Những người đàn ông Nhật vô hình

16:21 15/05/2009
GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

Cô ta có mái tóc vàng óng mỏng mảnh, và gương mặt xinh xắn nhỏ nhắn như kiểu thiếu nữ thời đầu thế kỷ 19, nét trái xoan trông như một bức tiểu hoạ, mặc dầu cô ta có kiểu nói rất cứng - có lẽ đó là lối ăn nói của một trường nữ sinh tư thục danh tiếng ở Luân Đôn, Roedean hay Cheltenham gì, mà có lẽ cô ta cũng vừa mới ra trường chưa lâu. Cô ta đeo chiếc nhẫn nam có phù hiệu trên ngón nhẫn, và khi tôi ngồi xuống ở bàn của mình, cách bàn cô ta bởi bàn của mấy người đàn ông Nhật, cô ta nói: "Anh thấy chưa, thế là chúng mình có thể kết hôn vào tuần tới"
"Thế à?"

Người ngồi cùng bàn với cô ta trông có vẻ chán nản thế nào. Anh ta tiếp thêm rượu Chablis(1) vào ly của hai người, và nói, "Dĩ nhiên rồi, nhưng mà mẹ..." Tôi không nghe được hết toàn bộ câu chuyện giữa hai người, vì người đàn ông Nhật lớn tuổi nhất đang vươn người sang đầu kia bàn, với một nụ cười và một cái cúi đầu, và phát ra một tràng gì nghe không rõ, trong khi những người đàn ông khác dướn người về phía ông ta, mỉm cười lắng nghe, và tôi cũng không thể không chú ý tới ông ta.

Vị hôn phu của cô gái trông rất giống cô ta. Tôi hình dung họ có thể là hai bức tiểu hoạ treo bên nhau trên những tấm gỗ trắng. Anh ta có thể là một sĩ quan trẻ trong hạm đội Hải quân của tướng Nelson(2) trong thời kỳ mà một chút nhạy cảm và yếu đuối nào đó không hề ngăn trở sự thăng tiến trong quân ngũ.
Cô ta nói, "Họ sẽ ứng trước cho em năm trăm bảng, và họ đã bán được quyền xuất bản ấn bản bìa mỏng rồi". Câu công bố có tính kinh tế khô khan khiến tôi bị bất ngờ; và càng bất ngờ hơn là cô ta ở trong cùng nghề với tôi. Cô ta trông không quá hai mươi. Cô ta xứng đáng được hưởng một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Anh ta nói, "Nhưng chú của anh..."
"Anh cũng biết là anh không hợp với chú ấy. Như thế này mình sẽ được độc lập"
"Độc lập cho chính em đấy", anh ta nói hơi gằn.
"Nghề rượu vang cũng chẳng phù hợp với anh, phải không nào? Em đã nói chuyện với nhà xuất bản của em và có khả năng rất tốt... nếu anh chịu bắt đầu đọc..."
"Nhưng anh chẳng biết gì về sách vở cả."
"Em sẽ giúp anh lúc ban đầu."
"Mẹ anh nói việc viết lách là một cái nạng tốt..."
"Năm trăm bảng và một nửa quyền ấn bản bìa mỏng là một cái nạng khá vững vàng đấy chứ." Cô ta nói.
"Thứ Chablis này ngon đấy nhỉ."
"Thật thế."

