ĐỖ XUÂN CẨM
Thành phố Huế khác hẳn một số thành phố trên dải đất miền Trung, không chỉ ở các lăng tẩm, đền đài, chùa chiền, thành quách… mà còn khác biệt ở màu xanh thiên nhiên hòa quyện vào các công trình một cách tinh tế.
Lắm du khách cho rằng Huế là một kiệt tác muôn màu, muôn vẻ, mà ở đó bàn tay con người đã biết vận dụng những gì thiên phú để biến Huế thành một thành phố xanh. Thực tế thì Huế xanh thật, thậm chí rất xanh khi so với một số thành phố công nghiệp. Trong mảng màu xanh ấy, còn có nét đặc thù cho Huế. Đó là cách phối trí cây, tính phong phú, đa dạng, tính lịch sử, tính đặc hữu…
Cho đến nay, chưa thấy một công trình khoa học nào tổng kết và đưa ra một kết luận thuyết phục nhằm nói lên tính đặc thù này. Có chăng chỉ là dư âm những con đường một thời mang tên cây và giờ đây đang đi dần vào dĩ vãng.
Một trong số những nét độc đáo của cây xanh xứ Huế là sở hữu loài cây Ngô đồng, loài cây có lịch sử bắt nguồn từ thời Minh Mạng, và cũng là loài cây đã hằn sâu dấu ấn cho biết bao người. Có thể nói rằng, Ngô đồng Huế là một loài cây di tích.
VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC
Tên gọi và vị trí phân loại
![]() |
Hiện nay, khi nói đến Ngô đồng, không phải mọi người Việt Nam, ai cũng chỉ nghĩ đến một loài cây cụ thể, mà thực ra mỗi người nghĩ một khác. Ngay cả trong các tài liệu khoa học thực vật xuất bản mấy chục năm trở lại đây cũng thể hiện sự thiếu đồng nhất về tên gọi này. Hiện tượng đồng quy tên gọi gây ra những hạn chế không nhỏ cho việc cảm nhận một loài cây lịch sử đáng trân quý. Vì thế, cây Ngô đồng ở Huế cũng đã một thời được nhìn nhận không chính xác. Vậy cây Ngô đồng hiện có ở Huế là loài cây gì? Theo nhiều tài liệu nghiên cứu về khu hệ thực vật Việt Nam thì ở núi rừng Việt Nam có nhiều loài thuộc họ Trôm (Sterculiaceae) có hình thái gần giống cây Ngô đồng ở Huế, khiến người ta dễ nhầm lẫn chúng. Đó là Ngô đồng (Firmiana simplex (L.) W.F. Wight.), Ngô đồng đỏ (Firmiana colorata (Roxb.) R.Br.) và Bài cành (Sterculia populifolia Roxb). Nếu không quan sát kỹ hình thái cây, đặc biệt là hình thái lá qua các thời kì sinh trưởng của cây và màu sắc hoa, cấu tạo quả hạt, thì chúng ta dễ nhầm lẫn từ loài này sang loài khác. Chẳng hạn như, nếu so sánh hình vẽ lá Ngô đồng trên Nhơn Đỉnh - 1835 với lá cây Ngô đồng trưởng thành hiện có ở Huế thì ai cũng nghĩ rằng đó là hai loài khác nhau. Và cũng vì thế, cụ Nguyễn Hữu Đính đã nêu ra giả thuyết “Hoặc nghệ nhân đã căn cứ vào hình vẽ trên một quyển sách xuất bản ở Trung Quốc, những sách Trung Quốc tôi có nghiên cứu đều chỉ có hình vẽ và mô tả loài platanifolia. Hoặc, cũng có thể trước đây ở Huế, đã có cả hai loại Ngô đồng, nhưng sau chỉ còn một” (Nguyễn Hữu Đính - Nghiên cứu Huế tập 1 - trang 205).
Thật ra, cây Ngô đồng ở Huế có cả hai kiểu lá, trong thời gian đầu của thời kì sinh trưởng, hầu hết lá trên cây đều có dạng 5 thùy, nhưng ở cây trưởng thành lá lại có ba thùy hoặc không phân thùy, cây càng già càng ít lá có thùy. Có thể, do quan sát trên cây non mà các nghệ nhân đã thể hiện trên Nhơn Đỉnh loại lá có thùy.
