Những dòng sông tôi đã qua

08:37 09/10/2009
PHAN THỊ THU QUỲ Trên bờ Hương Giang êm đềm, có ngôi nhà nhỏ tôi được sinh ra ở đó. Hằng ngày tung tăng cắp sách đến trường Đồng Khánh, tôi cũng nhảy nhót trên bờ Hương Giang. Lớn lên tôi hoạt động nội thành thường đến hò hẹn bên cây phượng vỹ trước cửa Thượng Tứ, nơi đó là địa điểm giao nhận những “gói nhỏ”, để nhận công việc và để nhớ mật hiệu. Cho nên trên bờ Hương Giang tôi đã ngắm dòng sông thơ mộng với tôi gắn bó biết bao từ tuổi ấu thơ cho đến bước  vào đời.

(Ảnh: Internet)

Thế nhưng vì vâng lời cha mà tôi phải xa Hương Giang để đi học trường kháng chiến. Trên đường vượt rừng Trường Sơn đi học tôi gặp một nhánh sông Nhật Lệ cuối nguồn. Qua 10 ngày trèo đèo lội suối đôi chân tôi đã sưng tấy sốt cao không lê nổi đành phải nằm trong chiếc đò con đi trên sông ấy, đò trôi đi êm ả được hai tiếng đồng hồ. Ôi! Tôi không may mắn tý nào đã bị canô rượt đuổi. Nhờ bác chèo đò thông thạo tôi trèo được lên bờ, nấp trong bụi cây mây kín, gai mây đâm vào mặt mày tay chân mình mẩy, máu chảy khá nhiều và cũng vì quá sợ nên tôi đã ngất xỉu trên bờ sông Nhật Lệ Quảng Bình. Chao ôi! Bờ sông ấy rậm rịt ngoài một đồng chí cán bộ trong đoàn áp tải tôi, thì không có một bóng người, chỉ có tiếng kêu của thú rừng lạ hoắc. Trên đường mòn của sông Nhật Lệ cuối nguồn ấy, tôi mon men trong rừng rậm lê gót gần suốt đêm để đến một cái chòi có hai ông bà già “cách mạng” chèo đò đưa tôi ngang qua sông đến vùng tự do Quảng Bình tôi đang mơ ước. Vì vậy sông Nhật Lệ đã gắn bó vào tim tôi một kỷ niệm sâu sắc. Nhật Lệ đã dẫn dắt tôi đến sông Lam tin yêu và hy vọng. Dòng sông Lam ở Nghệ An có bờ sông che chở trường Huỳnh Thúc Kháng, nơi đó là bệ phóng đưa tôi bước tới trường Dược sỹ để có nghề nghiệp của tương lai. Trường Dược sỹ tôi sống một thời gian ngắn bên cạnh sông Lãng Giang của làng Hội Cù, Thanh Hóa, rồi trường dời lên Việt Bắc, Tuyên Quang đóng ở trong An Toàn khu có sông Lô đầu nguồn bên cạnh. An Toàn khu là một khu rừng rộng lớn bao bọc che chở một thời cho đầu não cách mạng Trung Ương kháng chiến chống Pháp. Trường Dược sỹ được tọa lạc trong khu rừng đó. Sau đó tôi xa sông Lô để về tiếp quản thủ đô Hà Nội sống và làm việc trong ngành Y tế bên cạnh sông Hồng.

Từ ngày hào bình một nửa đất nước, sông Hồng, Hà Nội và miền Bắc đã gắn bó với tôi đến 25 năm. Lúc đó tôi vẫn một mình xa Huế và sông Hương cho đến ngày thống nhất đất nước mới được trở về miền Nam công tác, để nhìn thấy Hương Giang. Tôi đi tìm nhà xưa và đi tìm cây phượng vỹ nhưng không còn “Như cây đa bến cũ mà con đò khác đưa”. Ra đi tôi là bé gái mới lớn đi học. Sau 25 năm trở về miền Nam tôi đã có nghề nghiệp và đã từng trải trong ngành Y tế. Thời gian này tôi được đoàn tụ gia đình sống và làm việc trong đơn vị của tôi gần Cảng trên sông Sài Gòn và Nhà Rồng c
ủa Bác.