Tôi bắt đầu thay đổi quan điểm về anh ta - anh ta không hề có cái cốt cách của một hải quân Nelson chút nào. Anh ta có cái mệnh thất bại. Cô ta đến bên cạnh và lắc anh ta từ mui tới ván. "Anh có biết ông Dwight nói gì không?"
"Ông Dwight là ai?"
"Ôi anh yêu quý, anh không hề lắng nghe em nói chút nào. Ông nhà xuất bản của em chứ còn ai. Ông ấy nói là ông ấy chưa từng đọc một cuốn tiểu thuyết đầu tay nào mà có sức mạnh quan sát như thế trong vòng mười năm nay."
"Thế thì thật tuyệt," anh ta nói, giọng buồn buồn "tuyệt vời."
"Có điều ông ấy muốn em đổi nhan đề."
"Thế à?"
"Ông ấy không thích gọi nó là "Dòng Suối Luôn Cuộn Chảy". Ông ấy muốn đổi lại là "Nhóm Quý Tộc ở Chelsea"
"Thế em nói sao?"
"Em đồng ý. Em nghĩ rằng với tiểu thuyết đầu tay thì nên làm vừa lòng nhà xuất bản là hơn. Đặc biệt là khi mà ông ấy lại sẽ còn trả tiền cho đám cưới của chúng mình, phải không nào?"
"Anh hiểu ý em." Lơ đãng, anh ta khuấy ly Chablis bằng nĩa - có lẽ trước khi đính hôn, anh ta đã luôn gọi sâm banh. Những người đàn ông Nhật đã ăn xong món cá, và với rất ít tiếng Anh, nhưng rất nhiều lịch thiệp, họ đề nghị bà hầu bàn đứng tuổi đem ra một khay salad trái cây. Cô ta nhìn họ, rồi nhìn tôi, nhưng tôi cô rằng cô ta chỉ nhìn thấy tương lai của chính mình mà thôi. Tôi rất muốn ngăn cô ta chớ có vội xây đắp tương lai dựa vào một cuốn tiểu thuyết đầu tay gọi là "Nhóm Quý Tộc ở Chelsea". Tôi đồng tình với mẹ của cậu con trai. Quả là một điều hổ thẹn, khi mà nghĩ ra thì tôi có lẽ cũng bằng tuổi mẹ cậu ta thật.

Tôi muốn nói với cô ta, "Cô có chắc là cái ông nhà xuất bản của cô đã nói với cô sự thật hay không? Các nhà xuất bản cũng là người cả. Đôi khi họ tâng bốc quá mức tài năng của giới trẻ và giới đẹp. Liệu cuốn "Nhóm Quý Tộc ở Chelsea" của cô có còn được ai đọc đến trong năm năm nữa? Liệu cô đã chuẩn bị cho những năm nỗ lực,”những thất bại dài vì không làm nên cái gì ra hồn”? Cùng với năm tháng, viết lách cũng không dễ dàng hơn, những nổ lực hàng ngày sẽ nặng nề hơn, cái "sức mạnh quan sát" ấy cũng trở nên yếu mòn, và khi cô tới tuổi tứ tuần, cô sẽ bị đánh giá bằng thực lực chứ không phải bằng vẻ hứa hẹn."
"Cuốn tiểu thuyết tiếp theo của em sẽ là về khi nghỉ mát ở phía Nam nước Pháp St.Tropez."
"Anh không hề biết là em đã từng đến đó."
"Em chưa đến đó. Một cái nhìn mới là rất quan trọng. Em nghĩ chúng mình có thể chuyển xuống sống ở đó sáu tháng."
"Thế thì cuối cùng sẽ chẳng còn bao nhiêu tiền xuất bản ứng trước."
"Tiền ứng trước chỉ là tiền ứng trước mà thôi. Em sẽ được hưởng mười lăm phần trăm khi bán được trên năm nghìn bản,và hai mươi phần trăm sau khi bán được mười nghìn bản. Và dĩ nhiên, sẽ lại có một khoản ứng trước khác, anh yêu, khi mà cuốn sách tiếp theo sẽ được viết xong. Sẽ là một cuốn ghê gớm hơn, nếu cuốn "Nhóm Quý Tộc ở Chelsea" bán chạy."
"Thế nhỡ nó không bán chạy thì sao?"
"Ông Dwight nói là nó sẽ bán chạy. Ông ta phải biết rõ chứ."
"Chú anh sẽ khởi sự cho anh ở mức lương một nghìn hai."
"Nhưng mà anh yêu ơi, thế thì làm sao anh có thể đi St.Tropez được?"
"Thế thì có lẽ tốt hơn là làm lễ cưới khi em trở lại."
Cô ta nói gắt, "Có khi em sẽ không quay trở lại nếu cuốn "Nhóm Qúy Tộc ở Chelsea" bán được đủ số lượng."
"À"