Theo tôi, cây Ngô đồng ở Huế thuộc chi Firmiana, chứ không phải chi Sterculia (các loài thuộc chi Sterculia có quả bì dày, hạt mau rụng, trong lúc đó các loài thuộc chi Firmiana có vỏ quả mỏng, hạt rụng đồng thời với vỏ quả). Như vậy, nó không thể là Sterculia populifolia (Bài cành, Trôm bài cành). Hai loài thuộc chi Firmiana mọc tự nhiên ở rừng Việt Nam là Ngô đồng - Firmiana simplex (L.) W.F.Wight. (Trước đây thường được gọi là Hibiscus simplex L., hoặc Sterculia platanifolia L.) và Ngô đồng đỏ (hay Bo rừng, Trôm màu) - Firmiana colorata Roxb.. Theo dẫn liệu khoa học đầy đủ thì loài Firmiana simplex phân bố tự nhiên ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam (từ Nghệ An trở ra) và các tỉnh miền Nam Trung Quốc, nhưng trong thực tế, chúng tôi đã gặp ở núi rừng huyện Dakrong, tỉnh Quảng Trị. Như vậy, điều cần xem xét tiếp theo là cây Ngô đồng ở Huế là loài nào trong hai loài thuộc chi Firmiana vừa nói. Các tài liệu đều thống nhất rằng, loài Firmiana simplex có hoa cái tập hợp thành chùm đầy lông, hoa vàng hay trắng vàng, rất ít tài liệu mô tả sắc màu của hoa đực. Trong khi đó đặc điểm có ý nghĩa quan trọng đối với việc tôn tạo cảnh quan là toàn bộ trục hoa tự đực và đài hoa đều được phủ đầy lông màu hồng tím. Do vậy khi hoa nở rộ, cả cây nhuộm một màu hồng tím gần giống hoa Anh đào, trông rất đẹp. Cây Ngô đồng ở Huế ra hoa đực rộ vào trung tuần tháng 2 âm lịch hàng năm. Ở những cây đã thành thục sinh học, hoa nở rộ sau khi cây đã rụng lá toàn phần, do vậy toàn cây chỉ có hoa. Ở những cây còn non trẻ, hoa ra có muộn hơn và lá rụng cũng chậm hơn, nên trên cây vừa có hoa vừa có lá. Hoa cái ra muộn hơn và thường xen lẫn với đợt lá mới. Qua đó theo tôi, cây Ngô đồng ở Huế chính là Firmiana simplex (L.) W.F.Wight.; hoặc chí ít cũng là một thứ (tiếng Latin là varietas, tiếng Anh là variety) của loài Ngô đồng - Firmiana simplex (L.) W.F.Wight.. và xin được gọi tên là “Ngô đồng Huế”. Nếu đây thật sự là một thứ thuộc loài Ngô đồng nói trên thì nên đặt tên khoa học cho nó là Firmiana simplex (L.) W.F.Wight. var. hueensis.