Với trách nhiệm quản lý xí nghiệp dược phẩm Trung Ương sản xuất và xuất nhập khẩu thuốc trong những năm đầu mới bước vào cơ chế thị trường. Tôi có dịp qua nhiều nước để quan hệ công tác, tham quan và học tập, mà tìm cho đơn vị mình một bước phát triển mới. Tôi được qua Cuba thuộc châu Mỹ La Tinh nhiều lần, tôi đã gặp những dòng sông rất trong trẻo êm đềm và thơ mộng. Hai bên bờ sông Cuba nhiều đoạn giống sông Hương làm tôi nao lòng và nhiều cảm tình với con sông ấy. Những lần công tác tại Paris bạn muốn giới thiệu sông Seine, nên tôi được ngồi thuyền lướt trên sông Seine rất mát mẻ thoải mái được chiêm ngưỡng cảnh đẹp của Paris nhộn nhịp vui vẻ. Song tôi lại tiếc sông Seine không có bờ vì nhà cao tầng đã chiếm hết bờ sông nên không còn vẻ thơ mộng của một dòng sông trong trẻo.

Có một mùa đông tôi đi học sản xuất thuốc tốt (GMP) ở Thụy Điển Bắc Âu, tôi được sống ở bốn tỉnh lớn là Stockhom, Uppsala, Malmo, Goterborg nhưng ra bờ sông ngắm thì đã đóng băng trắng xóa, không còn được thấy dòng sông chảy, dù hai bên bờ rất đẹp. Mùa hè 1995 tôi qua London Anh công tác gặp dịp nước Anh tổ chức kỷ niệm 50 năm chiến thắng Phát xít Đức. Bạn đưa đoàn xí nghiệp chúng tôi ra quảng trường khổng lồ dự lễ và đón Nữ hoàng Anh. Thật là một dịp may hiếm có. Rồi bạn dẫn đoàn thăm London, chúng tôi dừng lại trên bờ sông Thames nơi có cây cầu cắt đôi trên sông. Dòng sông Thames rộng, nước cũng trôi lững lờ trong trẻo nhưng màu xám, hai bên bờ tuy có nhà cao nhưng bờ sông có bao bọc bởi một con đường và một vườn hoa bãi cỏ rất hấp dẫn với du khách. Một chuyến đi xa rất thú vị được thấy Nữ hoàng Anh trong tiếng mưng vui náo nhiệt nơi quảng trường đông nghịt, được xem viên kim cương to nhất thế giới trong cung điện Nữ hoàng Anh xưa, được ngắm nhìn sông Thames đẹp kiêu hãnh. Khi trở về Pháp lại được ngồi trên cái phà khổng lồ sáu tầng trong đêm, nó lướt nhẹ trên eo biển Anh Pháp.

Rất đáng tiếc, tôi có qua Hoa Kỳ ba tuần lễ và Montreal - Canada một tuần, chỉ đi bàn bạc hợp tác và tham quan một số nơi kể cả Lasvegat của Hoa Kỳ và quảng trường Olympic của Canada, mà sao tôi không được gặp những dòng sông để lưu vào ký ức.

Tôi có dịp qua Mockba và Petecbua vào những năm 90 bên ấy đang buồn. Tôi đứng trên bờ sông Neava Petecbua gió lạnh, sông rộng bờ sông quá đẹp. Con sông Mockba hai bên bờ rất tráng lệ, cả hai con sông của Nga quả thật hùng vĩ như ngày nào đã có những bài hát ca ngợi. Thế nhưng tôi trở về chỉ có một ấn tượng hai con sông cũng đang buồn, vì vắng vẻ. Có dịp tôi đi công tác qua BaLan gặp một dòng sông, đó là dòng sông Vistuyn nó đẹp như trong bài hát của một thời chúng tôi là sinh viên ở Hà Nội thường hát “Dòng sông Vistuyn êm đềm gợn sóng” Ngồi trên bờ sông nhớ lại tuổi trẻ của mình thời thơ mộng mà nhìn dòng sông đẹp trong trẻo lững lờ trôi hai bên bờ phẳng lặng nên thơ. Vistuyn là một dòng sông rất ấn tượng.

