Tác giả tên đầy đủ là Heinrich Theodor Böll (1917 - 1985). Ông được coi là một trong những nhà văn lớn nhất của Đức thời hậu chiến. Năm 1972 ông được nhận giải Nobel Văn học. Tác phẩm và quan điểm chính trị của Böll thể hiện khát vọng xây dựng một xã hội mang tính nhân văn. Các tiểu thuyết tiêu biểu của ông: “Thiên thần im lặng”, “Và tôi đã không nói một lời duy nhất”, “Nhà không có người che chở”, “Qua con mắt của chú hề”, “Bức chân dung tập thể với một quý bà”…
Ảnh: internet
HEINRICH BÖLL
Nàng Theodora bất tử
Mỗi khi tôi đi dọc con phố Bengelmann là tôi phải nhớ đến Bodo Bengelmann, người mà Viện hàn lâm đã phong cho đẳng cấp của một người bất tử. Ngay cả khi tôi không đi vào phố Bengelmann tôi cũng thường nghĩ đến Bodo, còn con phố thì vẫn thế: nó chạy dài từ số 1 đến số 678, dẫn ra khỏi trung tâm thành phố, ngang qua những bảng hiệu quảng cáo bằng đèn neon của các quán bar đến tận vùng thôn quê, nơi những con bò cái rống vào buổi chiều đợi được dẫn ra chỗ uống nước. Con phố này mang tên họ của Bodo, chạy thẳng qua thành phố; ở phố Bengelmann có hiệu cầm đồ, có “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”, còn tôi thì thường đi đến cửa hàng cầm đồ, thường đi đến “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”, thường có đủ dịp để được nhớ đến Bodo.
Khi tôi đẩy chiếc đồng hồ của mình qua quầy hàng cho nhân viên của cửa hàng cầm đồ ông ta kẹp kính lúp vào mắt, định giá chiếc đồng hồ, đẩy nó trở lại phía tôi qua quầy hàng buông một câu tỏ vẻ khinh thường “Bốn mác”, sau đó khi tôi đã gật đầu đồng ý, đã ký biên lai cầm đồ, đã lại đẩy chiếc đồng hồ qua quầy hàng cho nhân viên của hàng cầm đồ, khi tôi thong thả bước đến bàn trả tiền và đợi ở đó, cho đến khi ống chuyển thư bằng khí nén đẩy biên lai cầm đồ của tôi sang thì tôi còn có đủ thời gian nhớ đến Bodo Bengelmann, với người mà tôi đã thường có đủ dịp vừa nhớ đến vừa đứng tại bàn trả tiền này.
Bodo có một chiếc máy đánh chữ Remington cũ, với nó ông đã chép các bài thơ của mình (mỗi bài chép ra bốn bản). Tôi và Bodo đã năm lần uổng công cố vay tiền của cửa hàng cầm đồ thành phố bằng chiếc máy chữ này. Chiếc máy chữ quá cũ, kêu loạch xoạch và ken két, còn ban quản lý của cửa hàng cầm đồ thì bảo lưu quan điểm, nghiêm chỉnh tuân thủ quy định. Ông của Bodo là người bán đồ sắt, cha của Bodo là kế toán thuế, bản thân Bodo là nhà thơ trữ tình - ba thế hệ của dòng họ Bengelmann đã quá thường xuyên gõ phím cái máy chữ này, để nó xứng đáng là một khoản cho vay của thành phố (mỗi tháng 2%).
Dĩ nhiên, giờ đây có một khu tưởng niệm Bengelmann, ở đó người ta đang bảo quản một chiếc bút mực có cái quản màu hung hung đỏ bị cắn nát nằm trong tủ kính kèm theo dòng chữ: “Đây là chiếc bút mà Bodo Bengelmann đã viết.”
Trên thực tế Bodo đã chỉ viết hai bài thơ trong số năm trăm bài thơ của mình bằng chiếc bút này, chiếc bút mà ông đã lấy trộm từ chiếc hộp bút bằng da của Lotte, em gái của ông. Phần nhiều trong số những bài thơ của mình ông viết bằng bút chì mực, một số viết trực tiếp bằng chiếc máy chữ mà chúng tôi đã bán cho một người đàn ông với giá bèo bọt là sáu mác tám mươi xu vào một ngày cực kỳ túng quẫn, người đàn ông tên là Heising và chẳng biết gì về thể loại thơ trữ tình bất tử là chất liệu làm nên những bài thơ mà anh ta mua. Heising sống ở phố Humbolt, sống bằng nghề buôn bán đồ cũ và đã được Bodo làm thành bất tử trong bài thơ “Căn buồng của một anh chàng chủ hiệu kì cục”.
