NGUYỄN QUANG HÀ
Hồi ký
Mùa mưa 1968 là mùa mưa nghiệt ngã nhất. Sau trận càn lớn chưa từng có lên miền tây Thừa Thiên, địch tiếp tục phong tỏa miền núi bằng biệt kích.
Ảnh: tư liệu
Biết bộ đội giải phóng phải bám những nơi có nước để sống, máy bay trực thăng loại u-ti-ti bay dọc các khe suối, lên tận ngọn nguồn, phát hiện được đường xuống suối, chúng mò tới tận lán ở của bộ đội phóng rốc két xuống! Còn tất cả mọi ngả đường rừng chúng đều tung biệt kích xuống, chỗ nào nghi ngờ có bộ đội đóng quân, chúng cho máy bay rải chất độc màu da cam phát quang, và thả "cây nhiệt đới" một loại máy thu tiếng động để phát hiện dấu tích của bộ đội ta.
Lộc bị biệt kích bắn chết ở dốc công sự. Nhu bị biệt kích đuổi sau lưng bắn tan gùi gạo sau lưng. Không có gùi gạo Nhu đã chết gục ngay sau băng AR 15 ấy! Căn cứ địa của Phong Điền bị biệt kích xộc vào tận nhà, chỉ kịp chạy người. Anh Chương, Nguyễn Viết Phong, Lầu, Thủy dính pháo ngay đường đổ dốc xuống sông Hai Nhánh. Vừa nghe pháo đề-pa, chỉ kịp nằm bẹp xuống, quả pháo nổ giữa đường. Anh Chương bị một mảnh pháo vào đầu, mảnh rất nhỏ, đầu chỉ rỉ ra một vết máu không bằng máu trong bụng một con muỗi. Đưa ngay anh về trạm xá Nam. Đêm ấy anh chết!
Mọi nẻo đường của chiến khu đều là mọi nẻo đường máu lửa. Lương thực hết. Trời thì mưa dầm đề. Chưa bao giờ rừng Thừa Thiên có những trận mưa dai dẳng thế. Hai mươi mốt ngày chưa ngớt mưa kéo sợi trước mái tranh lấy vài tiếng đồng hồ. Tất cả các con suối trong rừng dềnh lên, nước chảy ào ào. Đến nỗi ban tham mưu với ban chính trị ở hai bên bờ suối chỉ liên lạc được với nhau bằng điện thoại. Không cắm trại mà như cắm trại trăm phần trăm; chỉ hái rau, kiếm củi quanh nhà.
Sông Hai Nhánh nước đầy không thể bơi qua được để về đồng bằng mua gạo. Tiêu chuẩn ăn hàng ngày giảm dần. Từ hai lon một ngày, xuống lon rưỡi, một lon, rồi nửa lon. Bù vào sự thiếu hụt của lương thực bằng rau và củ rừng. Ở Tà Rầu, Tà Vò bữa sáng ăn rau tàu bay luộc chấm muối. Nhà bếp phát cho mỗi người một vắt cơm nửa lon gạo. Đó là tiêu chuẩn của bữa trưa. Ai về các đơn vị công tác cũng chỉ vắt cơm ấy mang theo. Tối về, tất cả ăn hạt sót luộc.
Khi cơ quan quay về khe Rùa thì có thêm một thứ thực phẩm là thịt rùa, có lẽ cái tên khe Rùa được gọi từ thực tế đặc sản ấy! Gốc cây nào cũng có rùa. Rùa không lớn, chỉ hai cân mỗi con là cùng. Rùa có bộ mai cong, vàng ươm, rất đẹp. Đặt ba hòn đá, lật ngửa rùa lên, đốt lửa bên dưới. Rùa tha hồ thò cổ, thò đuôi, thò chân ngo ngoe nhưng không thể nào lật úp xuống được. Khi lớp thịt dính vào mai đã chín mới lóc thịt ra, cắt thành miếng, trộn với muối ớt, giã thêm một ít gừng rừng cho vào. Món ăn không ngả màu loại món nào cả. Nhưng thèm thịt, ăn ngon lạ lùng.
