Mưa tuyết mịt mùng

14:41 24/03/2020

VẠN CHI (Trung Quốc)

Tôi nhớ hình như ở đây có một bến ô tô buýt. Phải, phải rồi, ngay chỗ giờ đây cô gái kia đang đứng, dưới ngọn đèn đường ảm đạm ấy. Tôi thong thả bước tới, hỏi thăm.

Ảnh: internet

- Không, tôi không biết.

Cô ta ngẩng lên, nhìn tôi với vẻ hốt hoảng giọng nói đanh và lạnh. Ai biết được vì sao cô ta giận dữ làm vậy? Quả tình gió đang gào rít, màn đêm đen kịt, trên đường cái không một bóng người, mà cô ta thì thân gái một mình. Tôi đành cười gượng. Vậy bến xe đâu? Cái địa phương chết tiệt, một tấm biển bến xe cũng chả có, tôi chỉ biết rằng có chuyến xe đêm vẫn chạy qua đây.

Chắc chắn là ở chỗ này. Lẽ ra tôi phải thông minh hơn một chút, cô gái kia hẳn không vô cớ đứng đây, tôi cứ nên đứng đây mà chờ. Mặc cho cô ta cứ việc cáu kỉnh hay sợ hãi, đằng nào thì tôi cũng chẳng động chạm gì đến cô.

Cô ta đứng cách tôi khá xa, cách nhau cái cột đèn, bóng của hai chúng tôi đổ về hai phía. Trời rét như cắt, đêm tối như hũ nút, ánh đèn đường vốn đã yếu ớt càng trở nên nhợt nhạt tù mù. Trời đã cuối thu. Những đám lá khô cuốn trên mặt đường xào xạc như một giọng ca khàn khàn. Có lẽ sắp mưa, hoặc sắp có tuyết. Gió ẩm ướt, khí lạnh căm căm. Tôi có mang theo chiếc ô, phải đến một vùng rét buốt mà lị! Đã lâu lắm tôi không đi đâu đêm hôm khuya khoắt thế này, nhất là đi một mình. Đêm tối thường giữ người ta lại ở trong nhà, đem đến cho người ta tổ ấm tình yêu và hạnh phúc. Vậy tôi phải đi đâu bây giờ, chính tôi cũng không biết. Có lẽ vì hạnh phúc và tình yêu.

Phía cuối đường vẫn chẳng có bóng ô tô, hẳn là bác lái đang ngồi sưởi bên một bếp lửa nào đó. Chao ôi, một bếp lửa tuyệt vời, giữa đêm khuya thế này, lại có cả rượu. Còn tôi, tôi chẳng có gì cả, hai túi rỗng tuếch, chỉ có mỗi chiếc ô.

Tôi bắt đầu đi đi lại lại, đi tới mười bước, lại đi lui, mỗi lần lại ngẩng đầu ngóng nhìn về phía cuối đường, song lần nào cũng thất vọng. Thế là tôi bèn đổi ý, cứ đi ngược hai vòng mới ngẩng nhìn một lần. "Lần này cũng không nhìn, hẳn ba vòng không nhìn, nhất định là có xe tới...". Nhưng rồi vẫn không thấy có động tĩnh gì, kéo dài ra đến năm vòng, đến mười vòng vẫn chẳng thấy tăm hơi. Kì cục thật, cuộc đời tôi cũng thế cứ quẩn quanh lui tới như vậy, le lói một tia hi vọng bâng quơ. Thoạt đầu, đại để cứ đi được mươi bước lại ngẩng lên nhìn và hi vọng. Dần dà thời gian kéo dài hơn. Rồi dần dà chỉ biết lặng lẽ cúi đầu bước, nhưng hi vọng vẫn ngấm ngầm.

