Nghề vẽ tranh trên kiếng trước nguy cơ mai một

15:59 30/10/2014

Nghề vẽ tranh trên kiếng ở Phú Tân (H.Châu Thành, Sóc Trăng) từng một thời nổi tiếng khắp Nam bộ nhưng giờ đây phải đối mặt với nguy cơ mai một.

Nghề vẽ tranh trên kiếng ở Phú Tân đang có nguy cơ thất truyền - Ảnh Thành Đạt

Đìu hiu làng nghề

 
 

“3 đứa con tôi không ai chịu học vẽ vì nó nói cái nghề này học đã khó, mà vẽ xong bán cũng chẳng ai mua. Nếu tiếp tục gắn bó không giúp được cho kinh tế gia đình nên đi làm việc trong công ty kiếm tiền lo cuộc sống tốt hơn”

Cô Sơn Thị Ươl

 

Khoảng hơn 15 năm trước, đến Phú Tân dễ dàng bắt gặp hình ảnh những bức tranh vẽ trên kiếng được bà con phơi đầy trước cửa nhà. Nhưng giờ đây hình ảnh ấy đã không còn, thay vào đó chỉ lác đác vài bức tranh thưa thớt của một số hộ gia đình đang cố gắng giữ nghề. Cô Mã Thị Dương (ngụ ấp Phước Thuận, người có hơn 30 năm theo nghề vẽ tranh trên kiếng) cho biết: “Hồi xưa, tranh kiếng bán đắt lắm. Một ngày vợ chồng tôi vẽ hơn 10 bức tranh mà vẫn không đủ giao cho khách trong và ngoài tỉnh. Tranh bán với giá từ 40.000 - 100.000 đồng/bức nên nhiều gia đình đã có cuộc sống ổn định từ vẽ tranh trên kiếng”.

Hơn 50 năm hình thành và phát triển, làng nghề vẽ tranh trên kiếng của xã Phú Tân nổi tiếng khắp Nam bộ. Những sản phẩm làm ra không chỉ được bán tại địa phương mà còn được khách hàng nhiều tỉnh, thành khác ưa chuộng, nhất là TP.HCM. Theo nhiều nghệ nhân, để hoàn thành một bức tranh trên kiếng phải trải qua nhiều công đoạn, đòi hỏi người vẽ phải khéo léo, có tay nghề cao và mắt thẩm mỹ trong phối màu, nét bút thật sắc sảo thì tranh mới có hồn. Đề tài vẽ tranh cũng khá phong phú, nhưng chủ đề được các nghệ nhân vẽ nhiều nhất là câu chuyện kể về cuộc đời của đức Phật Thích Ca, phong cảnh chùa hay những địa danh nổi tiếng… Cô Dương nói: “Trước đây, hơn 150 hộ tại ấp này ai cũng biết vẽ tranh trên kiếng để tiếp nối nghề truyền thống. Nhưng ngày nay, chỉ còn vài hộ vẽ. Rất nhiều chị em tay nghề cao cũng phải bỏ đi làm việc khác, còn mấy đứa trẻ thì không chịu học vẽ nên chắc chắn không bao lâu nghề này sẽ không còn người kế thừa”.

Cần có giải pháp bảo tồn

Trước đây, vào thời hưng thịnh, mỗi tháng, một nghệ nhân ở Phú Tân có thể bán được hơn 100 bức tranh. Nhưng ngày nay, một tháng người vẽ cũng chỉ bán khoảng chục bức. Chính vì nhu cầu của xã hội ngày một giảm, người vẽ tranh không có thu nhập ổn định nên họ bỏ nghề chuyển sang làm những công việc khác có thu nhập cao hơn. Cô Sơn Thị Ươl (ngụ ấp Phước Thuận, gắn bó gần cả cuộc đời với nghề vẽ tranh trên kiếng) cho biết: “Hồi đó, nguyên cả xóm ai cũng biết vẽ tranh. Còn gia đình tôi thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau để giữ nghề nhưng giờ chỉ có mình tôi. 3 đứa con tôi không ai chịu học vẽ vì nó nói cái nghề này học đã khó, mà vẽ xong bán cũng chẳng ai mua. Nếu tiếp tục gắn bó không giúp được cho kinh tế gia đình nên đi làm việc trong công ty kiếm tiền lo cuộc sống tốt hơn. Vì vậy, nghề này về lâu dài chắc chẳng còn ai biết đến…”.

Trên thị trường hiện nay tranh kiếng đang dần vắng bóng. Vì vậy, tại làng nghề vẽ tranh trên kiếng Phú Tân chỉ còn những người lớn tuổi như cô Dương, cô Ươl. Họ bám lấy nghề không phải vì tiền mà để giữ gìn nghề truyền thống của ông bà. Trong khi đó, lớp trẻ tại đây không ai chịu học nghề là lý do chính khiến nghề vẽ tranh trên kiếng đang mai một dần theo thời gian.

Từ một làng nghề nổi tiếng khi nhà nhà, người người cùng vẽ tranh mà giờ đây chỉ còn khoảng 10 hộ tâm huyết giữ gìn cho thấy làng truyền thống này đang dần mai một nếu không có giải pháp bảo tồn kịp thời. Ông Trương Đắt Pháp, Phó chủ tịch UBND xã Phú Tân, cho biết: “Vẽ tranh trên kiếng là nghề truyền thống, mang đậm nét văn hóa của đồng bào Khmer nên cần phải duy trì và phát triển. Hiện nay, xã đang đề nghị với huyện đầu tư phát triển điểm du lịch Giếng Tiên tại xã Phú Tân. Vì khi du lịch phát triển, khách đến tham quan nhiều sẽ tạo cơ hội cho ngành nghề truyền thống phát triển theo, trong đó có nghề vẽ tranh trên kiếng”.

Nguồn: Thành Đạt - TN

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.

  • Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.

  • Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.

  • “Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.

  • Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.

  • I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.

  • Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.

  • Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.

  • Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.

  • Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.

  • Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.

  • Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.

  • (Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)

  • Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.

  • Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.

  • Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.

  • Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

  • Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.