KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY MẤT NHÀ THƠ NGUYỄN BÍNH (1966 - 2016)
MAI VĂN HOAN
Nhà thơ Nguyễn Bính (1918 - 1966) tên thật là Nguyễn Bính Thuyết, quê Thiện Vịnh (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Mẹ ông mất khi “chưa kịp bạc đầu”. Thuở nhỏ, ông không học ở trường mà chỉ học với cha và cậu. 10 tuổi, ông được người anh trai là nhà thơ Trúc Đường sinh sống ở thị xã Hà Đông kèm cặp. 17 tuổi, ông ra mắt tập thơ đầu tay Tâm hồn tôi, đoạt giải thưởng của Tự lực Văn đoàn và bắt đầu nổi tiếng từ đó. Nguyễn Bính là tác giả của hàng trăm thi phẩm được bạn đọc nhiều thế hệ yêu thích. Theo Tô Hoài thì ông là một “tài thơ bẩm sinh”.
Cũng như nhà văn Nguyễn Tuân, thời trai trẻ Nguyễn Bính rất thích xê dịch. Ông từng “lăn lóc có dư mười mấy tỉnh”. Hầu như nơi nào từng đặt chân đến ông đều có thơ để lại. Năm 1940, Nguyễn Bính cùng Tô Hoài và Vũ Trọng Can rủ nhau đi vào Huế theo lời mời của một mạnh thường quân. Tô Hoài chỉ lưu lại Huế trong thời gian ngắn còn Nguyễn Bính và Vũ Trọng Can thì “bám trụ” ở Cố đô gần nửa năm trời để dàn dựng và công diễn vở kịch thơ Bóng giai nhân (với sự cộng tác đắc lực của thi sĩ Yến Lan). Vị mạnh thường quân tạo điều kiện cho ba thi sĩ công diễn Bóng giai nhân trên một vài sân khấu ở Huế. Tiếc là khán giả ngày một thưa vắng. Ba thi sĩ lâm vào tình cảnh “nợ nần như Chúa Chổm” đành phải ngậm ngùi chia tay với Huế. Yến Lan vào lại Bình Định còn Nguyễn Bính và Vũ Trọng Can thì trở ra Hà Nội. Nhưng chính nhờ gần nửa năm “nằm mốc” ở Cố đô mà Nguyễn Bính có được một chùm thơ viết về Huế, bài nào cũng đặc sắc, trong đó phải kể đến Xóm Ngự Viên, Giời mưa ở Huế và Một con sông lạnh.
Theo hồi ký của nhà văn Tô Hoài: Lúc mới vào Huế, vị mạnh thường quân sắp xếp cho ba người ở ngôi nhà trọ ngay xóm Ngự Viên (trên trục đường Ngự Viên, thuộc phường Phú Cát bây giờ). Qua sách vở, Nguyễn Bính được biết xóm Ngự Viên trước đây vốn là vườn Thượng Uyển: “Cung tần mỹ nữ ngời son phấn/ Theo gót nhà vua nở gót sen/ Hương đưa bát ngát ngoài trăm dặm/ Cung nữ đa tình vua thiếu niên”. Tác giả đối sánh quá khứ và hiện tại qua nghệ thuật sắp đặt. Quá khứ hết sức tao nhã. Nào là: “ngời son phấn”, “nở gót sen”, “hương đưa bát ngát”… Còn hiện tại thì hết sức tàn tạ với “giậu đổ, dây leo”, “xóm vắng, rêu xanh”, hoa tàn, lá rụng… Cái cảnh “gieo cầu” của các nàng tôn nữ thời xưa ở vườn Thượng Uyển được Nguyễn Bính tái hiện lại rất nên thơ: “Gót sen bước nhẹ lầu tôn nữ/ Ngựa bạch buông chùng áo trạng nguyên/ Đường hoa, má phấn tranh nhau ngó/ Nhạc ngựa vang lừng khắp bốn bên…”. Cảnh tượng thật lãng mạn: “Lòng Trạng lâng lâng màu phú quí/ Quả cầu nho nhỏ bói lương duyên/ Tay ai ấy nhỉ gieo cầu đấy/ Nghiêng cả mùa xuân, Trạng ngước nhìn…”. Thơ Nguyễn Bính vốn bình dị, dân dã nhưng khi cần cũng hết sức quý phái, cao sang. Cái “màu phú quý” và “nghiêng cả mùa xuân” là cách nói khá độc đáo của thi sĩ. Đối lập với quá khứ phồn hoa là một hiện tại hổ lốn, nhếch nhác: “Nhà cửa xúm nhau thành một xóm/ Cay nồng hơi thuốc lẫn hơi men/ Mụ vợ bắc nam người tứ xứ/ Anh chồng tay trắng lẫn tay đen”. Đạo đức suy thoái một