Hiện tượng đồng quy tên gọi
Ở Huế, nói đến Ngô đồng có người nghĩ đến cây Ngô đồng ở Đại nội, nhưng cũng không ít người lại nghĩ tới cây Vông đồng (có lẽ do nhầm với tên Vang đồng trong Nhĩ Nhã - trong tài liệu này Vang đồng là Ngô đồng) và cũng có người nghĩ tới cả cây Vông nem. Đây là một sự nhầm lẫn không đáng có. Cây Vông đồng thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) tên khoa học là Hura crepitans L.. Loài cây này có tán lớn, dày, thân có rất nhiều gai, lá hình tim, mép lá gợn sóng, quả hình bánh xe, khi chín phần vỏ quả trong hóa gỗ, khô dần rồi nứt ra phát thành tiếng (crepitans: nổ lách tách). Đây là cây phổ biến, được người dân trồng ở đầu làng, trước am miếu, đền đài hoặc trồng gây bóng ở một số nơi khác, nhất là ở ven các cánh đồng vùng nông thôn. Ở thành phố Huế, cây Vông đồng còn được trồng ngay trên hè phố (từng có ở đường Lê Quý Đôn, đường Lê Lợi, đường Huỳnh Thúc Kháng…). Các tỉnh miền Nam gọi là cây Mã đậu. Đây là loài phát tán mạnh, có khả năng tái sinh tự nhiên và mọc hoang ở nhiều nơi khác nhau. Cây Vông nem thuộc họ Đậu (Fabaceae), tên khoa học là Erythrina variegata L. cũng là loài cây thân có gai, thường được trồng cho trầu hoặc tiêu leo, trồng làm hàng rào hoặc mọc hoang ở nhiều nơi. Cây có hoa màu đỏ rất đẹp, lá được dùng gói nem, lá non nấu canh ăn gây an thần nhẹ, dễ ngủ. Cây phân bố tự nhiên khắp các miền của đất nước và ở các vùng sinh thái khác nhau, từ miền núi đến đồng bằng, kể cả vùng cát ven biển hoặc hải đảo.
Nhiều tài liệu khác nhau trong nước cũng có sự đồng quy tên gọi Ngô đồng:
- Phan Đức Bình (2002), trong Thuốc và sức khỏe số 204, giới thiệu ba loài Ngô đồng: (1) Ngô đồng = Dầu lai = Dầu mè = Đậu cọc rào - Jatropha curcas L. thuộc họ Euphorbiaceae; (2) Ngô đồng - Brassaiopsis ficifolia Dunn. var. ficifolia thuộc họ Araliaceae; (3) Ngô đồng = Tơ đồng - Firmiana simplex (L.) W.F.Wight. thuộc họ Sterculiaceae
- Vụ Khoa học, Công nghệ và chất lượng sản phẩm (2000), trong Tên cây rừng Việt Nam, giới thiệu ba loài Ngô đồng: (1) Ngô đồng - Firmiana simplex (L.) W.F.Wight. thuộc họ Sterculiaceae; (2) Ngô đồng đỏ - Firmiana colorata (Roxb.) R.Br. thuộc họ Sterculiaceae; (3) Ngô đồng cảnh - Jatropha podagrica Hook. thuộc họ Euphorbiaceae (loài này ở Huế gọi là cây Độc bình).
- Vũ Văn Chuyên (1977), trong Hỏi đáp thực vật tập 4, dùng tên Ngô đồng để chỉ cây Độc bình Jatropha podagrica Hook. Để ghi chú ảnh, tác giả dẫn câu “Cây Ngô đồng không trồng mà mọc”. Nếu đối chiếu với câu “Cây tơ hồng không trồng mà mọc, gái chưa chồng anh chọc anh chơi” thì quả là phức tạp. Thật ra thì cây Độc bình cũng ít mọc hoang dại phổ biến như cây Tơ hồng.
- Đỗ Tất Lợi (1986), trong Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, giới thiệu hai loài Ngô đồng: (1) Ngô đồng = Trẩu = Dầu sơn = Mộc du thụ = Thiên niên đồng - Aleurites montana (Lour.) Wils. thuộc họ Euphorbiaceae; (2) Ngô đồng - Sterculia platanifolia L. thuộc họ Sterculiaceae.
Với một số dẫn liệu về cách gọi đồng quy tên Ngô đồng cho nhiều loài cây như thế, chắc hẳn gây ra khá nhiều phức tạp cho người tìm hiểu. Từ thực tế đó, mà khi nói đến cây Ngô đồng, mỗi người nghe lại nghĩ một khác, và như thế giá trị lịch sử, di tích và tôn tạo cảnh quan của loài cây đang bàn cũng sẽ bị giảm thiểu. Nhiều du khách đến Huế sẽ thờ ơ khi nghe giới thiệu đến loài Ngô đồng, vì họ hiểu Ngô đồng là Tơ hồng, là Trôm đơn, là Trẩu, là Đậu cọc rào, là Độc bình… và như thế thì “Ngô đồng sinh hỹ, vu bỉ triêu dương” (Kinh Thi) còn có ý nghĩa gì!
