Nếp nhà lãng đãng khói hương như chiếc cầu nối với quá khứ. Hồn người tĩnh tại, thong dong hòa quyện miền tâm linh thăm thẳm. Nhưng không phải dịp Tết đến ta mới thấy nhẹ nhàng. Bất cứ khi nào đứng trước ban thờ tiên tổ, bao bộn bề, lo toan đều tự nhiên rũ bỏ, để gia tâm bảo vệ những gì tốt đẹp của tinh thần.
Bàn thờ gia tiên - nơi gìn giữ nề nếp gia phong
Đôi điều nhân nghĩa
“Ngẫm ra trong cuộc đời này, cuộc đời của mỗi con người đã được lập trình từ đâu đó, từ nơi rất cao, rất xa…”. Điều gì khiến đạo diễn Trần Văn Thủy phải thốt lên như thế? Liên hệ từ phim “Chuyện tử tế” đến cuốn “Trong đống tro tàn” hay nhiều tác phẩm khác của ông đều xoay quanh những ngẫm ngợi sâu xa về con người, về cuộc đời. Con sông thời gian cứ chảy siết dọc chiều dài lịch sử, nhìn lại những gì đã qua, bước ra vòng xoáy xôn xao của nhịp sống thường nhật, cuối cùng, với đạo diễn Trần Văn Thủy là… trở về. Về nhà, đối mặt với ban thờ tổ tiên, tưởng nhớ, trò chuyện với các bậc tiền nhân, lần về nội tâm nguyên sơ. Với ông, đó không phải hoài cổ mà hướng về phía trước.
Ai lần đầu đến thăm nhà đạo diễn Trần Văn Thủy chắc sẽ ngạc nhiên vì trước lúc trò chuyện với khách, bao giờ ông cũng thắp hương. Ông bảo, đã thành nếp, việc đầu tiên trong ngày là thắp hương, đứng trước ban thờ nói lên tiếng lòng, răn mình. Ban thờ gia tiên đặt ở phòng khách, để tổ tiên chứng kiến những điều mọi người làm với nhau. Biết vậy để không giả dối, để chân thành đối đãi. “Cuộc đời làm phim, khi xem lại tôi giật mình thấy không có bộ phim nào, kể cả cho đài truyền hình nước ngoài mà không có cảnh hương khói. Nó hoàn toàn tình cờ”.
Sự tình cờ xem ra nói lên bao điều về văn hóa Việt. Góc máy đặt ở đâu đều thu được hồn vía của mỗi gia đình là bàn thờ. Vì từ xưa, người Việt đã coi trọng và dành vị trí quan trọng nhất trong ngôi nhà làm ban thờ. Đó là hành trang tâm linh, biểu trưng của thế giới tinh thần, chứa đựng triết lý sống của dân tộc. Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra đã đi sâu vào tâm khảm bao thế hệ. Nhân nghĩa, luân lý, đạo đức đã hình thành nên ban thờ để rồi người sau lại mượn ban thờ để tiếp nối nhân nghĩa, luân lý, đạo đức từ lớp người đi trước. Như vậy, thờ cúng tổ tiên theo nghĩa nào đó là một đạo, nhưng đến với đạo ấy, người ta không cần sách vở, không cần truyền giáo, không cần hướng dẫn lễ nghi. Cứ sống đậm đà, nặng tình nặng nghĩa với người đã sinh thành, với người Việt, đó là gốc rễ của tình yêu thương, gốc rễ trong mỗi người.
Cội rễ đời người
“Tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó lên bàn thờ tổ tiên và trên lễ đài của quốc gia, cổ vũ nó…”. Nhắc lại câu trong bộ phim “Chuyện tử tế”, đạo diễn Trần Văn Thủy muốn nói ban thờ tổ tiên là nơi nuôi dưỡng sự tử tế, bồi đắp nhân văn. Tử tế cho cộng đồng là hướng con trẻ và cả người lớn vào việc học làm người mà vạch xuất phát là trong mỗi gia đình. Nói tới ban thờ là đi tới câu chuyện giáo dục theo cách “sâu gốc bền rễ”. Vì rằng con người tử tế thì không quay lưng lại với tiên tổ, không thể coi thường vong linh của các bậc tiền nhân. Bởi thế, ban thờ là đầu nút gợi mở một vấn đề mang tính cốt lõi.