cách trầm trọng: Đổi thay tình nghĩa như cơm bữa. Những nàng tôn nữ đài các ngày xưa bây giờ ngồi cặm cụi đan từng chiếc áo. Văn hóa cung đình đã trở nên bát nháo; “khúc Hậu đình hoa” sang trọng như thế giờ đem “hát tự nhiên”. Tiếng “nhạc ngựa vang lừng” không còn nữa, chỉ còn lại “nhọc nhằn tiếng cú trong thanh vắng”. Nghe và thấu hiểu được tiếng cú “nhọc nhằn” thì quả là chỉ có tài thơ như Nguyễn Bính. Bằng trí tưởng tượng vô cùng phong phú, thi sĩ đã làm sống lại những nét văn hóa cung đình tôn nghiêm, trang nhã của đất Cố đô vốn đã bị mai một theo thời cuộc và thời gian. Ở bài thơ Xóm Ngự Viên, có tiếc nuối nhưng không hẳn là hoài cổ mà chủ yếu là “nỗi đau đớn lòng” trước cảnh “bãi bể nương dâu”. Bởi vậy, chúng ta hiểu vì sao tác giả đang ở ngay xóm Ngự Viên mà lại “nhớ Ngự Viên”! Ngự Viên chỉ là cái cớ để tác giả bày tỏ nỗi “đau đớn lòng” của mình trước tình cảnh đất nước. Đây là trường hợp hiếm hoi trong phong cách thơ Nguyễn Bính: chất trữ - tình - thế - sự lấn át chất trữ - tình - riêng - tư. Xóm Ngự Viên cũng là một trong những bài thơ hiếm hoi được viết theo lối độc vận và cái tôi được ẩn vào nhân vật “du khách”. Mặc dù vậy, người đọc vẫn dễ dàng nhận ra vị du khách mang “nỗi buồn sông núi” đó không ai khác mà chính là thi sĩ Nguyễn Bính.
Cũng viết theo lối độc vận nhưng so với Xóm Ngự Viên thì bài Giời mưa ở Huế ra đời muộn hơn. Đó là thời điểm tác giả rời xa Hà Nội “bốn tháng hình như kém mấy ngày”. Nếu Xóm Ngự Viên Nguyễn Bính ẩn mình qua nhân vật du khách thì Giời mưa ở Huế tác giả không chỉ bộc lộ tâm trạng của mình mà còn nói hộ nỗi lòng cho cả người bạn đang “nằm mốc” ở Huế cùng với mình. Huế nổi tiếng với núi Ngự, sông Hương, với những đền đài, lăng tẩm. Huế còn nổi tiếng về mưa. Cả nước ai cũng biết mưa Huế. Người Huế quá thấm thía cái mùa mưa của xứ sở mình. Nguyễn Bính sống ở Huế vào đúng mấy tháng mùa mưa. Điệp khúc “Giời mưa ở Huế sao buồn thế/ Cứ kéo dài ra đến mấy ngày” láy đi láy lại đã phần nào diễn tả được những cơn mưa triền miên, dai dẳng, lê thê của Huế. Điệp khúc ấy tạo nên âm hưởng thật đặc biệt. Cảm giác tụ đọng, quanh quẩn, ẩm ướt, chán ngán cũng bắt đầu từ điệp khúc ấy. Trên cái nền mưa triền miên, dai dẳng, lê thê rả rích... là tâm trạng tha hương của thi sĩ. Còn nhớ, lúc tôi đang trú trên căn phòng “như tổ chim treo” ở trường Đồng Khánh, khi hơi men đã ngấm, tôi rưng rưng đọc Giời mưa ở Huế, Hoàng Vũ Thuật, Ngô Minh, Hải Kỳ cùng đọc theo như một dàn đồng ca. Rồi những chiều Bến Ngự sầu nghiêng mái quán mưa tong tả, đã biết bao lần chúng tôi: “Tỉ tê gợi tới niềm tâm sự/ Cúi mặt soi gương chén rượu đầy/ Bốn mắt nhuộm chung màu lữ thứ/ Đôi lòng hòa một vị chua cay…”. Những câu thơ như thế chỉ cần đọc lên là đã nổi da gà. Nó ngấm vào lòng, vào tim, vào gan như những li rượu mạnh. Thi sĩ “Lăn lóc có dư mười mấy tỉnh/ Để rồi nằm mốc ở nơi đây...”. Chỉ xét về phương diện sử dụng từ ngữ thì Nguyễn Bính cũng rất xứng đáng bậc thầy. Phải là người “đi khắp thiên hạ mòn gót giày, gãy bánh xe”; phải “giang hồ quen thói vẫy vùng” như Nguyễn Bính mới cảm thấy như mình đang bị mốc meo trong sự bủa vây dai dẳng của mưa Huế. Nguyễn Bính khi buồn chán thường giải khuây bằng thuốc lào. