Người thủ trưởng đầu tiên

09:32 31/05/2019

NGUYỄN ĐỨC HÙNG   

Một chiều cuối năm 2018, tôi nhận được tấm thiệp mời nhân dịp Lễ mừng tuổi chín mươi của nhà giáo Trần Thân Mỹ và kỷ niệm 65 năm ngày cưới của ông bà Trần Thân Mỹ và Dương Thị Kim Lan. Nếu tính từ mốc tôi được ông đặt bút ký vào hồ sơ chuyển ngành từ Quân đội về làm việc tại Phòng Văn hóa Thông tin (VHTT) thành phố Huế là tròn 35 năm, trong đó có 7 năm (1983 - 1990) tôi được làm việc trực tiếp với ông trước khi ông nghỉ hưu. Ông là vị thủ trưởng khả kính đầu tiên của tôi, là người đã giáo dục, đào tạo và có ảnh hưởng rất lớn đối với tôi.

Tác giả và ông bà Trần Thân Mỹ - Dương Thị Kim Lan. (Ảnh chụp tháng 12/2018).

Lần đầu gặp gỡ

Tháng 8 năm 1983, đơn vị ký giấy giới thiệu gia hạn cho tôi 7 ngày để xin chuyển ngành tại các cơ quan trong tỉnh Bình Trị Thiên. Không biết ai mách bảo, tôi tìm đến ông Trần Thân Mỹ, Trưởng ban VHTT thành phố Huế trong căn phòng tập thể của Thành ủy Huế (nay là khách sạn Heritage). Hồi đó ai cũng hút thuốc, thuốc lá như một hình thức văn hóa trong giao tiếp, tôi rút trong túi ra gói thuốc 475 nặng như thuốc lá Đà Lạt lúc bấy giờ, run run hai tay mời ông, vừa trình bày bộ hồ sơ xin chuyển ngành có xác nhận của đơn vị. Ông lặng lẽ ngồi hút thuốc, dáng người dong dỏng cao, chăm chú đọc lý lịch của tôi, phần hồ sơ đảng viên ông đọc rất kỹ… Sau khi hỏi một vài câu, đến hết điếu thuốc thứ 3 ông hẹn:

- Chiều nay đúng 15 giờ, cháu đến Phòng VHTT thành phố, số 47 Trần Hưng Đạo, chú sẽ trả lời.

Tôi về nhà cả buổi trưa không ăn, không ngủ, hồi hộp chờ đến giờ hẹn. Đúng giờ tôi đến phòng làm việc của ông, có cả anh Nguyễn Duy Hiền - phó phòng, ông đặt bút ký vào hồ sơ của tôi, đồng ý tiếp nhận. Nhân duyên đến từ ông, tôi cầm hồ sơ qua UBND thành phố, lên Ban Tổ chức Chính quyền tỉnh (Sở Nội vụ bây giờ)… tất cả chỉ trong 7 ngày là hoàn tất thủ tục tiếp nhận. Trên đường ra đơn vị, cái cảm giác lâng lâng khó tả khi nghĩ về ông, nghĩ về công việc sắp đến mình sẽ làm….

Cùng thời điểm tôi được nhận về có anh Trần Thanh (nay là Phó Ban Tuyên giáo Thành ủy Huế), chị Kim Minh (đang sinh sống ở Mỹ), chị Thanh Hà (Báo Đồng Nai)… một loạt cán bộ rất trẻ được ông nhận về, cho đi đào tạo cả văn hóa, cả nghiệp vụ và trở thành những cán bộ nòng cốt của cơ quan, sau này đã trưởng thành trên nhiều lĩnh vực công tác khác.

Thế hệ vàng của những cán bộ lãnh đạo từ chiến khu về tiếp quản thành phố như ông sau ngày giải phóng Huế 26/3/1975 thật sự để lại những dấu son trong lịch sử, đó là những người thật sự vì dân, liêm chính, chí công vô tư…

Bài học đầu tiên

Tháng 11/1983, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh về việc phát hành công trái xây dựng Tổ quốc. Ông chỉ đạo anh Lý Văn Nghiên - Đội trưởng Đội văn nghệ xung kích thành phố chuẩn bị chương trình văn nghệ để tuyên truyền về đề tài này. Bài tập đầu tiên mà ông giao cho tôi là được 5 phút để tuyên truyền về Công trái trước giờ Đội Văn nghệ biểu diễn phục vụ nhân dân tại xã Thuận An (lúc đó thuộc đơn vị hành chính của Thành phố Huế). Tôi đánh vật cả ngày tại cơ quan với một chồng các loại báo viết về Công trái xây dựng Tổ quốc. Công trái là gì? Vì sao phải mua công trái? Mua Công trái người dân được lợi gì? Ba câu hỏi ấy được viết rồi xóa, rồi lại viết ra giấy, học thuộc, tập nói như tập diễn… Đến cuối giờ chiều tôi trình ông bản thảo cho nội dung mình sẽ tuyên truyền trước dân.