Cô ta nhìn tôi và mấy người đàn ông Nhật. Cô ta đã uống cạn ly rượu. Cô ta nói, "Thế mình đang cãi nhau hay sao?"
"Đâu có."
"Em đã nghĩ ra nhan đề cho cuốn sách mới - "Màu Thiên Thanh Xanh"
"Anh cứ tưởng thiên thanh là màu xanh rồi."
Cô ta nhìn anh ta với vẻ thất vọng. "Anh không thực sự muốn lấy một nhà tiểu thuyết, đúng không?"
"Nhưng em đã là nhà tiểu thuyết đâu."
"Em sinh ra đã là một nhà tiểu thuyết - ông Dwight nói thế. Sức mạnh quan sát của em..."
"Thì em đã nói rồi, nhưng, em thân yêu, chẳng lẽ em không có thể quan sát ở đâu gần nhà hơn hay sao, ngay ở Luân Đôn này."
"Em đã làm điều đó trong cuốn "Nhóm Quý Tộc ở Chelsea" rồi. Em không muốn lặp lại chính mình."

Tờ hoá đơn thanh toán đã nằm cạnh họ một lúc khá lâu. Anh ta rút ví ra trả tiền, nhưng cô ta chộp ngay tờ giấy khỏi tầm tay anh ta. Cô ta nói, "Đây là tiệc chúc mừng của em."
"Chúc mừng cái gì?"
"'Nhóm Quý Tộc ở Chelsea' chứ còn gì nữa. Anh yêu ơi, anh quả thực rất là bóng bẩy, nhưng đôi khi - chà, đôi khi anh chẳng ăn nhập chút nào."
"Anh muốn...nếu em không phiền..."
"Không, lần này là phần em trả. Và dĩ nhiên cũng là phần ông Dwight trả nữa."
Anh ta rút lui, y như hai người đàn ông Nhật mới cùng nhau thi nói, rồi cùng ngưng bặt và cúi chào nhau, như thể họ bị ngáng giữa đường.

Tôi cứ tưởng hai người trẻ kia là hai bức tiểu hoạ tương xứng, nhưng hoá ra họ lại tương phản thế kia. Cùng một vẻ xinh đẹp, nhưng nó có thể chứa đựng sự yếu đuối hoặc sức mạnh, Các quý bà thời đầu thế kỷ 19, giới của cô ta, có thể sinh hạ cả tá con mà không cần thuốc mê, trong khi anh ta thì có lẽ là nạn nhân đầu tiên của các nàng mắt đen vùng Naples. Liệu rồi sẽ có ngày cô ta có cả một tá sách đã viết trên giá? Chúng cũng phải được sinh hạ không thuốc mê. Tôi tự thấy mình ước mong cuốn "Nhóm Quý Tộc ở Chelsea" sẽ thành một thất bại thảm hại, và cuối cùng cô ta sẽ phải chuyển sang làm người mẫu nhiếp ảnh, trong khi anh ta trở nên vững vàng trong nghề làm rượu vang ở khu phố rượu St. James giữa trung tâm Luân Đôn. Tôi không muốn nghĩ về cô ta như là bà Humphrey Ward(3) của thế hệ cô ta - không phải vì tôi sẽ sống lâu đến thế để mà chứng kiến. Tuổi gìa khiến ta  có thể tránh phải sống để mà nhìn thấy nhiều điều đáng sợ. Tôi tự hỏi không biết cái ông Dwight kia thuộc hãng xuất bản nào. Tôi có thể hình dung cái đoạn quảng cáo mà ông ta có lẽ đã viết xong về sức quan sát táo bạo của cô ta. Sẽ có một bức chân dung tác giả, nếu ông ta là người khôn ngoan, ở bìa sau cuốn sách, bởi vì nói cho cùng thì các nhà điểm sách cũng như nhà xuất bản, đều là người cả, mà cô ta thì lại dung nhan hơn hẳn bà Humphrey Ward.