Trong quan niệm xưa nay, thờ cúng tổ tiên của người Việt mang nét đẹp của nền văn hóa dân tộc. Hạt nhân của xã hội là gia đình, giá trị bồi đắp sức mạnh bền vững của gia đình hội tụ ở nơi linh thiêng nhất là ban thờ. Bàn thờ có vị trí như thế nào đối với đời sống tinh thần của mỗi người thì cũng tác động đến cộng đồng như thế. Theo họa sĩ, nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Đức, ở không gian ấy, người ta không bao giờ để xuất hiện cái xấu xa, độc ác, nham hiểm hay tư túi, mà chỉ tập trung vun xới những gì tốt đẹp nhất. Coi trọng bàn thờ gia tiên là nỗ lực gìn giữ nền nếp gia phong, để thế hệ sau hiểu được nhân, lễ, nghĩa, các phẩm hạnh của người đi trước. “Biểu tượng là bàn thờ nên nó vừa quen thuộc, gần gũi, vừa thiêng liêng, không thể xâm phạm. Biểu tượng đó là giáo dục”.
Dù nghèo, dù giàu, dù giản dị hay sang trọng, dù cuộc sống còn tất bật hay đã an nhàn, thảnh thơi thì vào ngày Rằm, mồng Một, trên bàn thờ gia tiên thế nào cũng phải có nén hương như sợi dây thiêng liêng kết nối quá khứ, hiện tại, tương lai của mỗi gia đình. Lời khẩn cầu tỏa lan theo từng vòng xoáy khói hương, thể hiện ước vọng hồn nhiên và vô điều kiện. Cái thiện, nhân văn, tính gia huấn nhờ đấy mà nhân lên. Nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Đức cho rằng: “Khi không biết đâu là đúng sai, phải trái, không biết hành xử thế nào, thì ta quay về gia đình, về với cái lõi của bản thân để nhìn nhận, biết ứng xử đúng đắn. Giờ đây, khi giá trị đạo đức đang gióng lên hồi chuông báo động, khi cuộc sống quá bon chen, gấp rút, chúng ta càng cần tìm về, xây dựng lại lối sống và cách ứng xử như thế”.
Trong một tọa đàm về bàn thờ Việt, các khách mời không hề bàn về ban thờ theo cách vốn được nhiều người quan tâm như gắn với nghi lễ thờ cúng hay cách đặt ban thờ cho hợp phong thủy… Câu chuyện ban thờ lại hướng về đạo đức, về chuyện tử tế mà đạo diễn Trần Văn Thủy đã tìm ra sợi dây liên hệ bằng cách gọi: “Điều căn cốt của con người”. Còn nhà sử học Dương Trung Quốc thì bắt đầu bằng so sánh: So với kinh tế, văn hóa đang ít được quan tâm quá (!), để rồi khẳng định, suy đến cùng thờ cúng tổ tiên là giá trị đạo đức của con người, là giá trị ngàn đời của dân tộc. Những yếu tố ấy khó định lượng nhưng lại minh chứng rõ ràng dân tộc ấy phát triển bền vững hay không. “Bàn thờ trong gia đình Việt, đừng coi là chuyện hình thức. Quan tâm, phát huy đặc sắc ấy là tăng thêm sức mạnh dân tộc. Người xưa nói phú quý sinh lễ nghĩa nhưng đôi khi chính lễ nghĩa mới sinh ra phú quý là vậy”.
Theo Hải Đường - ĐBND
Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.
Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
“Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.
Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.
I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.
Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.
(Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.
Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.