Ngất ngưởng

16:44 22/01/2020

PHẠM THỊ CÚC  

Chú tên là Đô, người làng Thanh Thủy, nhưng không phải làng Thanh Thủy Chánh có Cầu Ngói, mà là Thanh Thủy Thượng, bây giờ gọi là Thủy Dương, cùng quê với nhà thơ Phùng Quán. Chú không phải là nhà thơ nên ngất ngưỡng kiểu khác, đặc biệt hơn.

Ảnh: internet

Tôi biết chú dưới một biệt danh là “quyển từ điển sống về tiếng Pháp”, mà cái biệt danh đó quả là không ngoa chút nào đối với chú. Bất kỳ lúc nào, ở đâu, bất kỳ chữ gì, hễ có ai hỏi tới là chú “tuôn” ra như một cái băng ghi âm. Ví dụ tôi hỏi chú chữ consommation (danh từ) có nghĩa là gì, chú giải thích, đưa ra rất nhiều nghĩa tiếng Việt, rồi sau đó đưa ra các chữ: consommable (tính từ), consommateur (người tiêu dùng...), consommé (tính từ), consommer (động từ: tiêu phí, tiêu dùng, tiêu hao, lãng phí...), consomtible (tính từ). Tóm lại, khi hỏi chú một từ nào đó, là động từ chẳng hạn, thì phải chuẩn bị giấy bút để ghi những từ “cùng họ”, mà không phải chỉ có một, mà có hai, ba, có từ còn có cả bốn, năm từ cùng họ. Nên học với chú một chữ không chỉ là một chữ mà phải biết từ hai chữ trở lên.

Chú Đô thật đúng là một quyển từ điển sống. Lúc nào có ai hỏi chú, chú đều vui vẻ nhiệt tình trả lời đầy đủ. Tôi chưa bao giờ thấy chú thiếu nhiệt tình hay cáu gắt gì.

Có người sẽ hỏi chú giỏi như vậy nhưng sao chú chỉ là một thầy giáo cấp hai của trường làng. Là thầy giáo cấp hai, vậy mà có khi còn suýt bị cho “về vườn” khi chú chỉ mới ngoài bốn mươi tuổi! Chung quy cũng chỉ vì cái tính hâm hâm, gàn gàn, “coi trời bằng vung” của chú.

Coi trời bằng vung ở đây không phải là chú tự cao, tự đại, tự cho mình giỏi... Không, chú không hề mảy may có một chút gì như vậy. Nhiều lúc tôi còn nghĩ, chắc chú giả đò hâm hâm, gàn gàn... để giải tỏa những căng thẳng chất chứa trong đầu mà không nói ra được...

Đầu những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi, trước khi Mỹ bắt đầu đưa quân sang Việt Nam, thành phố Huế là một thành phố nên thơ với những con đường như Lê Lợi, Đoàn Thị Điểm... (đường “Phượng bay”), tô điểm cho thành phố thêm đẹp đẽ, thơ mộng. Những buổi sáng, trước giờ vào lớp và những buổi chiều tan trường, những cô nữ sinh Đồng Khánh với những tà áo trắng tung bay trong gió. Những cậu nam sinh Quốc Học mặc áo sơ mi trắng, quần xanh cứ đạp xe kè kè bên các cô nữ sinh, các cậu vừa đi vừa (độc thoại) tán gẫu, cưa kéo... Các cô thì vừa đạp xe vừa cúi mặt, vì e thẹn thì ít mà vì bực mình, bất bình thì nhiều.

Nhiều lần, các nữ sinh Đồng Khánh vì bị các nam sinh Quốc Học đạp xe “chèn ép” các cô vào lề nên nhiều lúc bị ngã, gây tai nạn, nên sau này trường Đồng Khánh “rút kinh nghiệm”, bao giờ cũng bãi học trước Quốc Học 15 phút để tránh bị “chèn ép”.

Khi quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam, thành phố Huế với những “bức tranh”: phía trước một xe camion chở đầy lính Mỹ với mũ sắt, súng ống đạn dược... đầy thùng xe, đứa đứng đứa ngồi, chỉ trỏ, la hét vào sau xe, trước mặt các cô nữ sinh Đồng Khánh tha thướt áo dài trắng, cứ từng tốp 2, 3 xe song song trên đường. Trên xe, những tên lính Mỹ xí lô, xí la, những tràng cười khả ố, kèm theo những ngón tay chỉ vào mặt các cô. Chúng ngáng đường các cô như vậy có lúc cả hàng chục phút, cười nói, chọc ghẹo cho thỏa thích.