Giai đoạn này rau quả rừng được khai thác triệt để. Lá tai voi, lá môn vót, củ môn vót. Gọi là củ nhưng chỉ bằng ngón tay út. Tuy vậy, bẻ ra cũng thấy lõi củ có màu vàng, củ có màu vàng là củ đã già, nấu lên ăn bở và bùi. Cọng môn thục thơm, nhưng ăn như ăn rơm. Tước vỏ, chẻ cọng ra, cắt từng lóng bằng đốt ngón tay, cứ thế trộn với muối ớt ăn. Miễn là no bụng. Thân cây dương xỉ đẽo vỏ đi, phần lõi nạo ra, độn với cơm. Trông rất giống hạt cơm, nhưng nhai như bấc. Củ móng trâu và củ nâu được tận dụng tới cùng. Luộc lần thứ nhất, lần thứ hai đổ nước đi. Lần thứ ba luộc bằng nước tro, khử hết chất độc. Xong đem ngâm xuống suối một đêm. Lại luộc tiếp lần thứ tư. Ăn nhạt thếch, không có mùi vị gì. Song có cảm giác cứ gây gây ở cổ. Có người không chịu được, nôn ra hết.
Loại dễ ăn nhất có lẽ là nõn cây đoác. Cây đoác lớn như cây dừa. Rừng Thừa Thiên rất nhiều loại cây này, lúc đầu không biết chặt, đẵn gốc cho cây đổ xuống. Thế là chịu. Bởi cây rất nặng, không thể vần qua vần lại được để chặt lấy cái nõn. Sau phải học tập cách của đồng bào dân tộc. Tốt nhất tìm được cây ngang ngực. Nếu không, phải là cây cao vài mét là cùng. Loại cây này phần nõn rất mập. Trước tiên phải mài cho cây rựa thật sắc. Tàu lá đoác cứng, có thể đứng trên đó không gẫy. Đầu tiên chặt phá. Gần giống nghĩa với phá phách. Tìm lá thứ bảy tính từ lá búp trở xuống. Chặt bóc từng tàu một. Gỡ cho hết bẹ lá ra, ta được phần nõn. Những cây đoác to mập, nõn cũng to, năm bảy cân là thường. Phần già, hơi xơ thì làm dưa. Phần nõn mềm chặt miếng to hầm kỹ, ăn ngon như những loại khoai hảo hạng. Thậm chí đi ngang đường đói quá, ăn sống cũng được, giống như ăn khoai lang sống vậy.
Người dân tộc còn làm rượu đoác uống ngon như bia, quả đoác luộc chín, trong có nhân như bột lọc. Thú nhất là được ăn sâu đoác. Cây đoác đã chặt nõn. Phần giáp nõn thối đi. Có một loại bọ rừng cánh cứng như cánh cam, đẻ trứng vào đó. Trứng nở thành sâu, sâu ăn chất hoai ra của thân đoác mềm, cứ thế lớn dần. Đi qua những cây đoác đã chặt cũ, thấy phía trên nổi bong bóng, ấy là sâu đoác thở đấy. Có khi tìm trong đó được cả lon sâu đoác, có con to bằng ngón tay cái. Đen rửa sạch, cho vào bếp nướng, chín mang ra ăn vừa béo, vừa bùi, ngon hơn được ăn thịt lợn nhiều.
Hướng về đồng bằng thì gặp nước lũ và bọn địch nống lên chặn đường. Quay lại phía sau thì giật mình vì một thảm họa. Mười lăm tấn gạo ngoài Bắc chuyên chở vào, người phụ trách của hậu cần quân khu chưa quen thuộc chiến trường nên dựng sạp, lợp mái, chất gạo ngay bên bờ sông A Sáp. Khi lũ dâng lên, nước đã cuốn trôi tất cả mười lăm tấn gạo quân khu chi viện cho Thừa Thiên. Dù người hậu cần sau bị kỷ luật, nhưng cái đói kinh hoàng thì chiến trường Thừa Thiên phải hứng chịu.