Tôi nghĩ hi vọng rồi sẽ tới, cũng chuyến xe kia, rồi sẽ tới đón bạn đi. Trên đó có một chỗ dành cho bạn, về tâm lý, chỗ ấy đã là của bạn từ lâu rồi, dù lúc này nó còn ở tận đẩu tận đâu, nhưng nó vẫn đang hướng về bạn. Cuộc đời cũng vậy. Những ai chưa từng được yêu, đều có hi vọng yêu và được yêu. Người yêu bạn và được bạn yêu vốn đã tồn tại từ lâu, chàng hoặc nàng đang tiến gần đến bạn, dù vẫn ở tận đâu tận đẩu. Phía cuối đường chợt lóe lên một chùm ánh đèn. Thoáng cái, nó đã ở trước mặt chúng tôi. Tiếc thay lại là chiếc xe tải, anh tài chẳng thèm biết có ai, phóng vụt qua như một tia chớp. Tôi thất vọng và cũng nghe thấy tiếng thở dài ngao ngán của cô gái.

Gió vẫn thả sức gào rít, một sợi nước lạnh buốt lướt trên má tôi. Mưa. Từ trên bầu trời đen ngòm, mưa bắt đầu rơi lắc rắc, lao xao, trong ánh đèn vàng vọt vạch những đường sáng trắng, dường như có xen lẫn những hạt tuyết. Đúng thời tiết cuối thu.

Tôi trương ô, ngăn những hạt nhỏ li ti kia lại. Tôi nhìn cô ta, tôi không thể thờ ơ với người con gái bất khả xâm phạm ấy. Tôi lại nhớ tới gương mặt và giọng nói khô lạnh của cô. Con người làm sao có thể thiếu lòng tin đến thế. Lẽ nào giữa người với người chỉ còn sự mất lòng tin? Chỉ tồn tại sự sợ sệt và đề phòng? Nhưng tôi không thể thờ ơ. Ở đây không có nơi trú mưa, chỉ có cây cột đèn trơ trọi và bức tường thấp không mái che. Tôi rất muốn đưa ô cho cô ta.

- Không, khỏi cần.

Cô từ chối, giọng vẫn kiên quyết, nhưng tiếng nói rõ ràng đã run lên vì rét. Cô còn rất trẻ, ăn mặc nền nã, nhưng coi bộ nhút nhát sợ sệt. Tôi những muốn hỏi - Sợ cái gì nhỉ! Sợ đêm tối mưa tuyết mịt mùng này ư?

- Cô cầm lấy mà che, tôi không thể nhìn cô đứng giữa mưa như vậy.

- Không, khỏi cần.

Một cặp thanh niên xa lạ, dưới một mái ô, cùng chung cảnh ngộ mà không nói với nhau một lời, chỉ có tuyết, chỉ có mưa. Mưa và tuyết rơi xuống đất, như tiếng tỉ tê thầm thì, tiếng thầm thì tỉ tê ấy lại bị gió xua tan. Phía cuối đường vẫn một màu đen kịt.

Tôi cố đưa cao ô về phía bên ấy. Chiếc ô quá nhỏ, vốn chỉ để che một mình tôi, nhưng tôi cố đưa về phía bên ấy, cẩn thận không chạm vào người cô.

- Đừng, đừng chỉ che một mình tôi.

- Cô dịch gần lại một chút đi.

Cô ta nhìn tôi, dường như đã có phần tin cậy.

Đêm tối thường khiến người ta cảnh giác với nhau, bằng then cài, bằng ổ khóa, bằng cửa sổ khép chặt và cặp mắt mở to. Nhưng đêm tối cũng khiến người ta tin cậy lẫn nhau, bằng trái tim, bằng hơi thở, bằng ánh mắt ngời sáng. Mặc dù trong một đêm mưa tuyết mịt mùng nhường này, và chúng tôi không hề quen biết nhau, chúng tôi là những người hoàn toàn xa lạ. Chao ôi, giờ phút này tôi mới hiểu được vì sao lại cần có đêm, nếu chỉ có ban ngày, không có ban đêm thì thật không sao tưởng tượng nổi.