Những cảnh tượng như vậy xảy ra hàng ngày trên đường phố, làm nhiều người dân bức xúc, nhưng cũng phải làm ngơ.

Trong số đó, chú Đô là người bức xúc nhất. Những lúc như vậy, chú đành cố nén để... về đến nhà.

Vừa đến nhà, chú nhảy ngay xuống đường (đầu đường Bà Triệu, cạnh siêu thị Big C bây giờ), xăn hai tay áo lên, chú bắt đầu chửi, vừa đi tới đi lui vừa chửi. Chú chửi Mỹ, chửi quân đội Sài Gòn, chửi tất tần tật... Chú không sợ bị bắt ư? Không hiểu! Nhiều lần chú chửi nhưng cũng chẳng thấy ai nói gì (may mà không có công an, cảnh sát ở đó).

Nhà ở đầu đường Bà Triệu đó là của ba mẹ Thu, bạn thân của tôi. Chúng tôi thân nhau từ lúc cùng vào lớp đệ thất trường Đồng Khánh (niên khóa 1962 - 1963). Ba mẹ Thu rất thương tôi. Thu có nhiều bạn, nhưng sau đó các bạn gái (trong xóm) của Thu cũng học Đồng Khánh không lo học, ham yêu đương, nên ba Thu cấm không cho Thu chơi với các bạn đó nữa, mà cuối cùng hai cụ chỉ “tín nhiệm” một mình tôi: ba Thu quản lý Thu rất chặt. Ông có một thời khóa biểu ở trường của lớp chúng tôi, giờ nào, tiết thứ mấy, có những giờ môn gì, ngày nào nghỉ tiết đầu, tiết cuối..., ông đều nhớ rất kỹ.

Có một lần, buổi sáng, hết tiết cuối, chúng tôi 5, 6 đứa rủ nhau về Cồn Hến ăn chè bắp, gần 12 giờ trưa Thu mới bước vào nhà. Mặt hầm hầm, ba Thu hỏi: “Ngày ni nghỉ hai tiết cuối, mi đi mô mà chừ mới về?” “Con đi ăn chè bắp ở Cồn Hến”. “Mi đi với ai?” (May quá, Thu biết thế nào vào nhà cũng bị ba “tra hỏi” nên đã dặn tôi “Cúc đứng ngoài ni, khoan về...”). Nghe nhắc tên, tôi chạy vào, “Thưa bác, tụi con đi với nhau...”. “Ừ, tưởng đi với ai chứ đi với con Cúc thì được...”.

Thu có một ông cậu họ (là em con cậu của mẹ Thu), cậu ấy hơn tôi mấy tuổi, học trên tôi mấy lớp (ở Nha Trang), nghe Thu nói: cậu ấy cao to, trắng trẻo, đẹp trai...

Ba mẹ Thu “tín nhiệm” tôi đến nỗi hai cụ bàn với nhau “Hay mình nói cậu Tr. (bố của cậu họ Thu) đi hỏi con Cúc cho con trai cậu ấy”. Thu đem chuyện đó nói với tôi, tôi tức cười quá chừng. “Tao mới học đệ lục mà, mi nói chi lạ rứa...”. Thế mà, hồi đó, khi tôi đang học đệ thất, cũng có một cô bạn cùng lớp (17 tuổi) đã lấy chồng.

Nhà ba mẹ Thu cũng giàu có, nên thuê chú Đô làm précespteur (gia sư) về tiếng Pháp cho Thu.

Thấy tôi con nhà nghèo ham học, lại là bạn thân của Thu, chú nói “Cúc ham học rứa, để chú dạy thêm cho, không lấy tiền...”.

Chính những lần chú “xuống đường chửi Mỹ” như vậy làm cho ba mẹ Thu sợ “thót tim”. Có lúc mẹ Thu bàn: hay là đừng “nuôi” chú nữa. Nhưng không thuê, thì chú ở đâu? Tuy chú giỏi, nhưng tính tình chú như vậy, nhiều nhà ngại không dám thuê.