Thiếu lương thực, Thành đội Huế phải đưa một lực lượng lớn quân đội ra tận Mường Noòng để sống tạm qua mùa mưa. Lực lượng chủ chốt còn lại phải lùi lại phía sau. Từ khe Rùa lui về ngã ba Voi gần ngay Mụ Nú, rồi vào A Te, sau cũng có thời gian phải ra tận 54, 52 là hai binh trạm sát ngay gần đường tuyến. Ở đây có đồng bào. Ngày ngày vào các bản dân tộc xin sắn. Đồng bào Ka Tu lúc này chưa có khái niệm gì về cân lạng. Nhưng sẵn sàng giúp đỡ bộ đội. Có nhiều gia đình giao rẫy sắn cho giải phóng, kiếm củ rừng ăn.
Xin sắn của đồng bào rất vui. Thỏa thuận, mỗi ngày xã Hương Hữu cho bộ đội mười gùi. Mười cân khoác trên vai cũng một gùi, mà một tạ trên lưng cũng một gùi. Lính thành đội rất ma lanh, cho đan những cái gùi thật to, và cử những người thật khoẻ vào rẫy xin sắn, xếp sao cho gùi vừa đầy, vừa nhiều. Người đi gùi phải thật cố gắng, miễn sao đưa gùi ra được ngoài hàng rào của rẫy sắn là được. Mỗi gùi như vậy có khi nặng hơn một tạ. Đã có anh em đợi sẵn bên ngoài. Thường mười gùi sắn lấy ở rẫy ra, phải ba chục người mới gùi hết. Lúc ấy thấy sắn, bộ đội mắt đã sáng ngời.
Nhưng ở chiến trường, giai đoạn này trong hàng lương thực thực phẩm quý nhất là muối. Đói không nhấc nổi chân, nhưng ngậm hạt muối, muối tan hết trong miệng đã thấy gân cốt cứng lại, đi nhúc nhắc được liền. Không thể nào quên được bàn tay già làng run run chìa ra trước mặt chúng tôi: "Các con có muối cho bố mấy hạt để bố bồi dưỡng!" Mặt thành đội trưởng Thân Trọng Một đanh lại, hai mắt rưng rưng, rồi nước mắt tràn ra, từng hạt từng hạt âm thầm lăn trên hai gò má chính là ở cái phút ấy. Ngay hôm sau ông quyết định cử một tiểu đội lên quân khu, một tiểu đội xuống đồng bằng mua muối về. Ông nói: "lúc này có muối là có tất cả"! Nhớ lại những kỷ niệm cũ, khi bộ đội đi tập kết hẹn hai năm tổng tuyển cử thống nhất đất nước sẽ trở về, chính quyền đã chuẩn bị cho đồng bào miền núi muối dùng đủ hai năm, nhưng do không biết bảo quản, ngay mùa mưa năm thứ nhất muối đã chảy thành nước hết. Đồng bào bị đói muối ê ẩm. Khi có muối về, để dân quý trọng hạt muối, Thân Trọng Một không cho không, ông lấy muối để đổi sắn, đổi đu đủ, cả pháo cho đồng bào. Bốn chữ "Hạt muối cụ Hồ" đã trở thành một thành ngữ trên dải Trường Sơn này.
Để tăng cường thực phẩm, giữ sức khỏe cho lính tráng, Thân Trọng Một quyết định điều một tổ năm người của trung đội đánh rừng A Lơn, do Cu Đen làm tổ trưởng lên thành đội nhận nhiệm vụ khẩn cấp: đi săn thú rừng để nuôi quân.
Sóc, mang, khỉ, dôộc không kể. Đầu tiên chưa quen, nhìn con dôộc làm lông xong, trắng hếu như một đứa trẻ con, khi ăn nghĩ mà ghê ghê. Nhưng chỉ mấy ngày sau đã có thể cầm cả cái tay vạt từng ngón, hay cầm cái đầu khi đã hầm chín nhưng còn cả tai, cả mũi, cắn ăn bình thường.
