Mộ cây đàn

15:22 01/09/2021

MẶC HY

(Nhớ về nhạc sĩ Nguyễn Hồng và các bạn văn nghệ hy sinh 40 năm trước)

Ảnh: internet

Những ngày tháng 7 năm 1990, nhân về thăm lại đồng bào thôn Mộc Trụ (xã Vinh Phú, huyện Phú Vang); tôi mới được trả món nợ với người bạn chiến đấu - nhạc sĩ - chiến sĩ - liệt sĩ Nguyễn Hồng cùng chị Nguyễn Thị Ngọc Lan, vợ chưa cưới của anh và các bạn trong Đội Tuyên truyền tỉnh Thừa Thiên những năm chống Pháp (1949-1951).

Qua chị Hòa, nguyên trưởng phòng Thương binh xã hội huyện Hương phú, tôi được biết mộ hai anh chị đã được bốc về chôn ở chân núi Nam Giao và chị Lan đã được công nhận liệt sĩ, còn anh Hồng thì hình như đang đợi... xét.

Sau trận càn quy mô lớn của giặc Pháp tháng 12 năm 1950 tại Balăng - Quảng Xuyên (Phú Vang) câu chuyện về ba ngôi mộ: mộ vợ chồng Nguyễn Hồng hai bên cùng mộ cây đàn ở giữa được nhân dân trong vùng truyền tụng lan ra cả các huyện miền Nam Quảng Trị. Thanh niên hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng mến mộ tiếng hát của anh, nhớ những bài ca của anh, đã lặn lội đi bộ hằng chục km len qua đồn giặc để vào thăm mộ anh chị và mộ cây đàn.

Trước đó ít lâu, tôi cùng anh Viễn Tín (cán bộ tuyên huấn trung đoàn 95, nay đã hy sinh) đi dự Đại hội thành lập Chi hội Văn nghệ Thừa Thiên đã có dịp gặp anh chị Nguyễn Hồng cùng các bạn trong đội tuyên truyền ở Đại hội họp tại Mỹ Lợi (Phú Lộc).

Ôi! Làm sao quên được những đêm hàng ngàn bộ đội của các Trung đoàn Cao Vân (101) hay Trung đoàn 95 ngồi lặng im phăng phắc dưới ánh trăng hay quanh đống lửa trại để nghe giọng hát ấm áp dễ thương, truyền cảm của Nguyễn Hồng vừa đàn, vừa hát bài ca địch vận.

"Trăng tà xế bóng qua sông
Xế bên gối lạnh thức lòng nhớ thương..."

Chiến khu Hòa Mỹ... những rặng lồ ô như không muốn xao động theo gió, dòng suối như ngừng róc rách, tiếng chim đêm im bặt như để các chiến sĩ nghe rõ hơn lời người hát, tiếng hát thổn thức:

... Anh đi cách ngã xa đường...
Tim em thổn thức canh trường vì anh!

Bài hát kết thúc mà dư âm còn lắng đọng trong lòng hàng ngàn người. Họ lặng lẽ đi một lúc rồi mới vỗ tay rào rạt để rồi mai lại lao vào một cuộc chống càn hay công kích một đồn địch...

Sau một trận đánh thắng oanh liệt giặc Pháp ở Quảng Bình, Nguyễn Hồng đi theo đơn vị đã sáng tác ngay tại chỗ bài "Đồi 18" - nơi đã diễn ra chiến trận.

"Đồi 18, Đồi 18 nắng ngập tràn trề
Mồ giặc Pháp, xác gục trưa hè..."

Tư lệnh trưởng phân khu Bình Trị Thiên Trần Quý Hai trong cuộc họp cán bộ Trung đoàn 95, sau trận đánh đã đánh giá rất cao bài hát này.