Thật ra chú không phải là người thất nghiệp. Chú là giáo viên dạy tiếng Pháp trường cấp hai An Lương Đông (có thời chú làm hiệu trưởng). Với trình độ của chú, chú đủ sức để dạy ở khoa ngoại ngữ của một trường Đại học, nhưng tính tình chú như vậy, biết làm sao được. Mức lương hiệu trưởng trường cấp hai thời trước 1975 của chú không phải nhiều, nhưng cũng không phải là ít. Tiền ăn, tiêu đã có ba mẹ Thu lo, tiền lương chú dành tất cả để làm từ thiện. Chú rất thương người. Những đứa học trò trong xóm chú ở phần lớn là nghèo: mẹ bán hàng rong: bún, cháo, cơm hến, ba đạp xích lô, khuân vác ở bến xe, bến tàu..., đã nghèo lại đẻ nhiều, càng nghèo càng đẻ, càng đẻ càng nghèo... Chú dành tiền chu cấp cho những đứa con (được đi học) của những nhà đó. Có nhà 9, 10 đứa con nhưng chỉ được đi học một, hai đứa. Cứ mỗi lần nghe nói đứa này, đứa kia sắp bỏ học là chú lại cho tiền, mà tiền lương của chú thì có hạn, trong lúc trẻ con nghèo trong xóm thất học, bỏ học thì quá nhiều.

Lo cho mọi người, còn bản thân chú, chú chẳng lo. Chú người to, cao (khoảng 1,75m), trán cao, mũi cao, thẳng, da trắng, nhìn vẻ mặt ngoài toát lên sự thông minh, sáng láng. Khuôn mặt nhìn thoáng qua như có nét lai Tây. Thế mà chú lại ế vợ.

Khi chú đã ngoài tám mươi tuổi, chú không vợ, không con, không người thân thích, không nhà cửa, không của cải bạc tiền..., chú đúng nghĩa đen là một người “vô sản”. Thấy chú phải lang thang ở nhờ, nay đây, mai đó, không vợ không con, có lần tôi hỏi:

- Răng hồi trẻ chú không lấy vợ?

- Hồi đó cũng có cô này cô khác yêu, chứ; lại trẻ đẹp, nhưng chú không yêu họ, lại đi yêu một cô mà cô đó không yêu chú, lần lữa mãi, chú già nên lỡ dịp...

Sau năm 1975, tôi và Thu hỏi thăm mãi mới tìm ra một nhà ở đầu đường Bà Triệu (là nhà cho chú ở nhờ). Tôi và Thu vào nhà, chú đi vắng, chủ nhà chỉ vào một cái giường đơn, gọi là “giường” nhưng chỉ là bốn cái chân bằng sắt trên lót một tấm ván ép (đã cũ sắp mục) ở giữa tấm ván, gần cuối gường thủng một lỗ to, tròn, đường kính khoảng hơn hai tấc, do bị cháy đen, chung quanh còn một vành than đen; không chiếu, không gối. Ông chủ nhà nói: “Đó là cái giường của ông Đô”.

Chúng tôi ngồi nói chuyện với ông chủ nhà khoảng hai mươi phút, vừa đợi chú Đô về.

- Anh có biết chú Đô đi đâu không?

- Ông hay đi vắng, chắc là loanh quanh đâu đó.

- Chú Đô ở đây, thế quần áo tư trang... chú để đâu?

- Chủ nhà lôi ra một cái cặp nhỏ (chắc cái cặp hồi trước chú đựng sách vở đi dạy học), nói: Chỉ có mấy bộ áo quần cũ rách để trong này...

- Chú không có gì nữa à?

- Hoàn toàn không, cái cặp là “gia tài” của ông Đô đó.

- Thế chú Đô ngủ ở đây, còn ăn ở đâu?

- Ông ăn cơm bụi, mỗi bữa hai ngàn...

- Ngồi một hồi, không thấy chú về, chúng tôi chào chủ nhà ra về.

Mấy bữa sau, sau hai tiết dạy giữa giờ, tôi lại xuống xóm Bà Triệu tìm chú.

- Ông Đô có dạy kèm cho một thằng cu ở xóm nhà bên kia.

Ông chủ nhà vừa nói, tay vừa chỉ qua xóm nhà phía sau góc đường Hùng Vương và Nguyễn Huệ. Tôi vào xóm, đi lên, đi xuống, đi qua, đi về một hồi cũng tìm ra được cái nhà chú ở nhờ.

Tôi vào, thấy chú nằm giữa nền xi măng, đắp cái chiếu.

Thầy tôi chú vùng dậy:

- Răng mà Cúc biết chú ở đây?

Hỏi chuyện chú một hồi mới biết ra: nhà này thật ra cho chú... nằm nhờ, chứ cũng không phải cho ở nhờ nữa, vì chú không được nấu ăn, uống, ngay cả tắm giặt cũng không được, vì xem ra nhà cũng nghèo lắm (có khi không có cả vòi nước máy cũng nên).

Lần khác tôi lại đến thăm chú ở nhà đường Bà Triệu. Ngồi trên tấm ván cháy, tôi lại hỏi thăm chuyện ăn, ở của chú.

