Nghề vẽ tranh trên kiếng ở Phú Tân (H.Châu Thành, Sóc Trăng) từng một thời nổi tiếng khắp Nam bộ nhưng giờ đây phải đối mặt với nguy cơ mai một.
Nghề vẽ tranh trên kiếng ở Phú Tân đang có nguy cơ thất truyền - Ảnh Thành Đạt
Đìu hiu làng nghề
|
Khoảng hơn 15 năm trước, đến Phú Tân dễ dàng bắt gặp hình ảnh những bức tranh vẽ trên kiếng được bà con phơi đầy trước cửa nhà. Nhưng giờ đây hình ảnh ấy đã không còn, thay vào đó chỉ lác đác vài bức tranh thưa thớt của một số hộ gia đình đang cố gắng giữ nghề. Cô Mã Thị Dương (ngụ ấp Phước Thuận, người có hơn 30 năm theo nghề vẽ tranh trên kiếng) cho biết: “Hồi xưa, tranh kiếng bán đắt lắm. Một ngày vợ chồng tôi vẽ hơn 10 bức tranh mà vẫn không đủ giao cho khách trong và ngoài tỉnh. Tranh bán với giá từ 40.000 - 100.000 đồng/bức nên nhiều gia đình đã có cuộc sống ổn định từ vẽ tranh trên kiếng”.
Hơn 50 năm hình thành và phát triển, làng nghề vẽ tranh trên kiếng của xã Phú Tân nổi tiếng khắp Nam bộ. Những sản phẩm làm ra không chỉ được bán tại địa phương mà còn được khách hàng nhiều tỉnh, thành khác ưa chuộng, nhất là TP.HCM. Theo nhiều nghệ nhân, để hoàn thành một bức tranh trên kiếng phải trải qua nhiều công đoạn, đòi hỏi người vẽ phải khéo léo, có tay nghề cao và mắt thẩm mỹ trong phối màu, nét bút thật sắc sảo thì tranh mới có hồn. Đề tài vẽ tranh cũng khá phong phú, nhưng chủ đề được các nghệ nhân vẽ nhiều nhất là câu chuyện kể về cuộc đời của đức Phật Thích Ca, phong cảnh chùa hay những địa danh nổi tiếng… Cô Dương nói: “Trước đây, hơn 150 hộ tại ấp này ai cũng biết vẽ tranh trên kiếng để tiếp nối nghề truyền thống. Nhưng ngày nay, chỉ còn vài hộ vẽ. Rất nhiều chị em tay nghề cao cũng phải bỏ đi làm việc khác, còn mấy đứa trẻ thì không chịu học vẽ nên chắc chắn không bao lâu nghề này sẽ không còn người kế thừa”.
Cần có giải pháp bảo tồn
Trước đây, vào thời hưng thịnh, mỗi tháng, một nghệ nhân ở Phú Tân có thể bán được hơn 100 bức tranh. Nhưng ngày nay, một tháng người vẽ cũng chỉ bán khoảng chục bức. Chính vì nhu cầu của xã hội ngày một giảm, người vẽ tranh không có thu nhập ổn định nên họ bỏ nghề chuyển sang làm những công việc khác có thu nhập cao hơn. Cô Sơn Thị Ươl (ngụ ấp Phước Thuận, gắn bó gần cả cuộc đời với nghề vẽ tranh trên kiếng) cho biết: “Hồi đó, nguyên cả xóm ai cũng biết vẽ tranh. Còn gia đình tôi thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau để giữ nghề nhưng giờ chỉ có mình tôi. 3 đứa con tôi không ai chịu học vẽ vì nó nói cái nghề này học đã khó, mà vẽ xong bán cũng chẳng ai mua. Nếu tiếp tục gắn bó không giúp được cho kinh tế gia đình nên đi làm việc trong công ty kiếm tiền lo cuộc sống tốt hơn. Vì vậy, nghề này về lâu dài chắc chẳng còn ai biết đến…”.
Trên thị trường hiện nay tranh kiếng đang dần vắng bóng. Vì vậy, tại làng nghề vẽ tranh trên kiếng Phú Tân chỉ còn những người lớn tuổi như cô Dương, cô Ươl. Họ bám lấy nghề không phải vì tiền mà để giữ gìn nghề truyền thống của ông bà. Trong khi đó, lớp trẻ tại đây không ai chịu học nghề là lý do chính khiến nghề vẽ tranh trên kiếng đang mai một dần theo thời gian.
Từ một làng nghề nổi tiếng khi nhà nhà, người người cùng vẽ tranh mà giờ đây chỉ còn khoảng 10 hộ tâm huyết giữ gìn cho thấy làng truyền thống này đang dần mai một nếu không có giải pháp bảo tồn kịp thời. Ông Trương Đắt Pháp, Phó chủ tịch UBND xã Phú Tân, cho biết: “Vẽ tranh trên kiếng là nghề truyền thống, mang đậm nét văn hóa của đồng bào Khmer nên cần phải duy trì và phát triển. Hiện nay, xã đang đề nghị với huyện đầu tư phát triển điểm du lịch Giếng Tiên tại xã Phú Tân. Vì khi du lịch phát triển, khách đến tham quan nhiều sẽ tạo cơ hội cho ngành nghề truyền thống phát triển theo, trong đó có nghề vẽ tranh trên kiếng”.