Tôi có thể nghe thấy họ nói với nhau khi họ lấy áo khoác ở phía sau nhà hàng. Anh ta nói, "Không biết mấy ông Nhật ấy làm gì ở đây nhỉ."
"Mấy ông Nhật à?" Cô ta hỏi, "Mấy ông Nhật nào, hở anh yêu? Đôi khi anh lừng khừng quá em nghĩ anh không hề muốn lấy em chút nào."

NGUYỄN THỊ HẠNH dịch
(Từ nguyên bản tiếng Anh “The Invisible Japanese Gentlemen”)
(171/05-03)


----------------------
(1) Một loại rượu mạnh
(2) Tướng Horatio Nelson (1750-1805), một trong những vị tướng anh hùng nhất của Anh, đã đánh bại quân Pháp trong trận Trafalgar và mất trong cùng một năm.
(3) Nhà tiểu thuyết và công tác xã hội Anh, 1851-1920.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • AMBROSE BIERCE   

    Năm 1861, chàng trai Barr Lassiter sống cùng cha mẹ và người chị ở gần Carthage, Tennesse.

  • Nassar Ibrahim là nhà văn, nhà báo người Palestine. Ông còn là nhà hoạt động xã hội, nguyên Tổng Biên tập báo El Hadaf tại Palestine. Truyện ngắn dưới đây được in lần đầu bằng tiếng Ả Rập trong tạp chí Masharef 28, số mùa thu 2005, được Taline Voskeritchian dịch sang tiếng Anh, in trong tạp chí Wordswithoutborders số tháng 11/2006.

  • THOMAS VINT

    L.T.S: Thomas Vint người Estonia, năm nay 49 tuổi. Hiện ông viết văn và sống ở Estonia (Liên Xô). Ngoài khả năng viết văn xuôi, ông còn thích vẽ. Ông đã từng triển lãm tranh ở Pháp vào năm 1988. Ông cũng đã tự minh họa cho tập truyện ngắn đầu tiên của mình.

  • JOSHUA BROWN (Mỹ)  

    “Con sẽ làm vua!” một chú lợn con nói với bố mẹ.
    Lợn Mẹ mỉm cười nhìn con. “Làm sao con có thể thành vua được khi con chỉ là một chú lợn con?”

  • RAY BRADBURY

    Theo Ray Bradbury, truyện khoa học giả tưởng khác với sự tưởng tượng thuần túy ở chỗ nó là "một dự phóng hợp lý của thực tại". Vì vậy cuộc đi dạo ngắn ngủi này nói lên những gì ông suy nghĩ - hay lo sợ - có thể dễ dàng trở thành một bức tranh thật.

  • Thomas Burke (1886 - 1945) sinh tại Clapham, ngoại ô thành phố Luân Đôn, nước Anh. Cha chết khi còn rất nhỏ, ông sống với người chú, sau được gởi vào một cô nhi viện.

  • JORGE LUIS BORGES

    Jorge Luis Borges (tên đầy đủ là Jorge Francisco Isidoro Luis Borges Acevedo) sinh ngày 24 tháng 8 năm 1899 tại Buenos Aires, Argentina.

  • CLAUDE FARRÈRE

    Những kẻ văn minh là tên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Pháp Claude Farrère (1876 - 1957) đã nhiều năm sang Việt Nam mô tả vạch trần và lên án sâu sắc chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương trong hơn 80 năm đô hộ.

  • HERMANN HESSE
    (Nhà văn Đức, Nobel văn học năm 1946)    

    Trước đây, một chàng trai trẻ có tên là Ziegler đã sống ở ngõ Brauer. Anh là một trong những người thường xuyên ngày nào cũng gặp chúng tôi ở trên đường phố và chưa bao giờ chúng tôi có thể ghi nhớ chính xác khuôn mặt của những người ấy, vì tất cả bọn họ cùng có khuôn mặt giống nhau: một khuôn mặt bình thường ở giữa đám đông.