Không có thêm một lời nào. Chúng tôi không nói với nhau một câu nào nữa. Tôi biết rằng, hễ chia tay nhau chúng tôi bất quá lại là người dưng. Vậy thì hà tất phải nói gì thêm? Chúng tôi chẳng qua chỉ là bạn đường. Điểm giao thoa trong cuộc sống chỉ là cái bến xe này, chỉ là cái đêm mịt mùng mưa tuyết này mà thôi. Tin cậy, điều đó đem lại cho tôi niềm vui. Đó chính là điều không thể có được ở ban ngày. Ước gì tôi chỉ sống trong một đêm mưa tuyết mịt mùng này thôi.

Nhìn về phía cuối đường, lại có ánh đèn ô tô. Ánh đèn xuyên qua tuyết và mưa. Tôi biết xe thế nào rồi cũng sẽ đến. Hi vọng đó sẽ có chỗ cho bạn. Nhưng tôi phát hiện ra rằng lại một chiếc xe tải. Tôi muốn ngăn chiếc xe lại cho cô ta.

- Cám ơn anh - Cô nói - Em nói thật với anh, đã lâu rồi không còn có chuyến xe đêm nữa. Em quen anh lái xe này, em đợi anh ấy đấy. Đi, cùng đi đi anh.

Tôi mỉm cười. Ôi, một đêm tuyệt vời.

Phan Văn Các
dịch trong "An Huy văn học"
(TCSH47/01&2-1992)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.

  • BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.

  • JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).

  • KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...

  • MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.

  • YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.

  • MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!

  • AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.

  • HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.

  • OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979  những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.

  • NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.

  • OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.

  • BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.

  • RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

  • ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.

  • TOIVO TOOTSEN ( )LGT: Đây là một truyện hài hước thú vị về nạn kẹt xe. Tác giả đã sử dụng một thủ pháp phóng đại đến mức vô lý, không tưởng: một vụ kẹt xe bất tận từ đám cưới đến sinh con, ly dị, tái kết hôn, con vào đại học và kết hôn mà cuộc kẹt xe vẫn chưa kết thúc!. Mượn một tình huống kẹt xe “hoang tưởng” này, nhà văn muốn gởi tới một thông điệp hài hước một cách bi đát: nếu giao thông ở các đô thị lớn không ở các đô thị lớn không được tổ chức một cách khoa học thì từ đời cha đến đời con nạn kẹt xe vẫn chưa được giải quyết.                                                                                                                 TSCH

  • JAMES JOYCELGT: James Joyce (1882 - 1941) là một trong những khuôn mặt lớn nhất của văn xuôi Anh - Ailen và châu Âu thế kỷ XX. Ông “là nhân vật trung tâm của văn xuôi hiện đại”, một trong những nhà văn có ảnh hưởng lớn nhất, gây phản ứng mạnh nhất, “một trong những thần tượng của thời đại” đối với văn nghệ sĩ trẻ và giới trí thức châu Âu đương thời.

  • A THÀNH L.T.S: "Vua cờ" (Kỳ vương) được đăng lần đầu trên tạp chí "Thượng hải văn học" năm 1984. Vừa xuất hiện, "Vua cờ" đã chấn động văn đàn, liên tiếp nhận được nhiều giải thưởng "Trung thiên tiểu thuyết ưu tú" ở cấp tỉnh và trung ương ở Trung Quốc. Tác giả A Thành tên thật là Chung A Thành sinh năm 1949 ở Tứ Xuyên. Đây là tác phẩm đầu tay của ông. Do khuôn khổ tờ báo, chúng tôi không thể in trọn tác phẩm nổi tiếng này khoảng gần 100 trang sách. Dưới đây là chương IV, chương cuối cùng của "Vua cờ".

  • ROBERT SWINDELLS (ANH)Nếu thế giới này bằng phẳng và nếu bạn có thể nhìn thẳng vào mặt trời đang mọc, bạn sẽ nhìn thấy miền đất nơi Nick và Bruin sinh sống. Nơi ban ngày ẩm nhoẹt còn ban đêm thì ngột ngạt ghê người, nơi mặt trời lên như kẻ thù và gió như muốn bốc cháy.

  • ALEXANDER VAMPILOV (NGA)Nikolai Nikolaevich Smirnov tin chắc là ông không sống được đến mùa xuân sang năm.