Nhớ ngày được gặp Bác

10:36 15/01/2010
PHAN THỊ THU QUỲ(Hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)

Bác Hồ với thiếu nhi Việt Bắc

Hồi đó tôi công tác ở Hà Nội được dự lớp ngắn ngày để tiếp thu Nghị quyết của Thành ủy bồi dưỡng cho cán bộ tham gia công tác Đoàn. Một buổi chiều lớp trưởng hớn hở báo tin “Chiều nay tất cả ăn cơm sớm rồi chờ ở Hội trường!” Tôi thắc mắc: “Chờ làm gì vậy, anh nói cho tôi biết đi!”. Lớp trưởng cứ ngần ngại! Tôi nói: “Nếu bí mật thì nói nhỏ thôi!” Lớp trưởng ghé vào tai tôi nói: “Bác đến thăm!” Tôi mừng quá, vội vàng ăn cơm, thay áo quần chỉnh tề. Tôi không lên ngồi trong lớp mà tìm một chỗ đứng chờ ở tầng trệt gần cổng nhất. Tôi tưởng tượng sẽ có một đoàn xe đen bóng loáng lao vô cổng cơ quan. Bác ngồi ở xe nào? Tôi sẽ nhìn thật kỹ để rồi chạy ra đón Bác.

Tôi bắt đầu hồi hộp, xao xuyến, mừng vui. Ai cũng mong gặp Bác, một nguyện vọng cực kỳ nóng bỏng. Tôi chờ một lúc lâu. Có hai xe nhỏ vào cơ quan, mọi người không có ai để ý thấy một người xuống xe, ba, bốn người theo sau. Chợt mọi người đã nhận ra Bác Hồ đang đi tới. Bác thật giản dị. Thế là tất cả đều chạy ùa ra gần Bác. Tôi chen vô được, đi sau lưng Bác để lên hội trường ở lầu một. Bác đi thật lẹ vào hội trường, đứng trên bục Bác bắt đầu nói ngay. Đám con gái chúng tôi không ngồi trên ghế sợ xa Bác, mà ngồi dưới đất sát cái bục của hội trường. Mọi người im phăng phắc, tập trung cao để tiếp thu lời Bác dạy. Còn tôi ham ngắm Bác từ mái đầu bạc hoa râm, đôi mắt Bác cười, bộ áo quần đại cán màu vàng nhạt, đến đôi dép ba quai của Bác. Tôi vui mừng mà nước mắt cứ lưng tròng, vừa nghe, vừa hồi hộp xao xuyến.

Bỗng chỉ vào đám nữ chúng tôi, Bác hỏi: “Các cháu trả lời Bác, vậy đất có mấy phương?” Một cô gái trẻ nói: “Dạ thưa Bác, đất có bốn phương ạ, là phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc ạ!” Bác nói: “Đúng rồi. Bác lại gọi: “Cháu này!” Và chỉ vào tôi, Bác hỏi: “Cháu trả lời Bác, trời có mấy mùa?” Ôi! Chao ôi! Tôi run và cuống cuồng khi Bác nhìn tôi để hỏi vậy. Tôi cố trấn tĩnh lấy hết sự can đảm. Tôi nói: “Dạ thưa... dạ thưa Bác, trời có bốn mùa, là mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông ạ”. “Bác nói: “Đúng rồi, vậy Bác hỏi, vừa rồi Bác dặn các cháu bốn điều gì?” Bác chỉ vào hàng ghế thanh niên ngồi hàng ghế trước. Một tiếng trả lời: “Thưa Bác, Bác đã dặn bốn điều là phải cần, kiệm, liêm, chính ạ!” Bác nói: “Còn gì nữa!” Một anh nói: “Dạ thưa, Bác còn dặn làm cán bộ thì phải chí công vô tư ạ”. Bác hài lòng rồi căn dặn đại ý: Hôm nay Bác dặn quy tụ lại là hai câu mà một câu có bốn chữ. Chúng ta là con người đang sống trên trái đất mà trên đầu thì trời có bốn mùa, dưới đất của ta thì có bốn phương, mình sống ở giữa thì có bốn điều là cần kiệm liêm chính và chí công vô tư. Con người sống phải gắn với đất trời để làm cho tròn, cho tốt lời Bác dặn thì dân sẽ yêu quý, nể trọng mình, để mình mới giúp đất nước không thua kém người ta, mà sánh vai với năm châu, bốn bể. Các cháu đã nghe rõ chưa?