Nếu hiểu Ngô đồng là Tơ hồng, là Đậu cọc rào, hay là Độc bình làm sao có được khổ thơ “Nửa năm hương tiếng vừa quen, Sân Ngô cành biếc đã chen lá vàng” và chắc rằng Đỗ Phủ cũng không viết được “Hương đạo trắc dư anh vũ lạp, Bích Ngô thê lão phượng hoàng chi”.
HIỆN TRẠNG CÂY NGÔ ĐỒNG Ở HUẾ
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì cây Ngô đồng đã được đưa từ Quảng Đông về trồng ở hai bên góc điện Cần Chánh - Đại nội - Huế từ thời vua Minh Mạng. Sau đó vua Minh Mạng sai binh biền đem lá lên rừng núi tìm kiếm để mang về trồng thêm ở các góc điện. Những cây này hiện nay không còn nữa, những cây chúng ta hiện thấy ở mặt sau điện Thái Hòa và khu vực Tả - Hữu Vu cũng chỉ là những cây đã thay thế, tuổi cây chỉ năm ba chục năm trở lại đây thôi. Trong số nhiều cây hiện hữu ở khu vực này, chỉ có 3 cây có kích cỡ lớn, chiều cao cỡ trên dưới 20 m và đường kính thân khoảng 70 - 80cm. Trong số đó, chỉ có một cây ở Tả Vu có tán đều, cành nhánh phát triển cân đối, hàng năm phát hoa mạnh và rộ khi lá đã rụng toàn phần. Đây là cây tiêu biểu nhất trong toàn bộ các cây hiện còn. Những cây còn lại có chất lượng kém, cành nhánh phát triển không cân đối, tán không đều, vài cây bị cụt ngọn trông không đẹp. Ngoài địa điểm vừa nêu, cây Ngô đồng ở Huế còn có thể tìm thấy ở vài công viên (Thương Bạc, Phú Xuân, Tứ Tượng), vài lăng tẩm (Minh Mạng, Tự Đức) nhưng tất cả cũng chỉ là cây non trẻ, tuổi cây vài ba chục năm trở lại. Do cây thuộc loại mọc nhanh, gỗ xốp, nên thường dễ ngã đổ mỗi khi gặp lốc, bão.
Dù sao, thì dấu ấn lịch sử và ý tứ thơ văn cũng đã làm cho người Huế có ý thức bảo tồn loài cây Ngô đồng. Nhờ vậy trải qua bao năm tháng, sau những cơn bão dử, cây Ngô đồng này ngã xuống, cây Ngô đồng khác lại được trồng lên. Nhờ vậy, mãi đến bây giờ cây Ngô đồng vẫn tồn tại. Nay mai, khi điện Cần Chánh được phục hồi, ắt hẳn các nhà quản lí di tích không quên trồng lại cây Ngô đồng đúng vị trí ban đầu của nó.
VỀ VIỆC BẢO TỒN CÂY NGÔ ĐỒNG Ở HUẾ
Chẳng mấy ai đã sinh ra, lớn lên ở Huế lại không khắc khoải tâm tư khi nhìn thấy hàng cây xanh ven đường trốc gốc sau cơn bão dữ, hay đang “rướm máu” dưới làn cưa, lưỡi mác. Nhiều người Huế có thể không cảm nhận được ý nghĩa cây Ngô đồng, nhưng chắc hẳn sẽ nhớ mãi những cây xanh đã một thời làm nên tên tuổi cho bao con đường trong thành phố cổ: Đoác, Muối, Me… Cây xanh ở Huế đã được người Huế bài trí như một sự điểm tô. Nó được sắp đặt, phối trí để tôn tạo cho bao công trình kiến trúc cổ và hiện đại. Trong quá trình phát triển đô thị, vì lý này, lẽ khác nhiều cây xanh phải chịu nằm xuống để rồi mãi mãi mất tên. Cũng trong quá trình đó, hệ thống cây xanh biến tướng theo chiều hướng thực dụng, chắp vá và đối phó tình huống. Nhiều loài quen thuộc mất đi, nhiều loài mới được thay thế, lắm khi phá vỡ cả phong cách tôn tạo riêng và làm mất đi cái chất