17 giờ tôi được đi cùng ông trên chiếc xe Jeep về bến đò Thuận An, hồi đó chưa có cầu, chiếc đò ngang đón khách xong đưa đoàn cán bộ của thành phố đến thẳng UBND xã, ông vào làm việc với xã, còn tôi cứ đi lại ngoài sân, lẩm nhẩm đọc lại bài học thuộc lòng mà mình đã soạn sẵn.

19 giờ 30 sau màn nhạc chào, tôi tiến ra sân khấu, một tay giữ micro, một tay buông thỏng tự nhiên nhưng thú thật hai đầu gối tôi run cầm cập. Trước hàng ngàn khán giả, chả nhớ mình thưa gởi những ai, nói những gì… chỉ biết khi kết thúc, tôi nghe rất nhiều tiếng vỗ tay. Trên đường lên Huế, ngồi trên xe, ông nhận xét:

- Lần đầu tiên cháu nói như vậy là tốt nhưng lần sau mở đầu chỉ cần kính thưa bà con là đủ tất cả; lợi ích của việc mua Công trái đừng nói một trăm hay hai trăm phần trăm, nên nói sau 10 năm, Nhà nước sẽ trả lãi gấp đôi, bằng số tiền (số thóc) mà bà con đã mua. Nói với dân cháu phải nói sao thật dễ hiểu, dân mới tin, mới thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước. Đó là bài học đầu tiên mà ông dạy tôi về phương pháp tuyên truyền miệng.

Viết báo

Hồi đó, tờ Tin Huế xuất bản 1 tuần 1 số do ông làm Tổng Biên tập, chuyên mục Sổ tay Người thành phố do ông đảm trách dưới bút danh Trực Văn. Người dân thành phố rất yêu thích chuyên mục này bởi bao nhiêu sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội… của thành phố đều được ông khái quát bằng những mẫu chuyện rất ngắn, rất dễ nhớ. Năm 1986, Đội Thông tin lưu động (TTLĐ) chuyên nghiệp thành phố Huế đi dự thi toàn quốc tại thành phố Hồ Chí Minh được huy chương vàng với chương trình thông tin “Thủy Dương con đường đi lên 10 tấn” tuyên truyền về cách làm ăn của HTX Nông nghiệp Thủy Dương, Hương Thủy. Sau khi thi xong trên đường ra đến Huế tôi bị sốt cao phải nhập viện. Sau 1 tuần nằm viện, tôi đọc được những dòng này trên Tin Huế của ông, đăng ở số đặc biệt (19 - 20) ra ngày 10/9/1986, xin trích nguyên văn:

“Trong lúc đạp xe gấp rút để mua thuốc cho 1 người bạn vừa qua ca mổ, tôi đánh rơi một sổ tay công tác kẹp sau xe, trong đó có phiếu mua 21 ống thuốc trụ sinh đắt tiền và 1 số giấy tờ. Tôi đã trở lại đường cũ, đón hỏi nhiều người trên đường, nhưng không tìm lại được sổ tay, đành phải trở lại báo với cơ quan cấp phiếu và xin giải quyết 1 phiếu khác để mua được thuốc chữa trị cho bạn tôi. Không hy vọng gì tìm ra sổ tay, giấy tờ của tôi nữa thì hai ngày sau vào buổi trưa, một cô gái tìm đến cơ quan tôi và trả lại cho tôi quyển sổ tay. Cô bé bị trận mưa đột ngột trưa hôm ấy làm ướt cả áo quần nhưng cô vẫn cẩn thận giữ nguyên sổ tay và giấy tờ của tôi không bị hề hấn gì. Tất cả giấy tờ còn nguyên vẹn, cả tấm phiếu mua đắt tiền của bạn tôi.

Xin ca ngợi hành động đẹp đẽ của cô bé tên là Hậu, số nhà 128, đường Phan Chu Trinh, Huế. TRỰC VĂN”.

