, còn dân địa phương thì gọi đó là núi Yên Ngựa. Núi Yên Ngựa là một trong những ngọn núi ngoài cùng về phía Đông của dãy Trường Sơn.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                         Bút kýNắng chiều vàng trải dài trên những hàng bia trắng như mơ, như kỳ ảo. Đi trong nghĩa trang tôi có cảm giác mình như đang ngỡ ngàng, có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ khi hàng hàng những bia trắng dài kia không có một nét mực ghi tên. Đó là những tấm bia vô danh.

  • NGUYỄN TRI TÂMNgười kể chuyện phải lục tìm những tấm ảnh lưu niệm để nhớ chính xác hơn. Sau tấm ảnh đen trắng cỡ 18x24, tướng Hoàng Văn Thái kí tên và ghi rõ “Thân tặng đồng chí trung tá Lương Văn Chính, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa, huyện đội trưởng huyện đội Điện Biên. Kỉ niệm ngày lên thăm Điện Biên 3-4-1984”.

  • TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.

  • HOÀNG QUỐC HẢI                        Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.

  • JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).