Cả hội trường vỗ tay và hô thật to: “Dạ chúng cháu nghe rõ hết rồi ạ!” Vừa nói xong, Bác lập tức quay ra phía cửa để xuống tầng dưới. Tất cả ùa ra cố chen để được đi gần Bác. Tôi cố hết sức chạy xuống tầng dưới gần Bác để tiễn Bác. Nhưng chú bảo vệ ngăn lại. Tôi đứng nhìn Bác lên xe, Bác vẫy tay, hai mắt tôi ướt đẫm... 22 tuổi tôi chập chững bước vào ngành y tế, được về công tác ở Thủ Đô, rồi được gặp Bác, quả thật tôi rất may mắn và mãn nguyện. Được gặp Bác, được nghe Bác dạy, được nghe Bác hỏi, được trả lời câu hỏi của Bác. Tôi thấy ánh mắt Bác như một luồng sáng rọi vào lòng tôi, cho tôi một niềm tin tuyệt đối về người lãnh tụ vĩ đại. Tôi cứ giữ mãi, in sâu vào tim, vào óc suốt cả đời về lời Bác dạy, rất giản dị mà rất sâu sắc, phong phú ý nghĩa. Lời dạy đó tôi mang theo cả đời người, giúp tôi vượt qua những gian khổ, phấn đấu, tôi luôn nhớ lời Bác để góp phần nhỏ bé của mình xây dựng ngành và đất nước. Nhớ lời Bác để bản thân tôi giữ gìn phẩm chất người cách mạng, tránh những vấp váp trong khi làm nhiệm vụ vốn rất nhiều khó khăn trong những năm dài kháng chiến, cho đến khi đất nước được hòa bình.

P.T.T.Q

(251/01-2010)



 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • LÊ KHAI           Bút kýAnh đưa tôi một tờ giấy cuộn tròn và nói: Tuần qua tôi đi tìm mộ liệt sĩ ở Truồi (huyện Phú Lộc). Tìm một mộ mà phát hiện ra tám mộ. Buồn! Tôi làm bài thơ. Anh xem và chữa giúp. Cả đời tôi chưa quen làm thơ.  Anh chào tôi rồi vội vã về vì đang có việc cần.

  • HÀ KHÁNH LINH            Trích Hồi ký… Mùa xuân 1967, địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm, ngày một ác liệt hơn. Các trạm khách dọc tuyến đường 559 không ngày nào không bị đánh trúng hoặc B52 hoặc bom tọa độ, hoặc pháo tầm xa. Ngày nào cũng có thương vong. Có những đơn vị trên đường hành quân vào Nam chưa đến địa điểm tập kết đã bị đánh tơi tả, chỉ còn sót lại vài người. Các cơ quan đơn vị đóng chung quanh khu vực phần nhiều đã bị đánh trúng.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ                                        Tạp bútNhư nhân duyên, như định mệnh, cuộc đời tôi như thu hết vào trong một chung trà. Tuổi thơ đã qua, bây giờ và sẽ mãi mãi, cuộc đời tôi luôn vương vấn một hương trà. Tôi thường hay nói đùa cùng bằng hữu rằng sinh ra và lớn lên được ướp trong hương trà, tôi cũng chỉ mơ một ngày về thiên cổ được vẫy tiễn linh hồn bằng một chén trà ngon, được chôn theo cùng là một bộ ấm trà quý nhất và được vẫn cùng người “hồng nhan tri kỷ” đồng ẩm tương phùng ở thế giới bên kia!!!