- Thế ban đêm chú ngủ đây à?

Tôi vừa nói vừa chỉ xuống tấm ván bị cháy thủng (tôi đã nói ở trên).

- Chú không ngủ ở đây.

- Nhà bên kia không cho ngủ, chú không ngủ ở đây thì ngủ ở mô?

- À... à... ờ...

Chú nói vài câu tiếng Việt với tôi, sau đó chuyển qua nói tiếng Pháp, vì sợ ông chủ nhà đang ngồi bán đồ điện phía ngoài nghe được, tuy cũng không phải nói xấu ông ta. Chú tuy quá nghèo nhưng vẫn có sự sĩ diện của một anh trí thức, chú không muốn tôi biết chú ăn ở quá khổ sở như vậy.

Tôi về suy nghĩ mãi: một người mà vốn kiến thức tiếng Pháp sâu rộng như vậy, mà chẳng biết dùng khối kiến thức đó để làm gì. Tôi sực nhớ, có lần anh Nguyễn Khắc Phê nói là chuẩn bị dịch nhiều tác phẩm bằng tiếng Pháp của ông Nguyễn Khắc Viện ra tiếng Việt, tôi mừng quá liền hỏi ngay anh Phê: anh cho biết là đã thuê người, và chuyện dịch ra tiếng Việt cũng nhiều thủ tục rầy ra lắm, rứa là đành chịu.

Tôi đem chuyện chú Đô nói với anh Đ (trước khi nghỉ hưu anh Đ là chủ nhiệm khoa Sinh trường ĐHSP Huế. Anh Đ. nói:

- Tôi biết ông Đô, trước khi đi Pháp năm 1997, tôi cũng có nhờ ông Đô dạy thêm tiếng Pháp.

Thu và tôi thỉnh thoảng giúp chú vài trăm ngàn, chẳng thấm tháp vào đâu.

Có lần tôi trình bày hoàn cảnh của chú với chị bạn chuyên làm từ thiện, giúp người nghèo. Chị gửi cho chú một trăm đô, tôi nói với chú:

- Chú cất đi, tiêu dần, chứ mỗi tháng trông vào ba, bốn chục ngàn tiền nhà nước cấp thì tiêu sao đủ.

Khi đã nghèo rớt mùng tơi như vậy mà chú vẫn còn lo cho người khác, vẫn không lo cho bản thân mình, mà lại còn lo cho người chết nữa chứ.

- Chú đã đưa năm trăm ngàn cho đứa cháu, để nó xây lăng cho ba nó.

Khi chưa được một trăm đô, có lần chú nói:

- Chừ chú muốn có khoảng ba trăm ngàn.

- Chú muốn có số tiền đó để làm gì?

- Để chú đi bán vé số, nhưng chú sẽ vô Sài Gòn, còn bán ở Huế, nhiều người quen chú ốôt dôộc lắm.

Khi đã có được một trăm đô, chú vào Sài Gòn bán vé số thật. Một thời gian, hết tiền chú lại trở ra Huế, lúc này chú đã tám mươi tuổi rồi.

Sau lần đi xa về, tôi nghe bạn tôi bảo:

- Chú Đô mới mất.

Hôm đó chồng Thu và tôi về Thủy Dương viếng chú, quan tài của chú đặt trong nhà một người bà con xa. Cạnh nhà là một căn chòi lợp tranh, là một “cái hộp” hình lập phương bằng tranh cả năm mặt, mỗi cạnh khoảng gần 2 mét.

Đó là căn nhà mà chú sở hữu lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng trong đời, nơi chú đã ở những ngày cuối đời, trước khi chú rời chốn trần gian này ra đi.

Huế, ngày 09 tháng 9 năm 2011
P.T.C  
(SHSDB35/12-2019)




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • NGUYỄN ĐÌNH CHI
                        Hồi ký

    KỶ NIỆM 102 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH 19-5-1890 _ 19-5-1992.

  • THÁI VŨ

    Nguyễn Phúc Đảm (sau này là vua Minh Mạng), sinh năm 1791 tại Gia Định, là con trai thứ 4 của Vua Gia Long, Nguyễn Phúc Ánh, nối ngôi vua năm 1820 lúc 30 tuổi.

     

  • TỪ HỒNG QUANG     

    Thông thường, khi vui người ta nghĩ đến những điều vui và kể lại cho bạn bè nghe. Nhưng ông cha ta có câu: “Không ai nắm chặt tay từ sáng đến tối”. Lại có câu: “Bảy mươi chưa hết què, chớ khoe mình lành”.