Nguồn: Thành Đạt - TN
Thư Sông Hương Vậy là năm đầu của thế kỷ XXI, của thiên niên kỷ III Công lịch đã qua. Mới ngày nào đó, khắp hành tinh này còn rộ lên niềm hoang mang và hoang tưởng về một ngày tận thế ở năm 2000 bởi sự “cứu rỗi” của Thiên Chúa hoặc bởi sự “mù loà” của máy tính. Mới một năm thôi mà thế giới loài người đã qua biết bao bất trắc, xung đột, khủng bố... và máu và nước mắt! May mà đất nước chúng ta vẫn được bình yên, ổn định, phát triển theo Đường lối Đại hội IX của Đảng. May mà dân ta vẫn còn nhu cầu Văn hoá tâm linh. Văn hoá tâm linh cũng là thuộc tính của văn học nghệ thuật. Các tờ báo văn nghệ tồn tại được chính nhờ nhu cầu đó. Qua một năm nhìn lại, Tạp chí Sông Hương chúng tôi ngày một được bạn đọc tin cậy hơn, cộng tác càng nhiều hơn, thật là điều vinh hạnh. Song, ngược lại, chúng tôi cũng lấy làm áy náy vì bài vở thì nhiều mà trang báo lại có hạn, không thể đăng tải hết được, nhất là số Tết này. Ở đây, nó mang một nghịch lý chua chát, bi hài như một nhà viết kịch đã nói: “Số ghế bao giờ cũng ít hơn số người muốn ngồi vào ghế”. Ngoài sự bất cập ấy, hẳn còn có những điều khiếm nhã khác mà chúng tôi không biết làm gì hơn ngoài lời xin lỗi, lời cảm ơn và mong được thể tất. Chúng tôi xin cố gắng chăm lo tờ Sông Hương luôn giữ được sắc thái riêng, có chất lượng để khỏi phụ lòng các bạn. Dù thế giới có biến đổi thế nào đi nữa thì Sông Hương vẫn mãi mãi muốn được thuỷ chung với bạn đọc, bạn viết của mình. Nhân dịp tết Nhâm Ngọ, Sông Hương trân trọng chúc Tết các bạn sang năm mới thêm dồi dào sức khoẻ, thành đạt và hạnh phúc. S.H
Các bạn đang cầm trên tay số kỷ niệm 25 năm thành lập Tạp chí Sông Hương. Mới ngày nào đó, một ngày hè tháng 6 năm 1983, trong niềm khao khát của không khí đổi mới trong văn học nghệ thuật, Tạp chí Sông Hương số 01 ra mắt và đón nhận sự hưởng ứng của công chúng. Đó là một sự khởi đầu được mong đợi từ hai phía: người viết và bạn đọc.
Gần đây đọc các bài của Trần Mạnh Hảo và Nguyễn Hùng Vĩ bàn về ba bài thơ Thu của Nguyễn Khuyến trên Văn nghệ (1), tôi thấy câu "Nước biếc trông như tầng khói phủ" trong bài Thu vịnh là câu thơ sáng rõ, không có gì khó hiểu mà lại được bàn nhiều. Mỗi người hiểu mỗi cách mà đều hiểu không đúng, chỉ vì không để ý rằng câu thơ này được viết theo lối "đảo trang".
(Nhân đọc: "Truyện Mã Phụng - Xuân Hương") * Truyện "Mã Phụng - Xuân Hương" trước đây còn được quen gọi dưới nhiều tên khác nhau, lúc là Vè Bà Phó, Vè Mã Phụng - Mã Long, khi là Thơ Mụ Đội, khi lại là Truyện Mã Ô - Mã Phụng v.v... là một tác phẩm văn học dân gian vốn được nhân dân Bình - Trị - Thiên rất yêu thích, phạm vi phổ biến trước Cách mạng Tháng Tám 1945 khá rộng.
Trên Tạp chí Sông Hương số tháng 3, nhân sự kiện Trần Hạ Tháp dành được giải A trong cuộc thi truyện ngắn của báo “Văn nghệ”, tôi vừa lên tiếng về sự “lặng lẽ” - một điều kiện cần thiết để làm nên tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị, nay lại nói điều ngược lại, vậy có “bất nhất” có mâu thuẫn không?
Trên thực tế, việc bảo tồn những vốn quý của cha ông để lại quả không phải là việc đơn giản, dễ dàng. Nhưng chúng ta sẽ không thể có sự chọn lựa nào khác bởi vì sẽ không có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nào cả nếu từ bây giờ chúng ta không biết giữ lấy những gì mình đang có.
Mang tên dòng sông duyên dáng thả mình bên thành phố Huế - SÔNG HƯƠNG, những trang tạp chí này là dòng chảy của những cảm xúc tươi đẹp trên “khúc ruột miền Trung” đất nước.
Từ xa xưa đến bây giờ, thường tục vẫn nói "sông có khúc người có lúc". Không biết Sông Hương bản báo năm rồi (năm tuổi 15) là sông hay là người? Có lẽ cả hai. Vậy nên cái khúc và cái lúc của nó đã chồng lên nhau - chồng lên nhau những khó khăn và tai tiếng!