Huế có tự bao giờ. Người Huế thích hoài cổ, bởi lẽ đạo lý làm người ai mà không có quá khứ. Đây cũng là một tư chất có liên quan đến công tác bảo tồn. Đành rằng, bảo tồn nhưng không bảo thủ, có nghĩa là biết bảo tồn thích nghi, nhưng cái gốc vẫn là cơ bản. Như thế, nếu chúng ta đã biết cây Ngô đồng không những là cây tôn tạo cảnh quan, mà nó còn là cây di tích, lại là một cây đẹp, dễ trồng thì chắc hẳn chúng ta rất đồng tình với việc bảo tồn cây Ngô đồng trong việc tôn tạo hệ thống cây xanh cho quần thể di tích. Ngô đồng là loài cây rụng lá toàn phần, ưa sáng, mọc nhanh, phân cành muộn, cành nhánh ngắn, mọc chếch nên tán cây gọn, có giá trị tạo cảnh nhiều hơn tạo bóng. Hoa ra rộ khi cây chưa có lá vào tiết tháng hai âm lịch. Thời điểm đó, nó sẽ điểm tô cho cảnh quan thêm phần sinh động và đẹp mắt. Sau thời kì ra hoa, cây nảy lộc cho ra màu xanh mượt mà, mát mắt để rồi chuyển sang một màu xanh ngát, cũng là một gam màu làm đẹp cho các công trình. Cây Ngô đồng không kén đất, tái sinh hạt mạnh, có thể nhân giống bằng hạt để đưa trồng ở nhiều nơi khác nhau trong thành phố. Điều quan trọng là chọn vị trí và phương thức trồng thế nào để nó phát huy được vai trò tôn tạo cảnh quan. Về phương thức trồng, chúng tôi rất đồng tình với ý kiến của cụ Nguyễn Hữu Đính, là trồng cụm; chỉ trồng đơn lẻ trong những trường hợp nhất định. Ở thành phố Tokyo, cây Ngô đồng được chọn trồng thành hàng trên dải phân cách của đường phố lớn. Đây cũng là một mô hình cần nghiên cứu, đặc biệt là đối với một vài đường phố hẹp, không thể đưa trồng các loài cây có tán rộng. Có thể có chút băn khoăn vì cây rụng lá theo mùa. Nhưng thực tế cho thấy thời gian trơ cành không lâu và liền được thay bằng một vòm hoa màu hồng phớt tím, càng làm cho bầu trời xuân thêm ấm áp và thi vị. Trong khuôn viên một vài công sở hoặc trong các công viên cũng có thể trồng Ngô đồng, nhưng nên trồng thành cụm 3 - 5 cây. Cây Ngô đồng đứng chơi vơi một mình trông rất đơn điệu. Trồng đơn độc chỉ hợp với bồn hoa trung tâm một tiền sảnh hay công viên hoặc đứng ở một góc công trình không có cây lớn che chắn. Lúc đó nó thành chủ thể của một không gian vừa phải. Khi đơn lẻ đan xen trong một hệ thống nhiều cây tán rộng, cây Ngô đồng sẽ bị che lấp đi. Nhưng dù gì đi nữa, cũng nên nghĩ tới việc phát triển số lượng có gắn liền với ý nghĩa lịch sử của nó, đừng biến nó thành một loài tầm thường như bao loài khác chỉ vì số lượng cá thể quá nhiều và đi đâu cũng bắt gặp. Có lẽ tốt nhất là nên ưu tiên phát triển trong khuôn viên Đại Nội và ở lăng Minh Mạng. Nếu xét thấy cần thiết thì có thể chọn một đường phố nào đó để trồng nhằm tạo điểm nhấn thu hút du khách. Thiết nghĩ cũng nên trồng thành hai hàng đăng đối cho một đoạn đường cửa ngõ phía Bắc dẫn vào thành phố Huế như một loài cây chỉ thị để tạo ấn tượng ban đầu cho du khách đi từ Bắc vào Huế.