Như vậy là chiếc máy chữ thực sự của Bodo không được trưng bày ở khu tưởng niệm Bengelmann, mà là chiếc bút mực này, chiếc bút mà đang cho thấy các dấu vết của những chiếc răng của Lotto Bengelmann. Chính Lotte cũng đã quên từ lâu là chiếc bút mực thuộc về chị ta và chị ta đang làm cái việc là ngày nay đứng khóc trước cái bút, rơi lệ vì một sự việc đã không hề có. Chị ta đã viết những bài tiểu luận ở trường bằng cái bút ấy, trong khi đó Bodo - tôi nhớ chính xác về ông - đã viết một mạch ra các bài thơ “Trái tim bị sương mùa thu giăng mắc” và “Khóc đi, Woge ơi, hãy khóc đi!” cũng bằng cái bút ấy sau khi ngốn hết hai miếng thịt rán, một đĩa sa lát to, một cái bánh pudding vani bự và hai lát pho mát. Ông đã viết hai bài thơ hay nhất của mình với cái bụng no nê, đại để ông là người phàm ăn như nhiều người đa sầu đa cảm và ông đã chỉ dùng cái bút của em gái mình mười tám phút, trong khi đó toàn bộ sự nghiệp sáng tác thơ trữ tình của ông kéo dài trên tám năm.
Ngày nay Lotte sống bằng sự nghiệp thơ ca vẻ vang của anh trai mình; mặc dù chị ta đã cưới một người đàn ông tên là Hosse(*), nhưng chị ta chỉ gọi mình là “em gái của Bodo Bengelmann”. Chị ta luôn là kẻ rất khó chịu. Chị ta mách lẻo về Bodo mỗi khi ông làm thơ, vì việc làm thơ thuộc về những việc mà những người trong gia đình nhà Bengelmann cho là tốn nhiều thời gian, vì thế không cần thiết.
Nỗi dày vò của Bodo là lớn. Điều đó, sự cấm đoán ông làm thơ từ phía gia đình, dễ dàng thúc ép ông viết ra thứ gì đó hay ho của mình. Nhưng cứ mỗi khi ông làm thơ là Lotte phát hiện ra việc đó, giọng nói the thé của chị ta vang lên trong hành lang, trong bếp, chị ta hớn hở chạy thật nhanh vào phòng làm việc của cha mình, la lên “Bodo lại làm thơ!” và cha của chị - một người hết sức cương quyết - quát: “Đồ con lợn đó đâu?” (Từ ngữ được dùng ở gia đình nhà Bengelmann là hơi thiếu văn hóa.) Sau đó ông cho con trai mình ăn một trận đòn. Bodo, đa cảm như tất cả mọi nhà thơ trữ tình, bị túm vào cổ áo, bị kéo xuống cầu thang và bị đánh bằng cái thước kẻ cứng như thép, với nó cha của Bodo kẻ những đường kẻ xuống dưới những thông tin về trạng thái tài khoản của các khách hàng.
![]() |
Minh họa: Nguyễn Thiện Đức |
Sau này Bodo sáng tác nhiều ở nhà chúng tôi, và tôi là chủ nhân của gần bảy mươi bài thơ không công bố của Bengelmann mà tôi dự định bảo quản như là tiền lương hưu cho mình. Một trong những bài thơ này bắt đầu bằng những từ “Lotto, đồ phản trắc, ngấm ngầm…” (Bodo được coi là người cách tân của phép điệp vận).
Với những nỗi dày vò, hoàn toàn bị coi thường, thường xuyên bị đánh đòn, Bodo đã qua tuổi mười bảy của mình, ông đã được nhận bằng tốt nghiệp trung học loại giỏi và đã được cho đi học việc để trở thành một người bán giấy dán tường. Hoàn cảnh đã tạo thuận lợi cho việc sáng tác thơ trữ tình của ông: Ông chủ cửa hàng bán giấy dán tường, nơi Bodo học việc, phần nhiều say khướt nằm ở dưới quầy hàng, còn Bodo thì viết các bài thơ do mình sáng tác vào mặt trái của những miếng giấy dán tường dùng để làm mẫu.
