Ngày Quốc khánh, nghĩ về trách nhiệm của ngành văn hóa

14:46 03/09/2014

Dân tộc và Văn hóa dân tộc Việt Nam có trước rất xa ngày lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nhà nước này đã được dựng nên, tồn tại và phát triển trên nền tảng văn hóa Dân tộc. Nhà nước này, như một lẽ tất yếu, có trách nhiệm bảo vệ, phát triển nền văn hóa dân tộc.

Ảnh: internet

Bảo vệ văn hóa dân tộc là bảo vệ các giá trị, truyền thống, bản sắc của nền văn hóa dân tộc trước mọi sự xâm lăng, tàn phá từ bên ngoài vào và từ chính sự thoái hoá của nền văn hóa và chủ nhân của nó.

Phát triển văn hóa dân tộc là làm phong phú hơn diện mạo, cấu trúc nền văn hóa, nâng cao tầm hệ giá trị truyền thống, kiến tạo những giá trị mới phù hợp với xu thế phát triển của văn hóa nhân loại.

Văn hóa có quy luật tồn tại và phát triển riêng, có tính độc lập tương đổi với so với kinh tế - chính trị. Thay thế một nhà nước, thay đổi một cơ chế quản lý kinh tế - xã hội có thể thông qua một cuộc cách mạng với thời gian có thể tính bằng tháng, bằng năm. Để thay đổi diện mạo, kiến tạo một hệ giá trị mới phải có ít nhất hàng chục, hàng trăm năm, thậm chí nhiều trăm năm. Sự sụp đổ của một nhà nước, thậm chí một nền kinh tế có thể cứu vãn bằng tiền, bằng các học - lý thuyết khác nhau, của bất cứ ai, nhưng sự sụp đổ của một nền văn hóa, một hệ giá trị chỉ có thể cứu vãn bằng chính trầm tích văn hóa của dân tộc đó, bằng chính sự sáng tạo của chủ nhân của nền văn hóa đó. Trong một tuần, một tháng, một năm, một vài năm có thể cứu vãn sự sụp đổ của một nhà nước, một nền kinh tế nhưng vài chục năm, một trăm năm chưa chắc đã cứu vãn, khôi phục được một hệ giá trị của một nền văn hóa và khả năng sáng tạo của một cộng đồng dân tộc.

Sáu mươi chín năm đã qua là thời gian nền văn hóa dân tộc Việt Nam liên tục phải vận động với nhiều  khúc quanh biến động về quan niệm giá trị bởi nhiều sự tác động của chính trị - kinh tế - xã hội, trong đó có nhiều yếu tố từ bên ngoài lãnh thổ mang vào.

Hiện nay, đường lối xây dựng nền văn hóa dân tộc theo định hướng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng Cộng Sản Việt Nam là đúng đắn, phù hợp với xu thế vận động của thời đại, của nhân loại. Thế nhưng, trong thực tiễn, đời sống văn hóa của đất nước đang có những biểu hiện rất đáng lo ngại trên tất cả các lĩnh vực từ văn học đến nghệ thuật, đạo đức đến lối sống, phong tục – tập quán đến tín ngưỡng – tôn giáo… Quan niệm về giá trị của cộng đồng, mà đi đầu là ‘một bộ phận không nhỏ” cán bộ của Đảng và Nhà nước, đã thay đổi đến mức thoái hóa, biến thái, đi ngược lại truyền thống dân tộc. Đồng tiền lên ngôi thay cho nhân phẩm và năng lực sáng tạo. Trong thực tiễn hoạt động văn hóa thì chuộng phô diễn hình thức hơn đáp ứng nhu cầu văn hóa, đề cao thành tích ảo hơn giá trị đích thực, trọng dự án xây dựng hơn tác phẩm văn học nghệ thuật, ưa giả dối hơn sự chân thành…

Tất cả những quan niệm và lối hành xử đó đã nhấn nhìm khát vọng và  năng lực sáng tạo của các chủ thế văn hóa đích thực, làm cho nền văn hóa dân tộc chưa thể vượt thoát được những trở ngại để bảo vệ những giá trị truyền thống của dân tộc, chủ động, tự tin hòa nhập với thế giới, với thời đại, để xác lập những giá trị mới phù hợp với xu thế chung của nhân loại. Nếu không khắc phục được tình trạng này, sự đỗ vỡ về văn hóa của dân tộc Việt Nam là điều có thể xảy ra trong tương lai không xa.

Lỗi đó thuộc về nhiều người. Trong đó trách nhiệm của ngành văn hóa, của mỗi người đứng trong hàng ngũ ngành văn hóa, trước hết là các nhà lãnh đạo.

Phải làm gì, làm như thế nào?

Câu hỏi đó đang dành cho chúng ta, và, cũng trước hết, là các nhà lãnh đạo.

Nguồn: Vĩnh Khánh - VHNA

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.

  • Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.

  • Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.

  • “Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.

  • Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.

  • I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.

  • Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.

  • Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.

  • Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.

  • Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.

  • Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.

  • Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.

  • (Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)

  • Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.

  • Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.

  • Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.

  • Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

  • Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.