Đ.X.C
(SDB17/06-15)
LTS: Đại Học Huế đang ở tuổi 50, một tuổi đời còn ngắn ngủi so với các Đại học lớn của thế giới. Nhưng so với các Đại học trong nước, Đại Học Huế lại có tuổi sánh vai với các Đại học lớn của Việt như ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Trên hành trình phát triển của mình, Đại Học Huế đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, giáo dục, văn hoá ở miền Trung, Tây Nguyên, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho khu vực và cả nước. Nhân dịp kỷ niệm này, TCSH phân công ông Bửu Nam, biên tập viên tạp chí, trao đổi và trò chuyện với PGS.TS. Nguyễn Văn Toàn, Giám đốc Đại Học Huế. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuộc trò chuyện này.
VÕ ĐẮC KHÔICó một thời người Huế loay hoay đi vỡ núi, phá rừng trồng khoai sắn. Có một thời người Huế tìm cách mở cảng nước sâu để vươn ra biển lớn, hay đón những con tàu viễn xứ xa xôi. Cả nước, các tỉnh thành láng giềng như Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng cũng đều ra sức làm như thế, sao ta có thể ngồi yên?
TRẦN ĐÌNH SƠNĐất Việt là cái nôi sinh trưởng của cây trà và người Việt biết dùng trà làm thức uống thông thường, lễ phẩm cúng tế, dâng tặng, ban thưởng từ hàng ngàn năm nay.
NGUYỄN XUÂN HOÀNGTừng là đất Kẻ Chợ – kinh đô triều Nguyễn xưa, ẩm thực Huế dựa trên nền tảng triết lý của cái đẹp, món ăn món uống phải ngon nhưng nhất thiết phải đẹp, vị phải đi với mỹ, thiếu mỹ thì không còn vị nữa.
TRƯƠNG THỊ CÚCTrong vô vàn những bài thơ viết về Huế, hai câu thơ của Phan Huyền Thư dễ làm chúng ta giật mình:Muốn thì thầm vuốt ve Huế thật khẽLại sợ chạm vào nơi nhạy cảm của cơ thể Việt Nam (Huế)
FRED MARCHANT(*) Trong chuyến viếng thăm Huế lần thứ hai vào năm 1997, tôi làm một bài thơ đã đăng trong tập thứ hai của tôi, Thuyền đầy trăng (Full Moon Boat). Bối cảnh bài thơ là một địa điểm khảo cổ nổi danh ở Huế. Có thể nói là bài thơ này thực sự ra đời (dù lúc đó tôi không biết) khi nhà thơ Võ Quê đề nghị với tôi và các bạn trong đoàn ghé thăm Đàn Nam Giao trước khi đi ăn tối ở một quán ăn sau Hoàng Thành bên kia sông Hương.
TRẦN KIÊM ĐOÀNDu khách là người trong mắt nhìn và qua cảm nhận của chính người đó.
TRƯƠNG THỊ CÚCTừ buổi hồng hoang của lịch sử, hình ảnh ban đầu của xứ Huế chỉ thấp thoáng ẩn hiện qua mấy trang huyền sử của đất nước Trung Hoa cổ đại. Tài liệu thư tịch cổ của Trung Quốc đã kể lại từ năm Mậu Thân đời vua Đường Nghiêu (2353 năm trước Công nguyên), xứ Việt Thường ở phương Nam đã đến hiến tặng vua Nghiêu con rùa thần từng sống qua ngàn năm tuổi.
HỒ ĐĂNG THANH NGỌCCó một hiện tượng lịch sử lý thú, ở những nơi khác vốn dĩ bình thường nhưng ở Huế theo tôi là rất đặc biệt, đó là tại mảnh đất này sau hơn ba mươi năm ngày đất nước thống nhất, đã hình thành một thế hệ nữ doanh nhân thành đạt giữa chốn thương trường.
MINH TÂMTôi nghe bà con bán tôm ở chợ Bến Ngự kháo nhau: Dân nuôi tôm phá Tam Giang đã xây miếu thờ “Ông tổ nghề” của mình gần chục năm rồi. Nghe nói miếu thờ thiêng lắm, nên bà con suốt ngày hương khói, cả những người nuôi tôm ở tận Phú Lộc, dân buôn tôm ở Huế cũng lặn lội vượt Phá Tam Giang lễ bái tổ nghề.