Việc sáng tác thơ trữ tình của Bodo nhận được một động cơ thúc đẩy khác khi ông yêu say đắm cô gái mà ông đã ca ngợi trong “Những bài ca dành tặng nàng Theodora”, mặc dù tên của cô gái không phải là Theodora.
Thế rồi Bodo cũng sẽ bước sang tuổi mười chín, và vào ngày mùng một tháng Mười Hai ông đã đầu tư toàn bộ khoản lương học việc vào bưu phí và gửi tất cả ba trăm bài thơ tới ba trăm tòa soạn khác nhau mà không gửi kèm tiền bưu phí gửi trả lại: một sự táo bạo độc nhất vô nhị trong toàn bộ lịch sử văn chương. Bốn tháng sau - khi vẫn chưa đến hai mươi tuổi - Bodo đã là một người đàn ông lừng danh.
Một trăm năm mươi tư bài trong số các bài thơ của Bodo đã được đăng báo, và bây giờ sáng nào người bưu tá đầm đìa mồ hôi cũng dừng lại, xuống xe đạp trước cửa nhà của Bengelmann. Để biết được chính xác số lần các bài thơ được đăng của Bodo thì chỉ cần làm một phép tính nhân, trong đó người ta lấy con số 300 bài thơ của Bodo nhân với số lượng các tờ báo đã đăng thơ của ông, con số này tạm thời là 40 tờ.
Đáng tiếc là Bodo chỉ được hưởng danh tiếng của mình hai năm. Ông chết vì một trận cười sặc sụa. Một hôm ông thú nhận với tôi: “Danh tiếng chỉ nằm ở một vấn đề, đó là bưu phí” - sau đó ông nói thầm, “thậm chí tớ đã gửi đại thơ của mình đi”, rồi bật cười sặc sụa, càng ngày càng sặc sụa hơn - và chết. Đó là những câu duy nhất trong một bài tản văn có giá trị mà đã có lần ông bày tỏ: nhờ đó tôi nhắn gửi chúng cho đời sau.
Giờ đây danh tiếng của Bodo đã được tạo nên chủ yếu qua “những bài ca tặng nàng Theodora” của ông, một hợp tuyển bao gồm hai trăm bài thơ về thứ thơ tình tìm kiếm một cô gái vẫn yêu nồng nhiệt như ông. Những nhà phê bình riêng rẽ đã cố thử viết tiểu luận về chủ đề: “Ai đã là nàng Theodora?” Một nhà phê bình đồng nhất hóa nàng một cách trơ trẽn với một nữ thi sĩ cùng thời, còn đang sống, anh ta chứng minh điều đó có sức thuyết phục, khá tỉ mỉ về nữ thi sĩ mà Bodo đã chưa hề gặp mặt, nhưng giờ đây gần như bị ép buộc thừa nhận rằng nữ thi sĩ là nàng Theodora. Nhưng đó không phải là nàng: tôi biết rõ điều đó, vì tôi biết Theodora. Cô ấy tên là Käte Barutzki, đang đứng trong “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker” tại bàn số 6, nơi cô đang bán văn phòng phẩm. Những bài thơ của Bodo được chép sạch sẽ ra giấy mua ở “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”; tôi thường có đủ dịp cùng với ông đã đứng nán lại ở cái bàn của cô Käte này, cô gái cũng là một người xinh đẹp: cô ấy có mái tóc vàng hoe, nói hơi thủ thỉ, không biết gì về thứ văn chương cao cấp hơn và đọc vào buổi tối ở trên tàu điện “những cuốn sách rẻ riền của cửa hàng nhà Becker” được bán cho các nhân viên với giá ưu đãi.
