Những kẻ văn minh

09:34 07/09/2018

CLAUDE FARRÈRE

Những kẻ văn minh là tên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Pháp Claude Farrère (1876 - 1957) đã nhiều năm sang Việt Nam mô tả vạch trần và lên án sâu sắc chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương trong hơn 80 năm đô hộ.

Nhà văn Claude Farrère và tiểu thuyết "Les Civilisés"- Ảnh: internet

Họ là những nhà cai trị, những luật sư, trùm thuế, bác sĩ, chủ sòng bạc bê tha trụy lạc, con đẻ chính thống của chủ nghĩa đế quốc thực dân Pháp được đưa sang cai trị nước Việt Nam.
Những kẻ văn minh ra đời ở Paris đầu những năm 1900, đã trải qua nhiều cuộc tranh luận sôi nổi và cuối cùng đến tháng 12 năm 1905 đã được Viện Hàn lâm Pháp trao giải thưởng Goncourt danh giá.
Dưới đây,
Sông Hương xin giới thiệu đoạn 1 trong cuốn tiểu thuyết này của dịch giả Lê Trọng Sâm.   



Những kẻ văn minh

1.
Trên sân, giữa ngôi nhà và hàng rào sắt, cạnh những cây phượng vĩ lớn tỏa bóng mát, hai tay kéo xe Bắc kỳ đẩy chiếc xe sang trọng mới sơn có dát bạc, nửa thân trên của họ nằm đúng giữa hai càng xe ghếch lên trời theo hướng mũi tên. Họ đang đợi ông chủ, đứng yên như hai pho tượng mặc áo lụa. Chiếc xe và hai người kéo làm thành một bộ sậu đỏm dáng đẹp như tranh giữa đất Sài Gòn. Nơi đây, những em gái nhỏ đi một mình cùng ngồi chung xe với người lớn. Nhưng ông đốc tờ Raymông Mêvil này hay có tính kỳ quặc. Có người nói ông ta còn có một chiếc xe ngựa với đôi ngựa thường hay bon nước kiệu. Thiên hạ quanh đây còn cho ông ta là một con người độc đáo thích đi xe có người kéo, việc này phạm vào kiểu cách ăn chơi xa hoa đương thời ở đây.

Bốn giờ chiều. Mọi người vừa thức dậy sau giấc trưa. Ông bác sĩ thường không tiếp bệnh nhân đến khám muộn, đây là một biện pháp kín đáo trong một xứ sở có những con đường vắng người cho đến khi trời sắp tối. Hôm đó, ông ra khỏi nhà sớm, không phải để đi dạo chơi như thường lệ trước bữa ăn tối nhưng là một cuộc đi thăm bán chuyên nghiệp mà ông thích làm cách quãng, chiến thuật này đã trở nên rất hiếm.

Một congai(1) có búi tóc láng lẩy đến mở cửa, nói vài câu bông đùa ngọt sớt với hai người kéo xe và bỗng nhiên im bặt. Ông chủ sắp đi qua. Ông bước xuống bậc thềm với bước đi nhè nhẹ dù đã hơi kéo lê ngón tay trỏ vuốt nhẹ vào hai chiếc vú cô gái qua chiếc áo lụa màu đen và bước lên chiếc xe nhỏ, hai tay kéo chạy ba chân bốn cẳng để ngọn gió mạnh làm mát khuôn mặt người phương Tây này.

Qua các khe hở cửa sổ nhỏ thường đóng kín chống nắng trời, các bà nhìn và ca ngợi bộ trang phục màu trắng rất đẹp có viền tím rất kiểu cách của vị bác sĩ, ca ngợi vẻ đẹp của người đang đi dạo lôi cuốn hơn quang cảnh xa hoa quanh đây. Bác sĩ Mêvil được các bà yêu mến vì trước hết ông yêu mến họ và chỉ yêu mến mà thôi. Hơn nữa, bởi vì ông đẹp, một vẻ đẹp làm các bà luống cuống một vẻ đẹp nhuốm máu xác thịt và lẳng lơ sổ sàng kiểu phương tây. Da ông trắng với đầu tóc hoe, đôi mắt màu xanh đậm mở to và một khuôn miệng nhỏ màu đỏ. Dù đã qua tuổi ba mươi, ông tỏ ra còn tuổi thiếu niên và tuy to béo người ta nói ông còn mảnh mai. Bộ râu mép dài và sáng làm ông ta giống hệt một người Gôloa(2) đang tàn lụi mà thời gian sẽ làm ông tinh tế và nhuần nhị hơn.

