HOÀNG HƯƠNG TRANG
Thuở nhỏ, tôi thường trốn ngủ trưa đi nghe hát vè. Ở Huế lúc ấy gọi là nói vè, như theo tôi phải gọi là hát vè thì đúng hơn, bởi người hát có bài có bản, có giai điệu, trầm bổng, có cả nhạc cụ.
Minh họa: NHÍM
Nếu hai người một nhóm, thì một người vừa hát vừa gõ nhịp phách làm bằng hai thanh tre hoặc cái song lang, còn người kia thì đánh cái trống nhỏ. Lời hát, tiếng phách, nhịp trống rất ăn khớp nhịp nhàng, nghe rất hấp dẫn, bởi vậy đã thu hút được đám trẻ con chúng tôi trốn ngủ trưa, hoặc đi học thật sớm để ra gốc bàng cuối xóm ngồi bu chung quanh người hát vè nghe say sưa, nghe năm này qua năm khác, suốt thời tiểu học mà không biết chán.
Lúc ấy, cách nay cũng tròm trèm nửa thế kỷ rồi, ở Huế có ít nhất là vài ba người nói vè mà tôi biết và đã từng nghe. Một ông già cụt chân thường nói vè ở chợ Bến Ngự, nghe đâu ông cụt chân vì đi chữa cháy bị nhà sập đè gãy chân, ông phải đi nói vè độ nhật, ít lâu sau vì chống nạng qua đường chậm chạp ông lại bị tai nạn xe cán, lần này thì ông từ giã cõi đời, không còn ai nói vè ở vùng Bến Ngự nữa. Gần cửa Thượng Tứ cũng có ông già mù nói vè, ông già này còn có thêm một đứa cháu trai nhỏ, vừa dắt đường cho ông vừa đánh cái trống nhỏ như trống trẻ con chơi Trung Thu, còn ông vừa hát vừa gõ phách làm bằng hai thanh tre đã lên nước láng đen. Chỗ ông hay ngồi là đường vào cửa Thượng Tứ, cũng có khi thằng bé dắt ông ra ngồi sau chợ Đông Ba. Hai mắt ông mở to nhưng đục như cùi nhãn, mặt hóp nhăn nheo, người ông gầy gò, lưng còm hẳn xuống, lúc đi thằng bé phải cầm tay ông. Giọng ông hát trầm đặc, những bài vè lục bát quyện vào tiếng phách gõ lanh canh, điểm xuyết tiếng trống cầm nhịp long bong, long bong, cắc cắc... làm mê mẩn người nghe.
Ông không có nhà cửa, ngày đi nói vè kiếm chút tiền do khách qua đường dừng chân nghỉ mát dưới bóng cây đa, thương tình ném cho vài trự xu cũng tạm đủ ông cháu cơm cháo qua ngày. Tối đến, ông cháu lần về ngủ trong chợ Đông Ba. Nghe đâu như là ông ở một làng quê xa lắm, cả nhà ông bị cơn bão lụt năm Thìn nào đó cuốn đi mất cả, chỉ còn hai ông cháu vướng trên đọt tre được cứu sống, ông khóc thương vợ con, nuối tiếc cửa nhà đến mù cả mắt. Từ đó ông dắt thằng cháu duy nhất còn sót lại, lần lên thành phố đi nói vè.
Có một đận không còn ai trông thấy hai ông cháu nói vè nữa. Mấy bà bán hàng ở chợ Đông Ba thì thầm có vẻ sợ sệt:
“Ông già mù chết rồi, thằng cháu đi xin tiền chôn ông xong thì tìm đường... lên khu với người chú làm Quốc sự”.