Ngay cả Bodo cũng không biết về những cuốn sách rẻ tiền này; điều đó không hề gây tổn hại cho tình yêu của ông. Tôi và Bodo đã thường đứng trước cửa hàng nhà Becker, đã rình mò Käte, đã theo dõi cô, vào những buổi chiều mùa hè, trong sương mù mùa thu chúng tôi đã lén theo cô gái này, ra đến tận khu ngoại thành, ở khu mà ngày nay cô ấy vẫn đang sống. Đáng tiếc là Bodo đã quá nhút nhát khi có dịp bắt chuyện với cô. Ông không thực hiện được điều đó, mặc dù ngọn lửa tình trong ông đang rực cháy. Ngay cả khi ông đã nổi tiếng, tiền nhiều như nước, thì ông vẫn luôn mua hàng ở “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”, chỉ để thường xuyên ngắm nhìn cô gái xinh đẹp này - cô Käte Barutzki trẻ trung, cô gái mỉm cười và nói thủ thỉ như một nữ thần. Vì thế ở trong “các bài ca dành tặng nàng Theodora” rất hay có lối ví von “sự luyến láy kì diệu, dịu dàng…”.
Bodo cũng thường xuyên gửi cho Käte Barutzki những lá thư giấu tên có những bài thơ, nhưng tôi cần phải tin là thứ thơ trữ tình này đã bị cho vào bếp lò của gia đình nhà Barutzki hoặc không được cô Käte đọc đến, nếu người ta muốn thừa nhận tôi là một bức tranh trung thực với tư cách là người viết thiên sử thi trung thực.
Vào buổi tối tôi vẫn còn thường xuyên đi đến “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”, và tôi đã nhận ra là mới đây Käte được một thanh niên đến đón, hiển nhiên cậu ta ít nhút nhát hơn Bodo và là thợ sửa chữa ô tô (xét đoán theo quần áo của cậu ta đang mặc trên người). Tôi có thể đối mặt với cuộc hội thảo của lịch sử văn chương, có thể chứng minh rằng cô Käte này và nàng Theodora của Bodo Bengelmann là một. Nhưng tôi không làm việc đó, vì tôi e ngại cho hạnh phúc của Käte, cũng là hạnh phúc của anh chàng thợ sửa chữa ô tô. Chỉ thỉnh thoảng tôi đi đến chỗ Käte bán hàng, lục lọi trong đống giấy trang kim, tìm kiếm trong “những cuốn sách rẻ tiền của cửa hàng nhà Becker”, chọn một cục tẩy, ngắm nhìn Käte và cảm thấy hơi thở của lịch sử đang phả vào mặt tôi.
Phạm Đức Hùng dịch từ nguyên bản tiếng Đức
(TCSH389/07-2021)
--------------
(*) Ở các nước Âu - Mỹ phụ nữ sau khi lấy chồng sẽ mang họ chồng và được gọi theo tên họ của chồng.
George Saunders - Franz Kafka
Brazil, nhà văn danh tiếng Jorge Amado nói, không phải là một quốc gia mà là một lục địa. Trong phần đóng góp mới nhất của loạt nhà văn trẻ xuất sắc được tạp chí Granta giới thiệu, họ kể những câu chuyện rộng lớn và hấp dẫn của xã hội Brazil hiện đại và ai là tương lai của nó; trong những nhà văn chưa từng được dịch và giới thiệu này góp mặt có Ricardo Lísias đã xuất bản hai tiểu thuyết rất hấp dẫn người đọc.
Xin chuyển dịch sang Việt ngữ từ bản dịch sang Anh ngữ của Daniel Hahn: “My chess teacher”.
Dương Đức dịch và giới thiệu
Daly sinh trưởng tại thành phố Winchester, bang Indiana, Hoa Kỳ. Ông có bằng Cử nhân Văn chương của đại học Ohio Wesleyan University và bằng Bác sĩ Y khoa của đại học Indiana University. Trong 35 năm, ông là bác sĩ phẫu thuật tại Columbus, Indiana. Ông từng là một bác sĩ phẫu thuật cấp tiểu đoàn trong chiến tranh Việt Nam.
AMOS OZ
Sáng sớm, khi mặt trời chưa mọc, tiếng gù của đôi chim bồ câu trong bụi cây bắt đầu trôi qua ô cửa sổ để mở.
ALBERTO MORAVIA
KATHERINE MANSFIELD (Anh)
Thời tiết thật tuyệt vời. Người ta sẽ không có một bữa tiệc ngoài trời hoàn hảo hơn nếu họ không tổ chức tiệc vào ngày hôm nay.
Shun Medoruma (sinh năm 1960) là một trong những nhà văn đương đại quan trọng nhất của Okinawa, Nhật Bản. Ông được giải Akutagawa Prize năm 1997 với truyện ngắn “Giọt nước” (Suiteki).