Quả là một sự giống nhau ngẫu nhiên. Mêvil huênh hoang khoe mình là một người văn minh rất đúng nghĩa đến mức toàn bộ những dòng máu của mọi nguồn cội trên trời chắc chắn đã được hòa trộn trong mạch máu ông ta.

Xe kéo lướt qua những hàng cây bên vệ đường tránh được những tia nắng mặt trời rọi chọc xuống như chúng cũng lại gây chết người như lưỡi chày bằng sắt. Ông chủ chỉ đường cho hai người kéo với đầu chiếc can. Muốn họ dừng lại, ông la to: “Đến rồi!” vừa đập đập vào vai họ. Tất cả lẫn vào khu vườn ngay trước tòa nhà biệt thự. Suốt chiều dài hàng rào sắt, nhiều xe đang đợi với những cậu con ngựa An Nam chỉ cao bằng đôi ủng cao của họ, tay bám chặt chiếc hàm thiếc ngựa.

- Ừ - Mêvil nói - hôm nay là ngày của cô bé thương yêu đây, suýt nữa quên mất.

Ông ngập ngừng, nhún đôi vai, lật tìm tập danh thiếp trong túi, xem lại những gì còn bên trong, hóa ra còn nhiều thẻ tín dụng của ngân hàng Đông Dương. Ông ném chiếc can xuống đất, một cậu bé chạy tới nhặt lấy và ông bước vào.

Một ngôi nhà cũ khá rộng xông lên trăm phần trăm mùi vị thuộc địa. Hai phòng đợi dẫn tới một hàng hiên với những tấm sáo dày. Toàn khu nhà khá rộng ta có thể bị lạc và cao lên như một nhà thờ đạo, những chiếc cột không cao tận trần nhà, làn hơi âm ấm tỏa ra dưới các bộ rầm gỗ. Bên dưới lại mát mẻ, các đồ vật đều bằng gỗ gụ cẩn xà cừa đặc mùi bản xứ.

Giữa tiền sảnh, Raymông Mêvil chạm vào một người đang đi ra, một nhân vật quan trọng mày râu nhẵn nhụi, màu da vàng nhạt, cử chỉ khá nặng nề. Đây là vị chủ nhà Ariét, luật sư ở Tòa án thành phố. Hai người thắm thiết bắt tay nhau. Khuôn mặt buồn của ông luật sư lảng tránh đi nụ cười chúc mừng không phải để tôn vinh vị khách của ông ta.

Minh họa: Đặng Mậu Tựu


- Ông bạn yêu quý, nhà tôi đang ở đây - ông nói - tốt quá khi bạn đến đây thăm bà nhà tôi. Lâu rồi tôi không có niềm vui được đón bạn tại nhà.

- Bạn thân yêu, xin bạn hiểu cho - Mêvil nói - chỉ nên kết tội bệnh lười của tôi thôi, còn đối với tôi, nhà anh luôn là ngôi nhà thắm thiết nhất ở Sài Gòn này.

Ông luật sư làm ra vẻ thích thú và hình như cũng để vơi nhẹ đi nỗi lo lắng.

- Bác sĩ thân yêu, xin anh cứ ở lại đây. Xin anh biết cho, Tòa án luôn gọi tôi bất cứ lúc nào.

- Vụ án ra sao rồi?

- Tất nhiên là ly dị rồi. Chúng tôi đang sống quãng thời gian quá ngán ngẩm.

Ông luật sư bước ra, tay nắm chặt chiếc khăn mặt, bước đi khô khan như cái máy với vẻ lạnh lùng bực tức. Raymông Mêvil cườn thầm và nhăn mặt sau lưng ông ta.

Trong phòng khách, tám đến mười bà đang nói ba hoa, mặt mày rạng rỡ nhưng lại cẩn thả trong những bộ đầm dài Sài Gòn giống các loại áo choàng xa hoa. Ở bậc cửa, Mêvil liếc nhìn các bà, nhanh chóng vượt qua đám này, trước tiên đến chào nữ chủ nhân, một bà quá xinh đẹp, da hơi nâu với đôi mắt trong trắng đang chìa tay để được hôn.

- Ông Khả năng(3) đây rồi - bà nói - hôm nay có ngọn gió lành nào vậy?

- Khả năng đây - ông bác sĩ trả lời - Tôi đến đây thành tâm tỏ lòng quý trọng của mình dưới chân Luật sư đoàn.