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương kể lại chuyến lên Bắc Giang gặp Bàng Bá Lân: “Chủ mời khách cùng ra đường đi dạo một lát cho tiêu cơm, đến cầu sông Thương sẽ quay về ngủ còn sớm chán. Chàng Tô (Tô Hoài) thì mãn ý quá, nhà văn thư sinh này chỉ phiêu lưu theo kiểu Dế Mèn. Còn Nguyễn Bính thì hận lắm. Đi khắp thiên hạ để tìm tri kỷ mà tri kỷ lại bảo dạo phố rồi về ngủ sớm hỏi có ức không? Thế rồi lỉnh kỉnh suốt đêm ấy, Bính cứ ngồi hút thuốc lào hoài”. Giờ đây, “nằm mốc” ở Huế trong sự bủa vây của những cơn mưa triền miên thi sĩ lại tìm đến với điếu cày: Thuốc lào hút mãi người ra khói! Hút thuốc lào đến mức “người ra khói”, tôi chưa từng nghe ai nói như thế cả! Thế mà Trường Tiền vẫn “vắng ngắt người qua lại”, Đập Đá vẫn “mênh mang bến nước đầy...”. Một chút tơ vương với cô hàng xóm cũng không thể làm cho thi sĩ khuây khỏa nỗi niềm chán ngán của mình: “Tôi rờn rợn lắm giai nhân ạ!/ Đành phụ nhau thôi kẻo đến ngày/ Khăn gói gió đưa sang xứ lạ/ Ai cười cho được lúc chia tay?” Quá khứ nặng nề, u ám hiện ra trước mắt thi sĩ: gia đình ly tán, anh em phiêu dạt, người cũ thì “vung vãi ân tình khắp đó đây”. Thi sĩ cay đắng nhìn lại quãng đời vừa qua của mình và chua chát rút ra kết luận “sòng đời thua nhẵn cả thơ ngây!” Hiếm có bài thơ nào của Nguyễn Bính giúp chúng ta hiểu về tính cách, cảnh ngộ, thân phận... của nhà thơ như Giời mưa ở Huế. Mưa Huế đã gợi lên bao nhiêu nỗi niềm, bao nhiêu tâm trạng. Giời mưa ở Huế là lời tự thú hết sức thành thực của thi sĩ. Nguyễn Bính chinh phục và tìm được sự đồng cảm rộng rãi đối với độc giả các thế hệ không chỉ bằng cái biệt tài trời phú mà còn ở sự chân thành rất mực của mình.
Cũng làm theo thể thất ngôn trường thiên nhưng ở bài thơ Một con sông lạnh Nguyễn Bính không viết theo lối độc vận như hai bài thơ trên. Đây là bài thơ ông sáng tác trước khi chia tay với Huế: Khoan đàn em hãy gắng say/ Một đêm, còn một đêm nay thôi mà... Một cuộc hội ngộ, giao lưu giữa tài tử với giai nhân. Cảnh và tình hòa quyện vào nhau chẳng khác gì Bạch Cự Dị nghe đàn tỳ bà trên bến Tầm Dương. Nhưng Bạch Cư Dị thì tỉnh để chia sẻ, để cảm thông, để đồng cảm với người phụ nữ gảy đàn, còn Nguyễn Bính thì say với tiếng đàn, với giọng ca của nàng kỹ nữ. Thi sĩ nhìn ánh nến thấy “ánh nến hoen vàng”, thi sĩ nghe tiếng đàn mà ngỡ như đang nghe tiếng vó ngựa dồn dập của quân Phiên, thi sĩ lẫn lộn giữa người thực và người trong tưởng tượng: “Ồ nàng không phải là em!” Rồi “Đừng em, quên đấy thôi nàng... Thi sĩ đắm mình trong cái trạng thái “chập chờn cơn tỉnh, cơn mê” nửa hư, nửa thực. Cho đến khi: “Đêm tàn chẳng có chiêm bao/ Đêm tàn có mấy chòm sao cũng tàn/ Chén sầu đổ ướt tràng giang/ Canh gà bên ấy giăng sang bên này”, thi sĩ ao ước: “Lạy giời đừng sáng đêm nay/ Thuyền không cập bến tôi say suốt đời”. Tác giả bỏ lửng với câu kết: “Chiêu Quân lên ngựa mất rồi!” gợi bao nỗi bâng khuâng, luyến tiếc. Bài thơ đã kết thúc nhưng chàng thi sĩ của chúng ta thì dường như vẫn chưa hề tỉnh. Vẻ đẹp Huế, con người Huế làm thi sĩ không muốn rời xa.