Nhưng vui nhất là những ngày tổ săn rừng của Đen bắn được voi. Điện thoại tíu tít từ cơ quan tham mưu gọi về các đơn vị. Chỉ một giờ đồng hồ sau, lính từ các nẻo rừng mang dao, đeo gùi về khe nước Rỉ. Tất cả đổ về chỗ con voi chết. Con voi thật to, phải đến mấy tấn thịt. Cặp vòi cong đâm xuống đất bất lực. Một viên đạn xuyên qua tai nó. Máu ở đó đang còn rỉ ra. Nhìn con voi, như một hòn đá mồ côi khổng lồ.
Người xúm quanh con voi như kiến. Nhưng dao găm chịu, dao rựa cũng chịu. Đến đạn cũng chẳng ăn nhằm gì với da voi nữa là. Tác dụng nhất là chiếc liềm. Chọc thủng một lỗ, rồi lấy liềm cưa da voi, lật ra từng mảng. Có lật được da mới xẻo được thịt. Đế voi, vòi voi là hai thứ ngon nhất dành cho người bắn được. Còn thịt ai lấy được bao nhiêu cứ lấy, tha hồ. Gùi lớn gùi nhỏ kìn kịt đưa về.
Ở bếp cơ quan tham mưu thành đội, anh Đặng là chính trị hiệp lý viên cơ quan, quyết định khao lính một bữa no, ăn toàn thịt voi. Cứ đưa soong vào, chị nuôi xúc cho một xẻng là đầy. Ai còn lỏng bụng được xin thêm. Ăn kỳ no thì thôi. Thịt voi hiền lắm. Ăn mấy cũng không đau bụng đau bão gì. Vậy mà các bếp nhỏ của các ban còn xuống xin thêm thịt sống về nướng với nhau xì xụp suốt đêm.
Cùng với muối, rau rừng, thịt rừng, sắn rẫy Thành đội cũng đã đi qua được mùa mưa năm 68. Từ 69 trở đi, các mặt trận lại mở ra. Tình hình chiến trường bước sang một giai đoạn mới. Nhưng mùa mưa 68 chẳng ai quên.
Khi cơ quan tham mưu về đóng ở Chà Tang, trên đỉnh dãy núi Tre Linh. Tết đến, cơ quan cố gắng thu gom một số quần áo, đổi được một con heo chừng ba chục cân. Lính mừng lắm. Đề nghị đừng chia làm gì. Cứ để anh em được ăn một bữa chiều ba mươi. Thịt toàn luộc bày ra trông cũng kha khá! Vậy mà vèo một cái đã ăn hết, nhẵn như chùi.
Thành đội trưởng rất vui, ông cười hề hề, nói một câu rất ruột gan:
- Chỉ riêng việc ăn môn thục, bám trụ được mùa mưa này, mỗi đứa chúng ta có thể tự vỗ ngực mình mà nói rằng: ta đã lập được một kỳ tích anh hùng trên mảnh đất Thừa Thiên này.
Sang ngày mồng một hết thịt, chúng tôi lại ăn sắn. Ngày mồng hai đã lại ra quân. Cũng có thể gọi đó là một cái Tết nhớ đời.
N.Q.H
(TCSH96/02-1997)
NGUYỄN QUANG HÀ
Để giữ gìn thành phố Huế, chính quyền miền Nam tổ chức nhiều đồn bốt để bảo vệ. Ở phía Nam Huế có đồn An Cựu gần núi Ngự Bình.
HUY CẬN - XUÂN DIỆU
(Trích)
DƯƠNG PHƯỚC THU
Ngày 22/7/2021, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế tổ chức buổi tọa đàm khoa học lấy ý kiến cho Đề án xây dựng Phòng Truyền thống Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế, kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay.
DƯƠNG HOÀNG
Trải qua những năm tháng đấu tranh giải phóng dân tộc tập hợp dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Thống nhất, nhân dân Thừa Thiên Huế đã từng bước được rèn luyện, thử thách trong gian khó và cùng lớn lên với những tên gọi, những hoạt động, nhiệm vụ cũng thay đổi qua từng giai đoạn để phù hợp hơn với hoàn cảnh thực tại của phong trào cách mạng.