Cậu nghiêng mình trước mỗi bà, nói những lời tình tứ - cả ngu xuẩn nữa - và ngồi xuống cạnh họ. Cậu đã trở thành tâm điểm của mọi mắt nhìn. Các bà nhìn cậu ta đầy thích thú với danh xưng nổi tiếng Don Juan(4) được nhắc tới luôn. Cậu không hề luống cuống và cứ thế mà tán chuyện. Với bản tính lông bông, cậu ta biết cách tuôn ra những gì mình có, dùng lối nói phù phiếm này thành một thứ vũ khí trong các buổi tán tỉnh yêu đương. Ai cũng biết cậu ta là một người tầm phơ ái nữ nhưng người ta dễ thổ lộ tâm tình với cậu chẳng chút ngại ngùng hoặc tự ái gì.

Bỗng nhiên bà Ariet nói: - Tôi sẽ đến nhà ông đúng lúc, ông lang băm ạ.

- Bà đau đớn lắm à?

- Không, nhưng sao tôi nghi quá. Tháng 12, hả? Dù gì đi nữa, ta không thể về nông thôn được vào lúc ấy, mùa trọng tội đang sôi nổi. Vậy ông cần phải gỡ cho xong việc khó khăn này của tôi bằng cách nào.

- Đó là một trò trẻ con.

- Những viên thuốc của ông, phải không? Tôi không còn đơn thuốc ở đây nữa.

Mêvil đứng dậy lấy hộp danh thiếp.

- Tôi đưa bà một viên đây.

- Sao? Thưa bác sĩ - một bà nói - ông chữa bệnh bằng cái nhiệt kế à?

- Đúng. Tôi cho bà ta những đơn thuốc viết tay như thế này ghi sau danh thiếp của tôi.

Cậu chống tay vào chiếc bàn một chân ở góc phòng, viết nguệch ngoạc gì đó. Viết xong, cậu để lại tấm giấy và trở lại.

- Đây, bà sẽ dùng nó trong mười lăm ngày….

- Ồ! Thưa bác sĩ - một bà trẻ nói - Cho tôi xin công thức pha chế thuốc này và với lòng thương của Chúa xin đừng lấy tiền công.

- Lòng thương của Chúa không đủ đâu - Raymông chế nhạo chống lại - Nhưng bà thân yêu ơi! xin bà đến phòng mạch của tôi, mọi việc sẽ được thu xếp ổn thỏa.

Khá bình tĩnh, cậu cười và bỏ đi.

Phút sau, một bà tọc mạch chạy lại xem đơn thuốc còn để trên bàn một chân. Bà nói to: - Á, ông Mêvil này lại để quên tấm danh thiếp.

- Ông này luôn để quên một thứ gì đó - Bà Ariét nói với nụ cười thanh thản.

Raymông cười theo và lên xe. Khi hai người kéo ngước nhìn, cậu ra lệnh: “Capiten Malai”, và ngã xuống tấm nệm da. Xe chạy nước kiệu.

Capiten ở cuối đại lộ Nôrôđôm và đường Mắc Mahông trước mặt dinh Thống đốc Nam kỳ trong ngôi nhà sang trọng nhất Sài Gòn. Ông ta có một biệt danh Annamit với ý nghĩa là một người hào hoa phong nhã, không liên quan gì với chiến binh, chiến sĩ. Ông là một nhà tài chính đáng kính nể bởi số tiền hàng triệu đồng của ông ta và thói quen dùng tiền của mình. Ông lãnh thầu các sắc thuế, một uy lực to lớn ai cũng phải dựa vào. Mặt khác, ông là một người sống theo công thức Mỹ: “Một người không phải sinh ra đã có, phải tự mình làm lấy”. Ông là chồng của một bà vợ xinh đẹp không phải là dân thuộc địa.

Ông Raymông Mêvil thấy bà này phù hợp với sở thích của mình, tìm mọi cách để được gần bà.

Bà Malai đang ngồi đọc sách ở mái hiên, ông chồng ngồi cạnh. Hàng hiên này là một phòng khác dành cho nữ giới kiểu thời vua Louis XV(5) một hàng hiên tuyệt đẹp toàn màu xanh với những đoạn lan can đá cẩm thạch trắng xoi suốt. Vẻ đẹp kín đáo của bà vợ trẻ trong sắc đẹp một nữ hầu tươi có bộ tóc vàng hoe và nét mặt trầm tư phản chiếu cành sắc này được tạo ra cho bà.

Anh hầu phong người Âu - một thói xa hoa hiếm thấy ở Sài Gòn - đưa vào tấm danh thiếp của Mêvil.

- Em gọi ông đốc tờ đến à? - Nhà tài chính hỏi.

Bà Malai đặt sách xuống và ra hiệu là không.