Nguyễn Bính đã thành người thiên cổ cách đây đúng 50 năm nhưng những vần thơ của ông viết tại Huế như vẫn còn văng vẳng đâu đây. Mỗi lần đọc lại Xóm Ngự Viên, Giời mưa ở Huế, Một con sông lạnh, tôi cứ hình dung Nguyễn Bính đang đứng trầm tư, suy ngẫm trên đường Ngự Viên, đang cùng bạn chạm cốc bên Bến Ngự và đang nâng ly rượu mời người đẹp trong con thuyền trôi lơ lửng trên dòng Hương… Xứ Huế đã gợi cho thi sĩ bao nhiêu thi tứ. Đi sâu tìm hiểu chùm thơ Nguyễn Bính viết tại Huế chúng ta không chỉ hiểu thêm tài năng thi ca, thân phận, nỗi niềm… mà còn hiểu đầy đủ hơn tình cảm sâu nặng của ông đối với đất nước, đối với xứ Huế mộng mơ.
Huế, tháng 6/2016
M.V.H
(TCSH330/08-2016)
ĐỖ LAI THÚY
Duy nhất chỉ thơ mới đứng cùng bình diện với triết học và suy tư triết học
Heidegger
Con người, sống trên đời, như một thi sĩ
Heidegger
NGUYỄN ĐỨC TÙNG
Trong thơ tình, tình yêu là kẻ chiến thắng sau cùng. Chứ không phải lý trí, đạo đức, chính trị hay lịch sử. Bao giờ và ở đâu cũng thế.
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại
PHAN ĐÌNH DŨNG
Từ hai cuốn sách: Những người thân trong gia đình của Bác Hồ, và Bác Hồ gặp chị và anh ruột; soi vào những bài thơ của Bác, chúng ta có dịp nghiền ngẫm thêm về những tình cảm riêng/chung của Người.
NGUYỄN XUÂN HÒA
Thảo Am Thi Tập của Nguyễn Khoa Vy không chỉ có giá trị về mặt nội dung mà còn có giá trị về mặt nghệ thuật.
LÊ KIM PHƯỢNG
Với thi sĩ Cao Quảng Văn, thơ là cảm xúc thăng hoa tuyệt đỉnh và nếu văn chương có đích, thì thơ là tuyệt đích của tâm hồn. Ở chốn đó, sáng tạo ra đời. Vì vậy, thưởng thức thơ không thể không bằng cảm xúc từ trái tim của người đọc: “Thơ là tiếng nói từ trái tim đập vào trái tim”.
LTS: Nhà thơ Ngô Minh, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1949; Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế, cộng tác viên thân thiết của Sông Hương. Sau cơn tai biến nặng từ trưa 26 tháng 11 năm 2018, nhà thơ đã từ trần tại nhà riêng vào lúc 23 giờ 12 phút ngày 3 tháng 12 năm 2018. Nhà thơ được an táng tại Khu nghĩa trang phường Hương Long, thành phố Huế (sau lưng chùa Thiên Mụ).
Sông Hương thành kính chia buồn cùng gia quyến và bạn đọc, xin đăng bài viết dưới đây của nhà thơ Đông Hà, như là nén nhang tưởng nhớ, vĩnh biệt một người thơ…
Ban Biên tập
HỒ THẾ HÀ
Hoàng Diệp là thơ nổi tiếng với thi tập Xác thu (Nxb. Nam Kỳ, Hà Nội, 1937) trước khi trở thành nhà phê bình, nghiên cứu văn học.
PHAN VĂN NAM
Sau các tập thơ Cùng đi qua mùa hạ (Nxb. Văn nghệ, 2005), Phía bên kia cây cầu (Nxb. Phụ nữ, 2007) và Ngày linh hương nở sáng (Nxb. Hội Nhà văn, 2011) được trao nhiều giải thưởng văn chương uy tín, tác giả Đinh Thị Như Thúy tiếp tục ra mắt tập thơ mới Trong những lời yêu thương (Nxb. Hội Nhà văn, 12/2017).