Tôi chỉ là một cán bộ trẻ dưới quyền ông, tuổi đáng con cháu nhưng tấm lòng và tình cảm của ông lúc đấy dành cho tôi quả là niềm động viên rất lớn, tôi bắt đầu học viết báo từ ảnh hưởng của ông. Có lần, ông gọi tôi lên phòng làm việc, giới thiệu với tôi, đây là đồng chí Mai Xuân Bảo, Giám đốc Công ty Thủy sản thành phố. Và ông giao nhiệm vụ cho tôi trong vòng 1 tuần phải viết bài đăng trên Báo Bình Trị Thiên tuyên truyền việc thu mua thủy sản của công ty này. Hồi đó đứng chân được trên báo Bình Trị Thiên là cả vấn đề, làng báo toàn cây đa, cây đề của cả 3 tỉnh, đề tài ông giao cho tôi quả là một thử thách. 7 ngày tôi được biệt phái đi cùng với công ty thủy sản, tìm hiểu kỹ từng doanh nghiệp đến thu mua trên địa bàn, kể cả tư thương (lúc đó chỉ có doanh nghiệp nhà nước mới độc quyền), đọc và ghi chép lại rất nhiều văn bản, tiếp xúc hàng chục hộ dân nuôi trồng thủy sản… Hết thời hạn, tôi trình ông bản thảo dài khoảng 2.000 từ “Xung quanh việc tranh mua thủy sản ở thành phố Huế”, lần này ông đọc và khen: Cháu viết được bài này xem như qua làm kinh tế được rồi. Tôi thở phào nhẹ nhỏm, bài được đăng trên báo Bình Trị Thiên, số ra ngày 14/7/1988.

Đội thông tin lưu động, mũi nhọn trong công tác tuyên truyền

Tháng 8 năm 1985, Đội TTLĐ được thành lập, cùng lúc chiến dịch khai thác cây đót để làm hàng xuất khẩu rộ lên, ông chỉ đạo tôi phải đưa anh em trong Đội lên A Lưới, vừa biểu diễn văn nghệ phục vụ, vừa tuyên truyền chủ trương của Thành ủy Huế về mặt hàng xuất khẩu chủ lực này. Đường lên A Lưới lúc đó rất gian nan, phải đi ra Đông Hà, lên Đường 9, qua cầu Dakrong, chạy theo đường mòn Hồ Chí Minh mới lên đến A Lưới thì trời cũng vừa tối mịt. Cả Đội 6 người mang đầy đủ trang bị cho 1 chương trình biểu diễn 60 phút, ngồi vắt vẻo trên thùng xe Zin-khơ, di chuyển dọc tuyến đường Trường Sơn, nơi nào có bà con Huế lên khai thác cây đót là chúng tôi dừng lại để tuyên truyền. Đợt công tác ấy kéo dài 5 ngày, nhưng dư âm của nó kéo dài mãi những năm sau này…

Cụm từ “liên doanh, liên kết” thời điểm ấy được ông vận dụng trong việc chỉ đạo Đội TTLĐ phối hợp với các cơ quan liên quan, tuyên truyền theo đơn đặt hàng. Chúng tôi đã xây dựng các chương trình thông tin về cây tiêu, cây mía (Phòng Nông nghiệp), con tôm xuất khẩu (Công ty Thủy sản), sinh đẻ kế hoạch (Phòng Y tế), các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp xuất khẩu (Công ty ngoại thương) tuyên truyền về bầu cử, công trái, bão lụt, các ngày lễ lớn… nhờ vậy đã giảm chi kinh phí của cơ quan. Họp chi bộ có ý kiến đề nghị xem lại quan điểm của tôi khi quá thiên về các chương trình kinh tế, ông đứng ra bảo vệ, tuyên truyền như vậy là đúng hướng, đúng mũi nhọn về chương trình phát triển kinh tế của Thành ủy, tôi thoát nạn.

Có lần, sau cơn bão lớn, các xã phía đông thành phố như Phú Tân, Thuận An, Hải Dương… gần như bị chia cắt hoàn toàn, không điện, nước, không có thông tin. Ông chỉ đạo Đội phải có mặt ngay tại các địa phương ấy, giúp dân được việc gì thì giúp nhưng nhiệm vụ chính là phải tuyên truyền cho người dân hiểu các chủ trương của thành phố trong việc khắc phục hậu quả sau bão lụt. Chúng tôi lên đường như những người lính, trang thiết bị thuê xe xích lô chở, tất cả đi xe đạp, mang theo trang phục cá nhân và cả lương thực đủ dùng cho đợt công tác. Ít hôm sau, từ Huế ông đi xe đạp về xã Phú Tân, ra đến tận địa bàn dân cư ven Phá Tam Giang để thăm bà con và kiểm tra công việc của chúng tôi… trời mưa lạnh, đạp xe đường xa, người ông nổi mề đay mẫn ngứa, anh em trong Đội hỏi:

- Sao chú không đi xe Jeep cho đỡ vất vả?

- Cả Đội đi xe đạp sao chú lại đi xe cơ quan, hơn nữa về với dân, mình phải thật sự gần dân.