Người nói vè mà tôi gắn bó nhất trong cả quãng đời thơ ấu của tôi là một người đàn bà mù. Đường Gia Hội, ngày xưa ấy, có mụ Mì, mụ cũng mù cả hai mắt, nhưng không hẳn mù tịt, mà còn thấy chút ít bóng sáng mờ mờ, tạm đủ cho mụ tự rà rà bước chân để đi chầm chậm một mình. Không ai dắt mụ đi cả, mụ chậm rãi lần đi tới, lúc thì ngồi ở gốc bàng này, lúc ngồi trước thềm nọ. Giữa trưa hè nắng gắt, mọi người khép cửa ngủ trưa, bỗng vang lên tiếng gõ nhịp dạo đầu... lách cách... lách cách, rồi mụ cất giọng khàn khàn, nghèn nghẹn nhưng rất ấm áp, sâu lắng. Những bài vè mà bọn trẻ con chúng tôi đã thuộc lòng, nhưng không hiểu sao, hễ giữa trưa, nghe tiếng phách gõ nhịp nhàng, là nhà nọ nhà kia lại có vài ba đứa trẻ thập thò, len lén trốn ngủ, nhẹ nhàng chạy ra ngồi nghe, có đứa nhướng mắt, có đứa há miệng, say sưa theo những câu lục bát quen thuộc. Lúc ấy chúng tôi chỉ nghe chứ không biết là bài vè gì, sau này lớn lên mới nghe người này người kia cho biết bài nào là bài vè “Thất thủ Kinh đô”, bài nào là “Vè Mụ Đội”, “vè “Cô Thông Tằm nằm nhà thương”, hay vè “Trò Hiếu Ông Hiên”, vè trào lộng của Bùi Viện nhạo vua quan binh lính của Tự Đức bị tàu ô bắn phá ở Thuận An. Lại có cả những bài vè “Nói láo, nói trạng” nghe cười đến bể bụng.
Mụ cất tiếng hát: “Láo thiên láo địa. Láo bên Sịa mới qua. Láo Đông Ba mới về... Ngồi buồn nói chuyện láo thiên. Hồi nhỏ tui có đi khiêng ông Trời. Ra đồng coi muỗi bắt dơi. Bọ hung làm giỗ có mời ông voi... Nhà tui có một con mèo. Khi mô hết cá hắn lên đèo bắt nai...” rồi mụ cười khà, gõ lách cách, lách cách... còn bọn nhóc thì bá vai nhau cười nói: “Láo quá hí! Trạng chi lạ mụ Mì ơi!”
Khi nào hát bài vè “Thất thủ Kinh đô” mụ cũng nghẹn ngào như thương nhớ gì đó, mắt mụ ứa lệ. Mấy cụ già trong xóm nói rằng cha mẹ, chú bác của mụ ngày xưa đã chết trong trận thất thủ Kinh thành ấy, chết không toàn thây, voi ngựa dày xéo cả lên đoàn dân chúng chạy loạn từ trong Thành Nội tuôn ra cửa Đông Ba, Thượng Tứ, người nát bấy cả ra. Hèn chi mỗi lần nói vè đến bài Thất thủ là mụ buồn bã rồi khóc, tiếng gõ nhịp cũng chùn hẳn xuống, giọng mụ như nghèn nghẹn:
Kể từ thất thủ kinh đô
Thằng Tây hắn bắn súng vô Kinh thành
Quan quân, dân chúng tan tành
Ngựa voi dẫm đạp, máu tanh tuôn trào
Khóc la thảm thiết thét gào
Người đi đày ải, kẻ vào hố chôn
Bạc vàng châu báu nỏ còn
Vua quan chạy loạn khổ hơn dân thường
Sự tình càng nghĩ càng thương
Bởi thua mưu trí, cùng đường bại vong
Giận thay lũ giặc tanh lòng
Ở mô mà tới đây hòng cướp tranh
Nước mi, mi ở yên lành
Cớ răng mi lại đi giành nước ta
Oan hồn khắp chốn kêu la
Đúng thời tháng Ngọ, hăm ba, khắp đường
Đặt bàn hương án tinh tươm
Cúng vong uổng tử, canh cơm đủ đầy
Hăm ba, tháng Ngọ, nhớ ngày
Đông Ba, Thượng Tứ chất đầy xác dân:
…
Thỉnh thoảng giữa những bài vè, mụ ngừng lại, nói nhỏ nhẹ: “Có trự mô cho mụ một đọi nước chè không hè?” Rứa là có đứa nhanh chân chạy về nhà rót một tô nước chè tươi đem ra cho mụ uống. Mụ khen: “Ngon quá, nước chè có gừng thiệt ngon, mụ cám ơn nghe!”. Thỉnh thoảng có đứa đem chè xôi cúng rằm ra cho mụ, lại cũng có đứa hào phóng mua kẹo cau, mè xửng cho mụ nữa, những lúc ấy mụ cám ơn bọn nhóc bằng cách kể chuyện đời xưa, hay hát những câu như:
Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại
Cầu Trường Tiền đúc lại xi-mon