  • TRẦN KIM HỒĐảo Cồn Cỏ là vọng gác tiền tiêu, là con mắt của Vĩnh Linh - khu Vĩnh Linh là tiền đồn của miền Bắc XHCN, là hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam; do đó đảo Cồn Cỏ có vị trí vô cùng quan trọng, mặc dù diện tích chỉ có 4km2. Mât Cồn Cỏ, miền Bắc XHCN trực tiếp bị uy hiếp, nhất là vào lúc nguỵ quyền Ngô Đình Diệm không ngớt hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến; đế quốc Mỹ từng trắng trợn tuyên bố biên giới Hoa kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17.

  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNGHai cái máy lạnh hai cục trong căn phòng 40m2 của nhà hàng Hoa Chuối cộng với cả trận mưa chiều đột ngột tầm tã không làm dịu được sức nóng từ tấm thịnh tình của gần 50 cộng tác viên thân thuộc của tạp chí Sông Hương tại thủ đô Hà Nội.

  • TÔ VĨNH HÀTrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, 60 năm qua là một chặng đường đặc biệt. Chưa bao giờ dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách đến như thế, phải chiến đấu và chiến thắng nhiều kẻ thù đến như thế. Pháp rồi Nhật, Tưởng và Anh; hết Mỹ đến Khơmer “đỏ”... Kẻ thù và đau khổ nhiều đến mức tưởng chừng như đất nước Việt Nam được tạo hoá sinh ra là để cho các loại kẻ thù nhòm ngó, tìm mọi cách thôn tính.

  • NGÔ MINHTừ tháng 7-1954, Hiệp định Giơnevơ ký kết cho đến cuối năm 1964 đôi bờ giới tuyến Hiền Lương lặng im tiếng súng, nhưng đây là 11 năm diễn ra cuộc đối đầu văn hóa nóng bỏng, quyết liệt nhất giữa ta và địch.

  • PHAN THỊ THU QUỲ Trên bờ Hương Giang êm đềm, có ngôi nhà nhỏ tôi được sinh ra ở đó. Hằng ngày tung tăng cắp sách đến trường Đồng Khánh, tôi cũng nhảy nhót trên bờ Hương Giang. Lớn lên tôi hoạt động nội thành thường đến hò hẹn bên cây phượng vỹ trước cửa Thượng Tứ, nơi đó là địa điểm giao nhận những “gói nhỏ”, để nhận công việc và để nhớ mật hiệu. Cho nên trên bờ Hương Giang tôi đã ngắm dòng sông thơ mộng với tôi gắn bó biết bao từ tuổi ấu thơ cho đến bước  vào đời.

  • NGUYỄN VĂN VINH                         Bút ký Thôn Hiền An, xã Vinh Hiền là một thẻo đất cát bạch sa cuối phá Tam Giang phía Bắc vào. Như một ốc đảo ba bề, bốn bên là nước, nếu không có đường 49B chạy dọc phá đến cùng đường, tận biển. Và mỗi ngày, hai chuyến xe đò chở khách cùng mấy chục chuyến đò ngang phá qua lại Lộc Bình đem chút xôn xao thị tứ, phố chợ về với thôn, xã thì Hiền An càng xa xôi heo hút.

  • TRẦN HOÀI                  Ghi chépThung lũng A Lưới chạy dài theo hướng Bắc Nam đến vài chục km. Đó là một thung lũng đẹp, là một vị trí quân sự chiến lược, là nơi giao tranh ác liệt giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến vừa qua...

  • LÊ BÁ ĐẢNGBạn của tôi rất nhiều. Năm ba bạn mà tôi nhắc nhở ra đây phần nhiều là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư còn nghệ sĩ thì chất cả đống.

  • NGUYỄN THẾ QUANGMùa hạ, trời Bát Tam Boong trong xanh. Những hàng cây thốt nốt lặng lẽ kiêu hãnh xòa những tán lá xanh che mát cả khu đồi. Trong căn nhà của sở chỉ huy Sư 179 quân đội Cămpuchia, trung tá Nguyễn Văn Du chuyên gia của bộ đội Việt Nam cởi thắt lưng ra treo khẩu K54 lên vách. Anh vui mừng trước khả năng chiến đấu ngày càng tốt của quân đội bạn. Trận đánh trả lực lượng quân đội Thái Lan bảo vệ sáu nghìn dân tị nạn ở chòm Rumthumây diễn ra nhanh chóng.