VĂN THÀNH LÊ
1.
Có thể nói Trần Đăng Khoa là trường hợp lạ của văn đàn Việt. Giữa thời đại cả nước lo ra đồng chạy ăn và ra trận đánh giặc, cuối những năm 1960 đầu những năm 1970, cậu bé Khoa cùng những cô bé/cậu bé 9 - 10 tuổi khác như Cẩm Thơ, Hoàng Hiếu Nhân, Chu Hồng Quý, Trần Hồng Kiên… “đã đi lạc” vào thơ.
NGUYỄN KHẮC PHÊ
Nhiều người đến dự buổi giới thiệu Tự truyện “Mạ Tui” do Tạp chí Sông Hương và Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán phối hợp tổ chức không biết Nguyễn Viết An Hòa (NVAH) là ai, nhưng khi Ban Tổ chức cho hay đó là bút danh trên Facebook (Fb) của thầy giáo Nguyễn Viết Kế, thì đều vui vẻ thốt lên: “À…”.
ĐỖ LAI THÚY
Lý thuyết hệ hình là một hệ pháp nghiên cứu sự phát triển. Văn học Việt Nam, do những đặc điểm riêng thuộc của mình, không phát triển nối tiếp như ở các nước phương Tây, mà gối tiếp như những làn sóng, con trước chưa tan thì con sau đã tới, hay đúng hơn vừa là nối tiếp vừa là gối tiếp.
SƠN CA
Mất mát, tận cùng của mất mát. Cô đơn, tận cùng của cô đơn. Thực tại “vặn xoắn con người đến mức cảm giác không còn hình hài”.
NGUYỄN THANH TÂM
…đi về đâu cũng là thế…
GIÁNG VÂN
LGT: Tháng 4/2018, Nxb. Europa (Hungary) đã dịch và ấn hành tập thơ “Những kỷ niệm tưởng tượng” của Trương Đăng Dung, (Giải thưởng Hội Nhà Văn Hà Nội, 2011). Tập thơ gồm 24 bài cũ và 14 bài mới, được in song ngữ Việt - Hung với 2000 bản. Lễ ra mắt tập thơ được tổ chức trang trọng trong khuôn khổ Liên hoan sách Quốc tế Budapest, với sự có mặt của nhà thơ Trương Đăng Dung và hai dịch giả: Giáp Văn Chung và Háy János cùng đông đảo bạn đọc Hungary. Tập thơ đã được giới chuyên môn và bạn đọc đón nhận nồng nhiệt. Ngay trong lễ ra mắt, toàn bộ số sách mang đến đã được bán hết.
HỒ THẾ HÀ
Hữu Thỉnh là nhà thơ xuất sắc trong thế hệ những nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Cuộc sống và trang thơ của ông đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và giải mã ở tất cả các cấp độ thi pháp với giá trị độc sáng riêng của chúng. Người đến sau khó có những phát hiện gì thêm từ thế giới chỉnh thể nghệ thuật ấy.
NGUYỄN THÀNH NHÂN
Khi nhắm mắt trong phút chốc, xung quanh tôi thoắt nhiên rực rỡ nắng, tôi chỉ là một đứa trẻ nhỏ, chỉ mới mười ba tuổi đầu và đang cố gắng đuổi theo người con gái ấy.”
PHẠM PHÚ UYÊN CHÂU
Nhân 17 năm ngày mất nhà văn Nguyễn Văn Bổng (11/7/2001 - 11/7/2018)
Nói đến Nguyễn Văn Bổng trước hết chúng ta nói đến một nhà văn xứ Quảng anh hùng, giàu bản sắc, một nhà văn hàng đầu của văn xuôi Việt Nam hiện đại, một bút lực dồi dào, với những tác phẩm tràn đầy nhựa sống, là nói đến một khối lượng lớn những tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký có giá trị… (Nhà thơ Hữu Thỉnh).
PHẠM PHÚ PHONG
Trần Vàng Sao là một người yêu nước. Điều này dễ dàng khẳng định cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nghĩa trực tiếp lẫn gián tiếp, không chỉ bởi lẽ anh đã chọn bút danh là Trần Vàng Sao, là tác giả của Bài thơ của một người yêu nước mình, mà còn chủ yếu là ở thế giới hình tượng nghệ thuật và thi trình của anh gắn liền với vận mệnh của đất nước và số phận của nhân dân.
NGUYỄN DƯ
Đang loay hoay thu dọn lại tủ sách bỗng thấy cuốn Dã sử bổ di. Tự dưng muốn đọc lại. Nhẩn nha đọc… từ đầu đến cuối!