Anh đi lên đi xuống đã mòn
Không ghé vô thăm thầy mẹ
Để thầy mẹ trách rể con chi bạc tình
Rồi mụ giảng cho chúng tôi hiểu, ngày xưa, chợ Đông Ba ở gần cửa Chánh Tây và cầu gỗ Bông Ba cũ, chật chội, sau dời ra ngoài bờ sông Hương, chỗ đất giại, nghĩa là bãi hoang, cho rộng rãi. Còn cầu Trường Tiền xưa chưa có, phải qua đò, sau làm cầu gỗ, rồi bão năm Thìn trôi mất, Tây nó làm lại cầu đúc như ngày nay. Nhờ mụ mà chúng tôi biết được nhiều chuyện xưa tích cũ. Mụ thường khuyên chúng tôi: “Mấy con lo học cho chăm chỉ. Mơi sau nên người hữu ích”. Mụ hay kiêng chữ, mụ nói “Ngày Mơi, cây bông Mơi” chứ không nói “Ngày Mai, cây bông Mai”. Những chữ như: “Cái nhà, rất nhiều, áo nhung” mụ nói là “Cái già, rất giều, áo giung” mà không phải chỉ riêng mụ, ở Thừa Thiên Huế đa số là nói như vậy, nghe cũng thành quen, thấy thương tiếng địa phương. Mụ hát bài vè trào lộng của Bùi Viện rất hay. Mụ giảng cho bọn tôi hiểu vè này kể chuyện vua Tự Đức và các quan ra cửa Thuận An, thấy đoàn thuyền tải lương tiền ngoài Bắc vào, phút chốc có mấy thuyền của bọn cướp biển sơn đen xì nên gọi là tàu ô, nó bắn phá cướp thuyền lương của ta, tàu của ta yếu quá bỏ chạy, bị cướp lấy đi mất nhiều lương tiền và quân ta cũng chết nhiều, vua Tự Đức thấy vậy truyền lệnh cho ai bắn được tàu giặc sẽ trọng thưởng. Thế là quân ta súng lớn súng nhỏ đua nhau bắn loạn xạ ra biển, nhưng không một viên đạn nào trúng tàu giặc. Giặc cướp xong bỏ đi ung dung. Còn quân ta lớp chết, lớp bị thương kêu la thê thảm. Ông Bùi Viện thấy cảnh khôi hài đó bèn làm bài vè trào lộng cười chê bọn quan quân hèn nhát chỉ ham tiền thưởng mà bắn loạn xạ, bài vè còn được lưu truyền mãi trong dân chúng.
Mụ Mì có dáng người thấp, chân đi khập khiễng, tóc hớt trọc, mặc bộ quần áo vải thô màu nâu bạc phếch vá nhiều chỗ, đội chiếc nón rách gãy vành, khi nào ngồi nói vè thì đặt chiếc nón dưới đất, trước mặt, để người qua đường ném những đồng xu vào. Chúng tôi vô tâm không hề biết mụ nhà cửa ở đâu. Những nhà trong xóm thấy mụ hiền hậu, lễ phép, luôn “Dạ, Thưa”, nên cũng không cấm đoán chúng tôi nghe mụ nói vè, họ cũng cho mụ ngồi trước thềm nhà, gốc cây mà không la rầy đuổi đi. Thỉnh thoảng nhà nào có giỗ chạp cũng đem cho mụ chén chè, đĩa xôi hay chút ít thức ăn gì đó. Họ chấp nhận mụ như một người trong xóm, đơn độc, quen thuộc nghèo khổ đáng thương. Một đôi khi vài người già trong xóm kể chuyện đời mụ. Xưa mụ chèo đò ở Bãi Dâu, thường đưa những người làm “quốc sự” sang sông để đi công tác miệt Bao Vinh, Tiên Nộn, Hương Cần. Trong số ấy có một anh vệ quốc đem lòng thương yêu và cưới mụ làm vợ. Cô gái chèo đò ấy sống trong hạnh phúc không bao lâu, khi mụ có thai mấy tháng thì anh vệ quốc lên đường công tác, mụ bị một tên xấu nào đó tố cáo. Tây đến lùng sục đốt nhà mụ, phá nát con đò thả trôi sông, rồi bắt mụ tra tấn đánh đập, mụ bị trụy thai, bị què chân, bọn Tây còn đổ nước vôi pha xà phòng vào mắt làm cho mụ bị mù từ đó, nhưng chúng vẫn không khai thác được gì, mụ cắn răng chịu đựng đau đớn. Khi chúng thả mụ về, mụ đã thành tàn phế, không nhà cửa, không ai dám cho mụ ở đậu, mụ phải đi nói vè kiếm ăn qua ngày, chỉ mong cho chóng đến ngày gặp lại chồng như đã hẹn lúc ra đi. Nhưng mụ chờ mãi, chờ hoài, chiến tranh ngày càng dai dẳng, mụ ngày một già yếu.