HÀ KHÁNH LINH
Còn sống sót sau 30/4/1975 chúng tôi thường tìm đến nhau dẫu có người thân thể không còn nguyên vẹn, hoặc mắc một số bệnh nào đó do di chứng của chất độc hóa học màu da cam Diocine của Mỹ, hoặc bị sốt rét ác tính, hoặc bị tra tấn khi rơi vào tay giặc…
NGUYỄN QUANG HÀ
Chừng 9 giờ tối anh em du kích ra đón chúng tôi ở nghĩa trang làng.
PHƯỚC HOÀNG
Ngày 23 tháng 8 năm 1945, tại sân vận động Huế, trước sự chứng kiến của hơn một vạn người, nhà thơ Tố Hữu, Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên tuyên bố, chính quyền đã về tay nhân dân, đồng thời ra mắt Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Thừa Thiên.
MẶC HY
(Nhớ về nhạc sĩ Nguyễn Hồng và các bạn văn nghệ hy sinh 40 năm trước)
MINH ĐẠO
Khi tôi viết nhưng dòng này, tôi không còn nhìn thấy gì nữa. Bóng tối bao phủ lấy tôi đã 10 năm qua rồi.
DƯƠNG PHƯỚC THU
Nhà báo - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tên khai sinh Võ Giáp, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911, tại làng An Xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho yêu nước, mà thân phụ là một “thầy đồ” trường huyện.
XUÂN HOÀNG
Hồi ký
(Trích Chương V, tập II - "Trường tư thục Thuận Hóa")
PHẠM PHÚ PHONG
Người già thường hay nghĩ ngợi về quá khứ. Không biết có phải vì thế hay không mà khi đọc lại Biên niên Sông Hương[1], tôi bỗng nhớ đến một cuộc hội thảo về Tạp chí Sông Hương diễn ra cách đây gần tròn 37 năm.
VŨ THỊ THANH LOAN
1. Lemur Nguyễn Cát Tường là một họa sĩ trẻ tài năng của khóa IV trường Mỹ thuật Đông Dương (1928 - 1933). Sau khi tốt nghiệp, ông thường xuyên cộng tác với báo Phong Hóa, Ngày Nay của Tự Lực Văn Đoàn.
HOÀNG THỊ NHƯ HUY
Chiếc áo dài đầu tiên đời tôi được mẹ may vào năm tôi lên Đệ Thất (lớp 6 bây giờ). Biết nói sao niềm vui sướng của tôi khi lần đầu mặc chiếc áo dài ấy!
TRẦN TRUNG SÁNG
Khoảng mùa đông 1970 - 1971, khi đang còn đang học lớp 10, trong một chuyến phiêu lưu lãng mạn và rồ dại nhất của tuổi thiếu niên, tôi có lần lạc bước đến một xóm nhỏ gần bên cầu Gia Hội, và đã gặp ông: họa sĩ Lê Vinh, người họa sĩ vẽ tranh xi-nê lừng danh nhất xứ Huế thời bấy giờ. Lúc này, ông chừng độ tuổi 30, người dong dỏng, tóc vuốt ngược, sơmi màu, quần jean, giày cổ cao, dáng dấp phong trần, như bước ra từ màn bạc!
HOÀNG PHƯỚC
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám đã thành công rực rỡ, tiếp đó, ngày 24 tháng 2 năm 1946, cử tri toàn tỉnh Thừa Thiên phấn khởi nô nức đi bầu Hội đồng Nhân dân tỉnh và Hội đồng Nhân dân thành phố Huế. Đây là ngày hội lớn chưa từng có trong lịch sử của toàn thể Nhân dân Việt Nam sau ngày đất nước được độc lập.
TRẦN NGUYÊN HÀO
Năm 1946, lần đầu tiên toàn thể người dân Việt Nam được hưởng và thực thi quyền làm chủ, tự do lựa chọn bầu ra những người đại diện xứng đáng gánh vác công việc chung của đất nước; cùng với đó là những tư tưởng về dân chủ, pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại bài học giá trị cho mai sau.
NGUYỄN ĐÌNH CHI
Hồi ký
KỶ NIỆM 102 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH 19-5-1890 _ 19-5-1992.