- Vậy là cậu ta đến đây để tán tỉnh em đấy - Ông chồng nói - Em yêu, cứ để cậu ta nói nhưng không nên nhận những viên thuốc phiện nào của cậu ta.

Mặt bà đỏ lên nhiều. Làn da mỏng mảnh trong suốt ửng lên màu đỏ qua những xáo động nhẹ nhất trong tâm hồn.

- Henri, anh nói gì vậy? - Bà nói.

Ông ôm hôn bà, lòng đầy tin tưởng.

- Anh cho rằng em đang yêu theo kiểu con gái mới lớn và anh để em tự nhiên. Công việc thu thuế bó buộc anh rất nhiều. Cứ ở lại với đức ông của em và đẩy cậu ta đi khi cậu làm em khó chịu. Nghĩ cho cùng, cũng không phải là lỗi của cậu ta, cậu khốn khổ này đã đi lạc địa chỉ. Em yêu, ở Sài Gòn này, một người quen như em thì quả thật là vô cùng ngược đời.

Ông bắt gặp Mêvil ở cầy thang.

- Chào bác sĩ - Ông nói với giọng chắc nịch quen thuộc khác xa với giọng dịu dàng lúc nãy khi ve vuốt bà vợ - Lên đi, người ta chờ anh trên đó nhưng không được nghịch ngợm nghe, rõ chưa? Tôi không muốn một viên nhỏ côcain quý giá nào nữa của anh lọt vào nhà tôi, chắc nhé!

Mêvil lấy tay phản đối:

- Được, rõ rồi. Một miligam cũng không.

- Bà vợ tôi chưa bị rối loạn đầu óc đâu mà nếu anh muốn, chúng ta hãy để vợ tôi như hiện nay. Hẹn gặp lại! Rất vui được gặp anh.

Ông Malai đi ra với những bước chân chắc nịch, những bước chân đang vang lên rất oan trên các bậc đá cẩm thạch. Ông đi và không quay lại nhìn.  

C.F.
(TCSH354/08-2018)

--------------------
1. Một từ người Pháp thời thuộc địa ở Việt Nam thường dùng để chỉ các cô gái còn ít tuổi.
2. Gaulois: Tên nước Pháp thời xưa (La Gaule)
3. Khả năng quyến rũ các bà của Mêvil.
4. Don Juan, tên một nhân vật tán gái lừa bịp, nổi tiếng trong vở kịch cùng tên của Molière.
5. Vua Pháp Louis XV, làm vua từ năm 1715 đến 1774.  




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • AMBROSE BIERCE   

    Năm 1861, chàng trai Barr Lassiter sống cùng cha mẹ và người chị ở gần Carthage, Tennesse.

  • Nassar Ibrahim là nhà văn, nhà báo người Palestine. Ông còn là nhà hoạt động xã hội, nguyên Tổng Biên tập báo El Hadaf tại Palestine. Truyện ngắn dưới đây được in lần đầu bằng tiếng Ả Rập trong tạp chí Masharef 28, số mùa thu 2005, được Taline Voskeritchian dịch sang tiếng Anh, in trong tạp chí Wordswithoutborders số tháng 11/2006.

  • THOMAS VINT

    L.T.S: Thomas Vint người Estonia, năm nay 49 tuổi. Hiện ông viết văn và sống ở Estonia (Liên Xô). Ngoài khả năng viết văn xuôi, ông còn thích vẽ. Ông đã từng triển lãm tranh ở Pháp vào năm 1988. Ông cũng đã tự minh họa cho tập truyện ngắn đầu tiên của mình.

  • JOSHUA BROWN (Mỹ)  

    “Con sẽ làm vua!” một chú lợn con nói với bố mẹ.
    Lợn Mẹ mỉm cười nhìn con. “Làm sao con có thể thành vua được khi con chỉ là một chú lợn con?”

  • RAY BRADBURY

    Theo Ray Bradbury, truyện khoa học giả tưởng khác với sự tưởng tượng thuần túy ở chỗ nó là "một dự phóng hợp lý của thực tại". Vì vậy cuộc đi dạo ngắn ngủi này nói lên những gì ông suy nghĩ - hay lo sợ - có thể dễ dàng trở thành một bức tranh thật.

  • Thomas Burke (1886 - 1945) sinh tại Clapham, ngoại ô thành phố Luân Đôn, nước Anh. Cha chết khi còn rất nhỏ, ông sống với người chú, sau được gởi vào một cô nhi viện.

  • JORGE LUIS BORGES

    Jorge Luis Borges (tên đầy đủ là Jorge Francisco Isidoro Luis Borges Acevedo) sinh ngày 24 tháng 8 năm 1899 tại Buenos Aires, Argentina.