Nhớ lại, sau ngày giải phóng, phòng VHTT thành phố là cơ quan chịu trách nhiệm treo và hạ cờ Tổ quốc trên đỉnh Phu Văn Lâu, người thực hiện duy nhất nhiệm vụ ấy là bác Trần Châu (đã qua đời) người nhỏ con, nặng chừng 45kg. Cột cờ Phu Văn Lâu hồi đó không có hệ thống ròng rọc hiện đại như bây giờ, muốn treo cờ phải chờ khi lặng gió, lá cờ nặng hơn cả chục cân phải được xếp gọn như chiếc ba lô mang sau lưng, múi cờ nào móc ở phía trên đỉnh cột, múi nào ở phía dưới phải được xếp chính xác, và thao tác phải cực kỳ nhanh nếu không người treo cờ sẽ bị rơi xuống đất khi lá cờ được gió bung ra. Có lần ông gọi tôi cùng ông đi theo bác Trần Châu, trước khi bắt đầu leo lên cột, thấy công việc nguy hiểm, ông bảo: - Có việc gì để chú cháu tôi cùng làm với anh.

Bác Châu lúc đó đã leo thoăn thoát trên cột vừa nhỏe miệng cười:

- Anh cứ đứng nhìn động viên em là được rồi.

Sau lần đó, ông kiến nghị thành phố đầu tư kinh phí để làm mới hệ thống ròng rọc trên cột cờ Phu Văn Lâu.

Những năm ông làm Trưởng Phòng VHTT Huế, nhiều mảng hoạt động trở thành mô hình điểm của cả nước, Đội Văn nghệ xung kích thành phố tung hoành khắp dải miền Trung; công tác bảo tồn, bảo tàng di tích được triển khai mạnh mẽ làm cơ sở cho việc hình thành nhà bảo tàng những năm sau này; phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở; hội thi, hội diễn; công tác quản lý nhà nước trên địa bàn… đều mang đậm dấu ấn một thời của ông.

Đại gia đình “tứ đại đồng đường” với 41 người của ông bà Trần Thân Mỹ - Dương Thị Kim Lan


30 năm, tính từ ngày nghỉ hưu ông vẫn không nghỉ, vẫn là người thầy giáo tâm huyết, người cán bộ hưu trí mẫu mực ở khu dân cư. Ông viết sách, làm thơ Đường, vui vầy với con cháu...

Chín mươi tuổi, ông bà vẫn đi bên nhau ròng rã 67 năm, vẫn xưng hô anh em ngọt ngào như hồi còn trẻ, hạnh phúc như ông bà quả là cực kỳ hiếm.

Ông là người thủ trưởng đầu tiên của tôi, là người thầy đã dày công đào tạo tôi nên người và trưởng thành hôm nay, kính chúc ông bà hạnh phúc viên mãn, bước tiếp qua ngưỡng đại thượng thọ trong 10 năm nữa như lời chúc của nhà giáo nhân dân Trần Bửu Lâm, Chủ tịch chi hội thơ Đường thành phố Huế, người bạn cùng thời trong lễ mừng tuổi chín mươi của ông.

N.Đ.H  
(SHSDB32/03-2019)


 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • HỒ DZẾNH
             Hồi ký

    Mai sau dù có bao giờ
    Đốt lò hương ấy, so tơ phím này

                                 NGUYỄN DU

  • LÝ HOÀI THU

    Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.

  • PHẠM THỊ CÚC

    (Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)

  • Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.

  • CAO THỊ QUẾ HƯƠNG

    Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.

  • THÁI KIM LAN

    Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.

  • Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?

  • Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.

  • Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập  thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.

  • DƯƠNG PHƯỚC THU

    LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.

  • NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN

    (Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)

  • BÙI KIM CHI

    Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…

  • LÊ MINH
    Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)

    … Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.

  • NGUYỄN KHOA BỘI LAN

    Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.

  • (SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.

  • NGUYỄN CƯƠNG

    Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.

  • HOÀNG HƯƠNG TRANG

    Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.

  • PHẠM HỮU THU

    Với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đầu năm 1942, sau khi vượt ngục trở về, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có quãng thời gian gắn bó với vùng đầm Cầu Hai, nơi có cồn Rau Câu, được Tỉnh ủy lâm thời chọn làm địa điểm huấn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
    Để đảm bảo bí mật và an toàn, Tỉnh ủy đã chọn một số cơ sở là cư dân thủy diện đảm trách việc bảo vệ và đưa đón cán bộ.
    Số cơ sở này chủ yếu là dân vạn đò của làng chài Nghi Xuân.

  • TRẦN NGUYÊN

    Thăm Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, như được trở về mái nhà thân thương nơi làng quê yêu dấu. Những ngôi nhà bình dị nối nhau với liếp cửa mở rộng đón ánh nắng rọi vào góc sâu nhất.

  • PHẠM HỮU THU
           Nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12

    “Có những sự thật quá lớn lao của một thời, đến nỗi hậu thế nhìn qua lớp sương mù của thời gian, không thể nào tin nổi” (Nhà văn Phùng Quán).