  • Nhà văn Nenden Lilis A. sinh tại Malangbong-Garut (Tây Java) năm 1971, là giảng viên khoa Giáo dục và Văn chương tại Indonesian Education University ở Bandung.
    Truyện ngắn và thơ của bà đã in trên nhiều ấn phẩm trong nước. Bà cũng thường được mời nói chuyện tại các hội nghị văn học cả ở trong nước và nước ngoài (như Malaysia, Hà Lan và Pháp). Thơ của bà đã được dịch sang tiếng Anh, Hà Lan và Đức.
    Truyện ngắn dưới đây được John H. McGlynn dịch từ tiếng Indonesia sang tiếng Anh.

  • ALEKSANDAR HEMON

    Đám đông xôn xao trong bầu bụi chiều nâu xỉn; họ đợi đã quá lâu rồi. Cuối cùng, Quan tổng trấn bước xuống bậc thang áp chót, dạng chân và chống nạnh ra vẻ quyền chức thường thấy. 

  • Lời dẫn: Cách đây 475 năm, vào ngày 22 tháng 2, tại thành phố Xenvia đã qua đời một người Italia tên Amêrigô, một người đã từng giong buồm liền 7 năm trời trên những vịnh ở phía Bắc và Tây châu Nam Mỹ.

  • LTS: Issac Bashevis Singer sinh tại Ba Lan. Ông là một nhà văn lớn của Do Thái. Hầu hết truyện của ông đều viết bằng tiếng Hébreu và Yiddish, tức tiếng Do Thái cổ. Với lối văn trong sáng, giản dị, có tính cách tự sự, ông thường viết về cuộc sống của những người dân Do Thái cùng khổ. Ông được tặng giải Nobel văn chương năm 1978.

  • LTS: Giải thưởng danh giá Goncourt của văn chương Pháp năm 2015 với tác giả là nhà văn Mathias Enard do Nxb. Actes Sud (Pháp) xuất bản.

  • Sinh ở Manzanillo năm 1907, Loló de la Torriente sống ở Havana từ thuở nhỏ. Bà đóng một vai trò tích cực trong cuộc chiến đấu chống lại Machado và các chế độ ủng hộ đế quốc sau đó. Bà trở thành giáo viên và là một đảng viên của Đảng Cộng sản Cuba.

  • Michel Déon sinh năm 1919 tại Paris. Sau khi tốt nghiệp ngành Luật, ông tòng quân cho đến tháng 11 năm 1942. Ở lại vùng phía nam nước Pháp bị tạm chiếm, ông cộng tác với nhiều báo và tạp chí khác nhau.

  • LGT: Alissa York sinh tại Australia và lớn lên tại tỉnh bang Edmonton, Canada, và là tác giả của năm tác phẩm, trong đó có nhiều tác phẩm bán chạy: The Naturalist, Fauna, Effigy, Mercy, Any Given Power. Cô nhận giải Bronwen Wallace Memorial Award vào năm 1999, và đã từng được đề cử giải văn chương danh giá Scotiabank Giller Prize.

  • LGT: “Cơn Giông” là một trong các tác phẩm Nabokov, văn hào Mỹ gốc Nga, viết trong thời kỳ ông còn sáng tác bằng tiếng Nga, và được đăng lần đầu trên báo Đỵíÿ (Hôm Nay) vào ngày 28 tháng 9 năm 1924. Sau này, nó được Dmitri Nabokov, con trai tác giả, dịch lại qua tiếng Anh và đăng trong một số tuyển tập truyện ngắn nổi tiếng của Nabokov. Bản dịch dưới đây được dịch giả Thiên Lương, người từng dịch Lolita, thực hiện từ bản gốc tiếng Nga.