Bỗng một hôm nào đó, mấy người đàn bà trong xóm xì xầm to nhỏ: “Mấy chị thấy không, mụ Mì có chửa, mụ ta chửa hoang, đồ mất nết, đã nghèo khổ như rứa, lại già rồi, còn bày đặt chửa hoang, chắc lại là mấy thằng cu-li xe kéo chi đó thôi...”. Từ đó người lớn trong xóm cấm hẳn trẻ con không được theo mụ Mì nghe hát vè nữa. Họ cũng không cho mụ ngồi trước thềm, không cho mụ thức ăn thức uống như trước nữa. Nhiều bà chanh chua chửi mụ không tiếc lời. Mụ lặng im, cúi mặt xuống, hai tay đỡ lấy cái bụng nặng nề ngày một lớn. Mắt mụ rưng rưng, bước khập khễnh lần vào chợ xin ăn. Không ai thèm nghe mụ hát vè nữa. Bẵng đi ít lâu không thấy mụ xuất hiện mọi người lại xầm xì: “Chắc là mụ Mì đi đẻ rồi”.
Mà quả thật, rồi mụ lại xuất hiện với cái bụng xẹp lép, trông mụ có vẻ yếu hơn trước, già hơn trước, mụ lại gõ phách nói vè, một vài đứa trẻ vẫn len lén theo mụ nghe những bài vè lục bát quen thuộc.
Rồi mụ lại “chửa hoang” lần nữa, cái bụng cứ to dần, bước đi càng khập khiễng, các nhà trong xóm càng khinh ghét mụ hơn, họ xua đuổi và chửi rủa nặng lời. Mụ cũng chỉ cúi đầu im lặng.
Một hôm mụ đang ngồi nói vè ở một gốc cây, giọng mệt nhọc đứt quãng, bụng to vượt mặt. Bỗng cô y tá ở bệnh viện tình cờ đi ngang. Cô đứng lại cúi xuống nắn bụng mụ, rồi nhẹ nhàng hỏi: “Lại to đến chừng này rồi à? Thôi, đừng đi nói vè nữa, vào bệnh viện ngay đi, tôi sẽ xin bác sĩ rút nước ra cho nhẹ người, đừng để nặng quá khó chữa”. Các bà trong xóm lấy làm lạ, chặn cô y tá lại hỏi, được cô giải thích: “Mụ ấy khổ quá, bị bệnh cổ trướng, bụng cứ báng lên, lần trước đã qua nhà thương rút nước, uống thuốc, lần này coi bộ nặng hơn, tội nghiệp quá đã nghèo còn tàn tật, bệnh hoạn”.
Những bà, những chị thành kiến xấu lâu nay với mụ Mì chợt hiểu ra. Họ rất hối hận đã đối xử bất công với mụ. Họ bảo nhau quyên góp chút ít tiền gạo cho mụ đi chữa bệnh. Có người đã khóc, cầm tay mụ mà xin lỗi.
Rồi mụ đi chữa bệnh về, bụng lại xẹp lép, người gầy yếu đi nhiều. Nhưng mụ dường như rất vui vẻ phấn khởi, mụ luôn mỉm cười. Mụ lại ngồi hát vè dưới bóng mát cây bàng, cây sứ. Bọn trẻ chúng tôi lại chạy theo ngồi bu quanh mụ nghe hết bài này sang bài khác không chán, lại bưng cho mụ đọi nước chè tươi thơm ngát gừng non, lại đem cho mụ chiếc kẹo mè, kẹo cau.
Rồi lên trung học, chúng tôi đã lớn, không còn chạy theo mụ Mì nghe hát vè nữa. Rồi tiếng gõ phách, giọng hát khàn khàn đã biến đi lúc nào chúng tôi cũng không hay.