  • HERMANN HESSE
    (Nhà văn Đức, Nobel văn học năm 1946)    

    Trước đây, một chàng trai trẻ có tên là Ziegler đã sống ở ngõ Brauer. Anh là một trong những người thường xuyên ngày nào cũng gặp chúng tôi ở trên đường phố và chưa bao giờ chúng tôi có thể ghi nhớ chính xác khuôn mặt của những người ấy, vì tất cả bọn họ cùng có khuôn mặt giống nhau: một khuôn mặt bình thường ở giữa đám đông.

  • Nhà văn Nenden Lilis A. sinh tại Malangbong-Garut (Tây Java) năm 1971, là giảng viên khoa Giáo dục và Văn chương tại Indonesian Education University ở Bandung.
    Truyện ngắn và thơ của bà đã in trên nhiều ấn phẩm trong nước. Bà cũng thường được mời nói chuyện tại các hội nghị văn học cả ở trong nước và nước ngoài (như Malaysia, Hà Lan và Pháp). Thơ của bà đã được dịch sang tiếng Anh, Hà Lan và Đức.
    Truyện ngắn dưới đây được John H. McGlynn dịch từ tiếng Indonesia sang tiếng Anh.

  • ALEKSANDAR HEMON

    Đám đông xôn xao trong bầu bụi chiều nâu xỉn; họ đợi đã quá lâu rồi. Cuối cùng, Quan tổng trấn bước xuống bậc thang áp chót, dạng chân và chống nạnh ra vẻ quyền chức thường thấy. 

  • Lời dẫn: Cách đây 475 năm, vào ngày 22 tháng 2, tại thành phố Xenvia đã qua đời một người Italia tên Amêrigô, một người đã từng giong buồm liền 7 năm trời trên những vịnh ở phía Bắc và Tây châu Nam Mỹ.

  • LTS: Issac Bashevis Singer sinh tại Ba Lan. Ông là một nhà văn lớn của Do Thái. Hầu hết truyện của ông đều viết bằng tiếng Hébreu và Yiddish, tức tiếng Do Thái cổ. Với lối văn trong sáng, giản dị, có tính cách tự sự, ông thường viết về cuộc sống của những người dân Do Thái cùng khổ. Ông được tặng giải Nobel văn chương năm 1978.

  • LTS: Giải thưởng danh giá Goncourt của văn chương Pháp năm 2015 với tác giả là nhà văn Mathias Enard do Nxb. Actes Sud (Pháp) xuất bản.

  • Sinh ở Manzanillo năm 1907, Loló de la Torriente sống ở Havana từ thuở nhỏ. Bà đóng một vai trò tích cực trong cuộc chiến đấu chống lại Machado và các chế độ ủng hộ đế quốc sau đó. Bà trở thành giáo viên và là một đảng viên của Đảng Cộng sản Cuba.

  • Michel Déon sinh năm 1919 tại Paris. Sau khi tốt nghiệp ngành Luật, ông tòng quân cho đến tháng 11 năm 1942. Ở lại vùng phía nam nước Pháp bị tạm chiếm, ông cộng tác với nhiều báo và tạp chí khác nhau.

  • LGT: Alissa York sinh tại Australia và lớn lên tại tỉnh bang Edmonton, Canada, và là tác giả của năm tác phẩm, trong đó có nhiều tác phẩm bán chạy: The Naturalist, Fauna, Effigy, Mercy, Any Given Power. Cô nhận giải Bronwen Wallace Memorial Award vào năm 1999, và đã từng được đề cử giải văn chương danh giá Scotiabank Giller Prize.

  • LGT: “Cơn Giông” là một trong các tác phẩm Nabokov, văn hào Mỹ gốc Nga, viết trong thời kỳ ông còn sáng tác bằng tiếng Nga, và được đăng lần đầu trên báo Đỵíÿ (Hôm Nay) vào ngày 28 tháng 9 năm 1924. Sau này, nó được Dmitri Nabokov, con trai tác giả, dịch lại qua tiếng Anh và đăng trong một số tuyển tập truyện ngắn nổi tiếng của Nabokov. Bản dịch dưới đây được dịch giả Thiên Lương, người từng dịch Lolita, thực hiện từ bản gốc tiếng Nga.

  • Nhự Chí Quyên là nhà văn ngoại sáu mươi, từng có tác phẩm những năm 1950. Truyện ngắn Thỏa nguyện (Như nguyện) của ông ca ngợi tấm lòng thương con của một bà mẹ công nhân, được coi là đặc sắc thời ấy.