Còn Hoàng Hà rộng mênh mông không nhìn thấy bờ rất cân xứng với sự rộng lớn của lục địa Trung Quốc. Một đêm và một ngày chúng tôi ở trên tàu thủy rộng đi từ Giang Tây qua Nam Kinh là thủ đô thời trước của Trung Quốc. Hoàng Hà nước vàng đục sóng lớn vỗ mạn tàu y như đi trên biển và cũng có bầy cá chạy theo tàu, cũng có chim hải âu nhảy nhót vui đùa trên mặt nước. Lên bờ Hoàng Hà là thành phố Nam Kinh nhỏ hơn Bắc Kinh, thanh bình và cổ kính nhưng cũng rất hấp dẫn vì thành phố được nằm trên bờ Hoàng Hà đồ sộ.

Có lần tôi đến Bắc Kinh công tác được Đại Sứ Quán ta cho đi thăm Di hòa viên, trên đường toàn cây lớn phủ hai bên và một dòng sông dẫn đến bến có con thuyền bằng đá khổng lồ của bà Thái hậu mẹ vua Càn Long đậu. Chúng tôi ngắm con thuyền và suy nghĩ làm sao hồi xưa ấy mà họ đưa được những tảng đá lớn  như vậy để làm thuyền đi trên sông? Thời ấy bàn tay người Trung Quốc đã làm kỷ tác đó thật là giỏi.

Tôi may mắn được học sản xuất thuốc ở Thượng Hải một năm, nhà máy tôi học cạnh bờ sông Hoàng phố. Sông trong xanh, nhiều tàu thuyền tấp nập. Hai bên bờ phố xá sầm uất, buôn bán rộn ràng. Tôi qua Quảng Châu có dừng lại trên bờ sông Châu Giang cũng sầm uất tấp nập thương mại.

Mỗi dòng sông tôi đã qua là một đoạn đời, một bước ngoặt quan trọng, một dấu ấn không quên và một kỷ niệm sâu sắc. Nhìn lại những dòng sông lướt qua đã xuyên hết cuộc đời mình. Nhưng chỉ có sông Hương êm đềm nơi tôi được sinh ra và nuôi khôn lớn. Sông Nhật Lệ dẫn tôi vượt Trường Sơn trở lại trường học. Bên cạnh sông Lam tôi đã miệt mài đèn sách để đến sông Lô đào tạo tôi trở thành dược sỹ. Sông Hồng, Hà Nội và miền Bắc dẫn dắt tôi trở nên người cán bộ trưởng thành của ngành Y tế. Sông Sài Gòn giúp tôi đoàn tụ và cống hiến cuối đời. Rồi tôi trở về với Huế cội nguồn có Hương Giang êm đềm và thơ mộng. Tôi hãnh diện về Huế quê hương tôi có một dòng sông mà không nơi nào có được.

P.T.T.Q

(247/09-09)




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHAN THỊ THU QUỲ(Hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

  • LÊ KHAI           Bút kýAnh đưa tôi một tờ giấy cuộn tròn và nói: Tuần qua tôi đi tìm mộ liệt sĩ ở Truồi (huyện Phú Lộc). Tìm một mộ mà phát hiện ra tám mộ. Buồn! Tôi làm bài thơ. Anh xem và chữa giúp. Cả đời tôi chưa quen làm thơ.  Anh chào tôi rồi vội vã về vì đang có việc cần.

  • HÀ KHÁNH LINH            Trích Hồi ký… Mùa xuân 1967, địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, ngày một ác liệt hơn. Các trạm khách dọc tuyến đường 559 không ngày nào không bị đánh trúng hoặc B52 hoặc bom tọa độ, hoặc pháo tầm xa. Ngày nào cũng có thương vong. Có những đơn vị trên đường hành quân vào Nam chưa đến địa điểm tập kết đã bị đánh tơi tả, chỉ còn sót lại vài người. Các cơ quan đơn vị đóng chung quanh khu vực phần nhiều đã bị đánh trúng.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ                                        Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!