PHẠM THỊ ANH NGA"Hiểu biết những người khác không chỉ đơn giản là một con đường có thể dẫn đến hiểu biết bản thân: nó là con đường duy nhất" (Tzvetan Todorov)
TRẦN ĐỨC ANH SƠNSau hơn 1,5 thế kỷ được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của Đàng Trong, đến cuối thế kỷ XVIII, Huế trở thành kinh đô vương triều Tây Sơn (1788 - 1801) và sau đó là kinh đô của vương triều Nguyễn (1802 - 1945).
TRƯƠNG THỊ CÚC Sông Hương là một trong những nét đẹp tiêu biểu của thiên nhiên xứ Huế. Sông là hợp lưu của hai nguồn Hữu Trạch, Tả Trạch, chảy qua vùng đá hoa cương cuồn cuộn ghềnh thác, đổ dốc từ độ cao 900 mét đầu nguồn Hữu trạch, 600 mét đầu nguồn Tả trạch, vượt 55 ghềnh thác của nguồn hữu, 14 ghềnh thác của nguồn tả, chảy qua nhiều vùng địa chất, uốn mình theo núi đồi trùng điệp của Trường Sơn để gặp nhau ở ngã ba Bàng Lãng, êm ả đi vào thành phố, hợp lưu với sông Bồ ở Ngã Ba Sình và dồn nước về phá Tam Giang, đổ ra cửa biển Thuận An.
Chúng ta biết rằng trong thời đại ngày nay, khi đầu tư xây dựng những cơ sở nhằm đáp ứng nhu cầu cao của người đi du lịch, văn hóa ẩm thực được xem như là cánh cửa đầu tiên được mở ra để thu hút du khách.
Chúng tôi đi thăm đầm chim Quảng Thái, theo ông Trần Giải, Phó chủ tịch huyện Quảng Điền.
I. Chúng tôi xin tạm hiểu như sau về văn hóa Huế. Đó là văn hóa Đại Việt vững bền ở Thăng Long và Đàng Ngoài chuyển vào Thuận Hóa - Phú Xuân.
Thúng mủng Bao La đem ra đựng bột. Chiếu Bình Định tốt lắm ai ơi. Tạm tiền mua lấy vài đôi. Dành khi hiếu sự trải côi giường Lào.
LTS: Tiến sĩ Nguyễn Thuyết Phong hiện đang dạy tại trường đại học Kent State thuộc tiểu bang Ohio, . Đây là một trong những bài trích ra từ cuốn Hồi ký âm nhạc, gồm những bài viết về kinh nghiệm bản thân cùng cảm tưởng trong suốt quá trình đi đó đây, lên núi xuống biển, từ Bắc chí Nam của ông để sưu tầm về nhạc dân tộc. Được sự đồng ý của tác giả, TCSH xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
Từ sau ngày giải phóng đến nay, tôi chưa một lần gặp lại Anh hùng Vai và Anh hùng Kan Lịch. Về Huế hoài nhưng lên A Lưới lại không đủ giờ và không dễ dàng gì. Những năm trước, đường về A Lưới còn chật hẹp, lổm chổm đất đá, lại hay sạt lở... đi về rất khó khăn và phải mất vài ngày. Đến Huế vào mùa khô thì lại ít thời giờ. Về Huế dịp mùa mưa thì đường về A Lưới luôn tắc nghẽn.
Tế lễ, giỗ chạp, cúng kỵ gắn với người Huế rất sâu. Hình như nhạc lễ cổ truyền xứ Huế cũng hình thành từ đó. Món ăn Huế được chăm chút, gọt tỉa để trở thành một thứ nghệ thuật ẩm thực cũng từ đó. Màu sắc, mẫu mã của nhiều loại trang phục Huế cũng từ đó mà được hoàn chỉnh, nâng cao. Cả những phong cách sinh hoạt nói năng, thưa gởi, đứng ngồi, mời trà, rót rượu... đầy ý tứ của vùng đất nầy cũng đi từ những buổi cúng giỗ đượm mùi hương trầm.