  • TỐ HỮU        Trích chương V, hồi ký Nhớ lại một thời

  • VÕ MẠNH LẬP            Ghi chépTrong những ngày tháng ba, hai lẻ sáu trời Hà Nội đẹp và dễ chịu. Cái nắng vàng phủ tràn thành phố, tôn màu của cây thêm xanh biếc, ngói trên các mái nhà như thắm thêm lên, đường phố đi lại thanh thoát và đặc biệt có chút se lạnh vào sáng sớm như sợi tơ vương của hơi thở cuối mùa đông còn lưu sót lại.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                          Bút kýMã Yên là tên trên bản đồ của một ngọn núi, còn dân địa phương thì gọi đó là núi Yên Ngựa. Núi Yên Ngựa là một trong những ngọn núi ngoài cùng về phía Đông của dãy Trường Sơn.

  • NGUYỄN QUANG HÀ                         Bút kýNắng chiều vàng trải dài trên những hàng bia trắng như mơ, như kỳ ảo. Đi trong nghĩa trang tôi có cảm giác mình như đang ngỡ ngàng, có cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ khi hàng hàng những bia trắng dài kia không có một nét mực ghi tên. Đó là những tấm bia vô danh.

  • NGUYỄN TRI TÂMNgười kể chuyện phải lục tìm những tấm ảnh lưu niệm để nhớ chính xác hơn. Sau tấm ảnh đen trắng cỡ 18x24, tướng Hoàng Văn Thái kí tên và ghi rõ “Thân tặng đồng chí trung tá Lương Văn Chính, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa, huyện đội trưởng huyện đội Điện Biên. Kỉ niệm ngày lên thăm Điện Biên 3-4-1984”.

  • TẤN HOÀIHưởng ứng cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí MinhĐêm đó, Bác nghỉ lại tại Cọt Mạ - một thị trấn nhỏ của Trung Quốc, thị trấn nhỏ như một bản miền núi miền nam Trung Quốc, có một cái chợ nhỏ, cách biên giới Việt Nam khoảng trên bốn cây số. Tất nhiên, đó là một cơ sở của cách mạng Trung quốc. Hôm sau, Bác về nước cùng với những đồng chí Việt Nam đi đón Bác trong đó có Dương Đại Lâm, Lê Quảng Ba, Bằng Giang. Những người này về sau trở thành cán bộ lãnh đạo của khu tự trị Việt Bắc. Bác về đúng vào tháng 2 năm 1941. Bác đã ghi trên một phiến đá trong hang Cốc Bó, nằm trong khu vực Pác Bó. Gia tài Bác chỉ có một chiếc va li cũ đan bằng mây, bên cạnh một chiếc máy đánh chữ mà Bác luôn luôn xách bằng tay.

  • HOÀNG QUỐC HẢI                        Bút kýVì sao khi Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) được nước, cung điện nơi thành Hoa Lư các vua Đinh, vua Lê dựng như “điện Bách Bao thiên tuế, cột điện dát vàng, dát bạc làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc...”, lâu đài điện các như thế, tưởng đã đến cùng xa cực xỉ.

  • JEAN-CLAUDE GUILLEBAUDLà một nhà báo - nhà văn Pháp thuộc “thế hệ Việt Nam”, thế hệ những người Pháp mà dấu ấn của cuộc chiến Đông Dương đã và sẽ in đậm trong suốt cuộc đời. Ông có mặt ở Việt Nam vào nhiều mốc lịch sử trước 1975, và từ đó ý định trở lại đất nước Việt Nam vẫn luôn thôi thúc ông. Cuốn “Cồn Tiên” được viết sau chuyến đi Việt Nam từ Nam chí Bắc của ông năm 1992. Bản Công-xéc-tô vĩnh biệt này, có thể nói, nó là nỗi ám ảnh của người pháp về Điện Biên Phủ ở Việt Nam. Hiện Guillebaud đang công tác tại Nhà Xuất bản Le Seuil (Paris).