  • TRẦN KIM HỒĐảo Cồn Cỏ là vọng gác tiền tiêu, là con mắt của Vĩnh Linh - khu Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc XHCN, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam; do đó đảo Cồn Cỏ có vị trí vô cùng quan trọng, mặc dù diện tích chỉ có 4km2. Mât Cồn Cỏ, miền Bắc XHCN trực tiếp bị uy hiếp, nhất là vào lúc nguỵ quyền Ngô Đình Diệm không ngớt hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến; đế quốc Mỹ từng trắng trợn tuyên bố biên giới Hoa kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17.

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGHai cái máy lạnh hai cục trong căn phòng 40m2 của nhà hàng Hoa Chuối cộng với cả trận mưa chiều đột ngột tầm tã không làm dịu được sức nóng từ tấm thịnh tình của gần 50 cộng tác viên thân thuộc của tạp chí Sông Hương tại thủ đô Hà Nội.

  • TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, 60 năm qua là một chặng đường đặc biệt. Chưa bao giờ dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách đến như thế, phải chiến đấu và chiến thắng nhiều kẻ thù đến như thế. Pháp rồi Nhật, Tưởng và Anh; hết Mỹ đến Khơmer “đỏ”... Kẻ thù và đau khổ nhiều đến mức tưởng chừng như đất nước Việt Nam được tạo hoá sinh ra là để cho các loại kẻ thù nhòm ngó, tìm mọi cách thôn tính.

  • NGÔ MINHTừ tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng, quyết liệt nhất giữa ta và địch.

  • NGUYỄN VĂN VINH                         Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.

  • TRẦN HOÀI                  Ghi chépThung lũng A Lưới chạy dài theo hướng Bắc Nam đến vài chục km. Đó là một thung lũng đẹp, là một vị trí quân sự chiến lược, là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến vừa qua...

  • LÊ BÁ ĐẢNGBạn của tôi rất nhiều. Năm ba bạn mà tôi nhắc nhở ra đây phần nhiều là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư còn nghệ sĩ thì chất cả đống.

  • NGUYỄN THẾ QUANGMùa hạ, trời Bát Tam Boong trong xanh. Những hàng cây thốt nốt lặng lẽ kiêu hãnh xòa những tán lá xanh che mát cả khu đồi. Trong căn nhà của sở chỉ huy Sư 179 quân đội Cămpuchia, trung tá Nguyễn Văn Du chuyên gia của bộ đội Việt Nam cởi thắt lưng ra treo khẩu K54 lên vách. Anh vui mừng trước khả năng chiến đấu ngày càng tốt của quân đội bạn. Trận đánh trả lực lượng quân đội Thái Lan bảo vệ sáu nghìn dân tị nạn ở chòm Rumthumây diễn ra nhanh chóng.

  • TỐ HỮU        Trích chương V, hồi ký Nhớ lại một thời

  • VÕ MẠNH LẬP            Ghi chépTrong những ngày tháng ba, hai lẻ sáu trời Hà Nội đẹp và dễ chịu. Cái nắng vàng phủ tràn thành phố, tôn màu của cây thêm xanh biếc, ngói trên các mái nhà như thắm thêm lên, đường phố đi lại thanh thoát và đặc biệt có chút se lạnh vào sáng sớm như sợi tơ vương của hơi thở cuối mùa đông còn lưu sót lại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                          Bút kýMã Yên là tên trên bản đồ của một ngọn núi, còn dân địa phương thì gọi đó là núi Yên Ngựa. Núi Yên Ngựa là một trong những ngọn núi ngoài cùng về phía Đông của dãy Trường Sơn.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                         Bút kýNắng chiều vàng trải dài trên những hàng bia trắng như mơ, như kỳ ảo. Đi trong nghĩa trang tôi có cảm giác mình như đang ngỡ ngàng, có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ khi hàng hàng những bia trắng dài kia không có một nét mực ghi tên. Đó là những tấm bia vô danh.

  • NGUYỄN TRI TÂMNgười kể chuyện phải lục tìm những tấm ảnh lưu niệm để nhớ chính xác hơn. Sau tấm ảnh đen trắng cỡ 18x24, tướng Hoàng Văn Thái kí tên và ghi rõ “Thân tặng đồng chí trung tá Lương Văn Chính, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa, huyện đội trưởng huyện đội Điện Biên. Kỉ niệm ngày lên thăm Điện Biên 3-4-1984”.

  • TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.

  • HOÀNG QUỐC HẢI                        Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.

  • JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).