  • ĐÔNG HÀ   

    Tôi không biết từ đâu, tôi lại tha thiết yêu những câu hát đẹp như mơ được cất lên từ chị, có khi mưa ngoài trời là giọt nước mắt em đã nương theo vào đời làm từng nỗi ưu phiền

  • HÀ KHÁNH LINH

    Theo hẹn, tôi đến trước vài phút ngồi ở salon khách sạn Hương Giang - lơ đãng nhìn những người đi lại trong hành lang.

  • TRẦN NGỌC TRÁC

    Như duyên nợ, chúng tôi đã đồng hành cùng nhau qua series ký sự “Trịnh Công Sơn nhẹ gót lãng du”(1).

  • PHẠM XUÂN PHỤNG

    Vào đúng 9 giờ đêm 26 tháng 3 năm 1975, chúng tôi vui sướng đến nghẹn ngào nhận tin vui Huế đã được giải phóng qua sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam phát thanh từ Hà Nội. Tiếp đến là mệnh lệnh tất cả sẵn sàng hành quân về Huế. Không ai không mong chờ niềm vui ấy, nhưng những người lính quê Thừa Thiên, trong đó có tôi đều vui mừng vì sắp được trở lại quê nhà!

  • PHI TÂN

    1.
    Buổi chiều trên đường đi làm về thấy một chị phụ nữ bày bán những con heo đất bên vỉa hè màu xanh, đỏ, vàng, cam nhìn thật vui mắt.

  • PHẠM PHÚ PHONG

    Hồi ức làm ta muốn khóc...
                            (Vasiliev)

  • TRẦN VIẾT ĐIỀN

    Vua Minh Mạng có 78 hoàng tử, được giáo dưỡng đàng hoàng, hầu hết các hoàng tử có học hạnh, hoàng trưởng tử trở thành vua hiền Thiệu Trị, một số trở thành vương công nổi tiếng như Thọ Xuân vương, Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương…

  • NGUYỄN NHÃ TIÊN   

    Chưa bao giờ tôi được lội bộ đùa chơi với cỏ thỏa thích như bao lần khai hội Festival ở Huế. Đêm, giữa cái triều biển người nối đuôi nhau từ khắp các ngả đường hướng về khu Đại Nội, tôi và em mồ hôi nhễ nhại, hai đôi chân rã rời, đến nỗi em phải tháo giày cầm tay, bước đi xiêu lệch.

  • HÀ KHÁNH LINH   

    Bão chồng lên bão, lũ lụt nối tiếp lũ lụt. Miền Trung Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng chưa bao giờ phải hứng chịu thiên tai dồn dập khủng khiếp đến mức chỉ trong vòng trên dưới một tháng mà có đến sáu cơn bão mạnh với hai áp thấp nhiệt đới, đã cướp đi nhiều sinh mạng và xóa sạch tài sản của những con người suốt một đời chắt chiu dành dụm xây cất lên...

  • PHẠM XUÂN PHỤNG

    Một buổi chiều năm 1968, chúng tôi nhận lệnh tập trung tại một khu vườn thuộc làng (nay là phường) Kim Long.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌC

    Mười năm trước đây, một sự kiện văn hóa diễn ra tại Huế đã khiến nhiều người ngạc nhiên và tự hào: Huế từng có Nhà xuất bản Tinh Hoa xuất bản các ấn phẩm âm nhạc sớm nhất toàn cõi Đông Dương, sự kiện Gala Tinh Hoa - Sông Hương nhằm tôn vinh Nhà xuất bản Tinh Hoa. Sự kiện đó đã làm rung động nhiều trái tim yêu âm nhạc, nhất là những ai mê lịch sử Tân nhạc Việt Nam.

  • HÀ LÂM KỲ

           Hồi ký

  • NGUYỄN QUANG HÀ

    Tôi vốn là người lính. Sau Mậu Thân 1968, một số phóng viên báo Cờ Giải Phóng - Huế hy sinh, một số bị thương ra Bắc, tôi được thành đội trưởng Huế cử biệt phái sang làm phóng viên báo Cờ Giải Phóng, sau mấy năm thì trở thành phóng viên thật sự.

  • Kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế (18/9/1945 - 18/9/2020)

    DƯƠNG PHƯỚC THU

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ

    "Đồng Khánh - mái trường xưa" là tên tập đặc san được phát hành tại Huế nhân kỷ niệm 75 năm ngày thành lập trường Đồng Khánh vào đầu tháng ba này.

  • Kỷ niệm 75 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2020) và Quốc khánh (2/9/1945 - 2/9/2020)    

    DƯƠNG HOÀNG