Thời gian cứ vô tình trôi qua, tuổi đời chồng chất, công việc đời thường, chúng tôi trôi giạt đi khắp mọi miền đất nước, hiếm khi về lại thăm quê, cũng hiếm hoi có dịp gặp bạn bè cũ. Đâu còn ai nhớ đến mụ Mì hát vè.
Có lẽ đến ngót nửa thế kỷ tôi mới có dịp gặp lại đôi ba người bạn thuở thơ ấu, trong dịp về dự lễ hội mừng Tám mươi năm thành lập ngôi trường nổi tiếng nhất ở Huế. Sau lễ hội chúng tôi dắt tay nhau về thăm lại con đường Gia Hội cũ, ôn lại những kỷ niệm xưa. Vui chân đi tới góc đường Ngự Viên, nhìn cái cổng gạch rêu phong, giờ đây đôi chỗ vỡ ra, cây hoang bám mọc um tùm, nhìn gốc bàng, gốc sứ năm xưa, những thềm nhà cũ kĩ, chúng tôi không hẹn mà cùng thốt lên: “Chỗ ni hồi xưa tụi mình thường ngồi nghe mụ Mì nói vè đây này. Mụ có còn sống không hè?”
Trong câu hỏi đã có câu trả lời, mụ làm sao còn sống tới bây giờ được, chúng tôi nay đã là bà ngoại, bà nội cả rồi. Mắt đứa nào cũng rơm rớm, tất cả kỷ niệm thiếu thời hiện về đầy ắp, trong đó không thể thiếu hình ảnh mụ Mì nói vè và tiếng gõ phách năm xưa.
Tôi đi tìm khắp Huế bây giờ, không tìm đâu ra những người nói vè như thuở xưa nữa, lòng cứ rưng rưng nuối tiếc giọng hát đục khàn, những bài vè lục bát ngọt ngào của tuổi thơ. Mụ Mì ơi, trong ký ức chúng con, những đứa trẻ năm xưa từng nghe mụ hát vè, vẫn luôn còn hình ảnh mụ.
H.H.T
(SĐB 7/12-12)
PHẠM XUÂN PHỤNG
Một buổi sáng tháng 7 năm 1994, tại Văn phòng Đảng ủy Bệnh viên Trung ương Huế, tôi tiếp một nhân viên văn phòng Hội Văn học Nghệ thuật (nay là Liên hiệp các Hội VHNT Thừa Thiên Huế).
TRẦN NGUYÊN HÀO
Lòng nhân ái của Bác Hồ dành cho mọi người dân Việt Nam; tình yêu thương ở Bác lan tỏa đến những người nô lệ mất nước và những người cùng khổ trên khắp thế gian, cho những người da đen bị phân biệt chủng tộc, cho cả những người da trắng bần cùng, cho những người phụ nữ các nước đế quốc thực dân có chồng con bị đưa sang Việt Nam và nước thuộc địa làm bia đỡ đạn; và cho cả chính những người lính ở bị đưa đi đánh nhau và nhận những cái chết oan uổng trong các cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa.
HÀN NHÃ LẠC
Thêm một giọng ca tài danh từng tôn cao giá trị di sản ca Huế vừa ra đi: nghệ sĩ nhân dân Minh Mẫn vừa qua đời ngày 13 tháng ba năm 2018, nhằm ngày 26 tháng giêng âm lịch.
ĐẠI HỘI VHNT THỪA THIÊN HUẾ LẦN THỨ NHẤT
(Trích bài phát biểu của đồng chí Vũ Thắng, nguyên ủy viên BCH Trung ương Đảng CSVN, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế tại Đại Hội)
HÒA ÁI
Đến nay, những bài thơ chúc Tết của Hồ Chủ tịch đã trở thành di sản của dân tộc. Những bài thơ chúc Tết của Bác trong mỗi dịp Tết đều toát lên tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta trong một giai đoạn lịch sử.
PHẠM PHÚ PHONG
Du ký
Do cách chia thời gian theo ngày tháng, người ta thường coi thời gian trôi/ đi qua, nhưng thực ra thời gian vẫn đứng yên đó thôi, chỉ có con người và vạn vật trôi qua dưới con mắt chăm chú, kiên trì và nhẫn nại của thời gian.
TRẦN THỊ KIÊN TRINH
Là em gái của anh nhưng khi tôi được sinh ra anh đã tròn hai mươi tuổi. Những gì nhớ về anh chỉ là ký ức tuổi thơ trong khu vườn tranh thỉnh thoảng anh về.
LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG
(Viết từ lời kể của cựu chiến binh Đặng Hà)
Tôi tình cờ đọc được thông tin Hải quân Mỹ lấy thành phố Huế để đặt tên cho một tuần dương hạm mang tên USS Hue City (CG-66). Tuần dương hạm này thuộc lớp Ticonderoga, trang bị tên lửa, gắn với trận đánh Trung đoàn 1, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tham chiến Huế vào dịp Tết Mậu Thân.
NGUYỄN TỰ LẬP
Cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam cách đây tròn nửa thế kỷ (1968 - 2018).
Những tượng đài thiêng liêng trong lòng dân Quảng Điền
NGUYỄN QUANG HÀ
Bút ký
Thái độ về cuộc Cần Vương
Người thẩm vấn (NTV): Ông có phải là kẻ hâm mộ người anh hùng cuối cùng trong cuộc tử chiến chống người Pháp đó không?
CHƯƠNG THÂU
Hồ sơ Thẩm vấn là tập tài liệu khá khá dày dặn của Hội đồng xử án Tòa Đề hình của chính quyền thực dân để chuẩn bị xử Phan Bội Châu vào ngày 23/11/1925 tại Hà Nội.
LTS: Kỷ niệm 150 năm ngày sinh của chí sĩ Phan Bội Châu, Sông Hương được tiếp cận với bản thảo “Vụ án Phan Bội Châu năm 1925: Hồ sơ thẩm vấn”. Đây là nguồn tư liệu quý, nằm trong tập Bổ di II lần đầu được công bố về vụ án chí sĩ Phan Bội Châu.
Cuối mùa hè năm 1978 chúng tôi là lứa lưu học sinh đầu tiên được tới Liên Xô bằng máy bay, trước đây chỉ đi bằng tàu hỏa liên vận qua Bắc Kinh. Đối với nhiều người Việt Nam lúc bấy giờ, nhất là những người lính sau mấy năm chỉ sống ở núi rừng, Moscow thực sự là thiên đường.
DƯƠNG PHƯỚC THU
Dưới thời Pháp thuộc, những năm đầu thế kỷ XX, để ra được một tờ báo - mà lại báo tiếng Việt do người Việt quản lý tại Kinh đô Huế quả thực nhiêu khê và vô cùng khó khăn, phức tạp.
ĐẶNG NHẬT MINH
Tôi vẫn còn nhớ đinh ninh cảnh quay đầu tiên của phim Cô gái trên sông vào tháng 10 năm 1987 là cảnh Liên, nhà báo nữ (do Hà Xuyên đóng) đến bệnh viện Huế tìm gặp Nguyệt (do Minh Châu đóng).
THÁI KIM LAN
Con đường ấy, từ dốc cầu Gia Hội đổ xuống, dọc theo con sông nhánh trước kia còn gọi là sông Đông Ba, Hàng Đường, rồi Bạch Đằng, lấy tên dòng sông chảy qua chùa Diệu Đế, qua cầu Đồng Ba, về Bao Vinh, ngã Ba Sình, con đường mang nhiều vẻ lạ, nó mang phố về biển khơi và chuyên chở tứ xứ về kinh thành, vốn là phố cổ một thời với những căn nhà gỗ kiến trúc thuần Huế, nơi những gia đình thượng lưu, quý tộc định cư một thời quan quan thư cưu…
DƯƠNG PHƯỚC THU
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, nhận chỉ thị của Hồ Chủ tịch, đại diện Ủy ban Nhân dân lâm thời Thừa Thiên và Ủy ban Nhân dân Trung Bộ đóng tại Huế đã đến mời cụ Huỳnh Thúc Kháng, một tiến sĩ Nho học yêu nước, một nhà báo nổi tiếng, một người không đảng phái ra Hà Nội gặp cụ Hồ.
HƯƠNG CẦN
Vài năm lại đây, báo chí thường nhắc đến ông hai lúa Bùi Hiển (Thủ Dầu Một, Bình Dương) tự chế thành công chiếc máy bay trực thăng vào năm 2012, ông làm chiếc thứ hai vào năm 2014.
VŨ HẢO
Tháng Tám năm 1945 đã trở thành mốc son chói lọi, vẻ vang trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Cách mạng tháng Tám thành công đã phá tan xiềng xích của thực dân, phát xít, lật đổ chế độ phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước của dân, do dân và vì dân.