Có lẽ tác giả tâm đắc lắm với truyện này nên mới chọn để đặt tên cho cả tuyển tập. “The Persimmon Tree, and Other Stories (1943)” gồm 15 truyện ngắn, góp phần mang lại chỗ đứng vững vàng trong văn đàn nước Úc cho nhà văn nữ Marjorie Barnard (1897-1987), người có thể sáng tác nhiều thể loại khác nhau, kể cả phê bình và lịch sử.
MARK TWAIN
M. Twain (1835 - 1910) là nhà văn lớn của Mỹ, từng phải lăn lóc nhiều nghề lao động chân tay trước khi trở thành nhà văn, do đó văn của ông rất được giới lao động ưa chuộng.
L. TOLSTOY
Các anh em từng nghe nói rằng: mắt đền mắt, răng đền răng; còn ta nói với các anh em rằng: đừng chống lại kẻ ác. (Phúc Âm theo Matthiew V, 38, 39).
VẠN CHI (Trung Quốc)
Tôi nhớ hình như ở đây có một bến ô tô buýt. Phải, phải rồi, ngay chỗ giờ đây cô gái kia đang đứng, dưới ngọn đèn đường ảm đạm ấy. Tôi thong thả bước tới, hỏi thăm.
Peter Bichsel sinh tại Lucerne (Thụy Sĩ) ngày 24 tháng 3 năm 1935, là con của một người thợ thủ công. Ông là nhà giáo dạy tại một trường tiểu học cho tới năm 1968.
Chitra Banerjee Divakaruni sinh năm 1957 tại Calcutta, Ấn Độ. Bà học đại học tại Đại học Calcutta. Năm 1976, bà đến Mỹ học thạc sĩ và tiến sĩ, sau đó dạy văn chương tại các đại học ở đó. Bà làm thơ, viết tiểu thuyết và truyện ngắn, được trao nhiều giải thưởng văn học. Ngoài ra bà còn sáng lập tổ chức Maitri chuyên trợ giúp phụ nữ Nam Á bị xúc phạm.
SAKI
1. Saki là bút hiệu của nhà văn Hector Hugh Munro (1870 - 1916), sinh tại Miến Điện (nay là nước Myanmar) khi nước này còn là thuộc địa của Anh.
Kevin Klinskidorn trưởng thành ở Puget Sound - một vùng ven biển tây bắc bang Washington và hiện sống ở bờ đông tại Philadelphia. Anh đã được giải thưởng Nina Mae Kellogg của đại học Portland State về tác phẩm hư cấu và hiện đang viết tiểu thuyết đầu tay.
Truyện ngắn dưới đây của anh vào chung khảo cuộc thi Seán Ó Faoláin do The Munster Literature Center tổ chức năm 2015.
NAGUIB MAHFOUZ
Naguib Mahfouz là nhà văn lớn của văn học Arab. Ông sinh năm 1911 tại Cairo (Aicập) và mất năm 2006 cũng tại thành phố này. Mahfouz đã viết tới 34 cuốn tiểu thuyết và hơn 350 truyện ngắn. Cuốn tiểu thuyết lớn nhất của ông là Bộ ba tiểu thuyết (The trilogy) (1956 - 1957).
Mahfouz được trao giải Nobel văn chương năm 1988.
Pete Hamill sinh ngày 24 tháng 6 năm 1935, tại Brooklyn, New York, Hoa Kỳ. Ông là nhà văn, nhà báo. Ông đi nhiều và viết về nhiều đề tài. Ông từng phụ trách chuyên mục và biên tập cho báo New York Post và The New York Daily News.
Truyện này được dịch theo bản tiếng Pháp nên chọn nhan đề như trên (Je ne voulais que téléphoner, trong cuốn Douze Contes vagabonds, Nxb. Grasset, 1995) dù nó có vẻ chưa sát với nguyên bản tiếng Tây Ban Nha của tác giả (Sole Vina a Hablar por Teléfono) - Tôi chỉ đến để gọi điện thoại thôi.
Eugene Marcel Prevost, nhà văn và là kịch tác gia người Pháp, sinh ngày 1/5/1862 tại Paris, mất ngày 8/4/1941 tại Vianne, thuộc khu hành chính Lot- et-Garonne. Năm 1909, ông được mời vào Hàn lâm viện Pháp.
FRANZ KAFKA