Những năm đánh Pháp ở Bình Trị Thiên, Văn công Quân đội chúng tôi thường kết hợp với Đội Tuyên truyền tỉnh tổ chức các đêm liên hoan quân dân ở các chiến khu Dương Hòa, Hòa Mỹ, hay Ba Lòng hoặc ở các vùng đồng bằng tự do giữa các đồn địch. Tôi và Nguyễn Hồng có nhiều dịp gặp nhau, biểu diễn, trao đổi và học tập lẫn nhau. Từ đó nẩy sinh tình bạn thân thiết giữa những người cùng chung chiến hào. Tôi được biết rất ít về anh, chỉ biết anh là học sinh Huế, đã cùng một số bạn bè ra vùng kháng chiến, tham gia Đội Tuyên truyền của tỉnh, cùng em gái anh là chị Miên hoạt động ở ngành An ninh. Trong Đại hội thành lập Chi hội Văn nghệ tỉnh, tôi đã được nghe ban nhạc của đội biểu diễn khá xuất sắc các bản nhạc không lời như "Các nhạc sĩ trẻ" (Les jeunes musiciens), "Sóng Nhật Lệ", "Dòng sông Đa-nuýp xanh" chỉ với vài cây đàn măng-đô-lin, băng-giô an-tô và ghi ta mà thôi. Nhưng các anh chơi cũng rất điêu luyện và đầy hào hứng gây cho người nghe những cảm xúc lạ kỳ.

Có bạn tôi đã nói vui:

"Đói ăn sắn mà chơi hay như vậy thì nay mai kháng chiến thành công, có đầy đủ phương tiện, các bạn còn chơi hay đến thế nào? Có lẽ phải đi biểu diễn quốc tế!"

Nhưng... thật trớ trêu, Nguyễn Hồng và các bạn anh đã không còn sống đến ngày kháng chiến thành công. Đội Tuyên truyền vừa hành quân đến Mộc Trụ thì trời đã khuya. Mọi người đã quá mệt, không còn sức để đào hầm. Số hầm bí mật của địa phương không đủ cho mọi người. Tờ mờ sáng hôm sau, tiếng súng giặc càn đã nổ. Mọi người chạy táo tác. Một số được cán bộ địa phương dìu xuống hầm. Hồng cùng Lan và vài đồng đội khác nhường hầm cho bạn đã phải chạy vào núp ở các bụi cây lúp xúp ở trảng cát, khi tiếng súng đã sát bên tai.

Giặc phát hiện ra vợ chồng Hồng cùng các bạn. Chúng lôi ra ngoài trảng cát, dùng báng súng đập rất dã man. Đau đớn và căm hờn, các anh chống trả quyết liệt và chửi mắng chúng. Một băng tôm-sơn, Hồng ngã gục. Máu loang trên áo. Lan thấy chồng bị bắn, căm giận, hét lên, một tên Pháp xả theo một băng đạn. Chị chết ngay trong lòng khe nước chảy đầu làng. Giặc xả súng bắn chết hết các bạn Hồng. Anh Ty vùng chạy ra phía phá Tam Giang vừa la: "Tao là Việt Minh đây!"

Một băng đạn bắn theo. Anh chới với và ngã gục xuống dòng nước.

Giặc dùng giày đinh dẫm nát cây đàn ghi ta của Hồng như sợ cả cây đàn cũng thét lên tiếng hét căm thù.

Một số cán bộ bị chúng bắt đày đi Côn Đảo đến 1954 mới được trao trả như anh Chung, anh Liên.

Sau trận càn, nhân dân vô cùng thương xót các anh và đã chôn cây đàn giữa 2 ngôi mộ vợ chồng anh.

Nguyễn Hồng và các bạn ơi! Các bạn hãy yên nghỉ trong lòng đất mẹ.

*

Hòa bình, tôi tập kết ra Bắc về Hà Nội. Cái chết của anh Hồng, chị Lan, các bạn anh, cùng cái chết của ba người bạn học cùng lớp với tôi ở chiến trường Bình Trị Thiên luôn luôn là nỗi canh cánh trong lòng tôi.

Năm 1986, tôi có dịp vào thăm lại chiến trường Dương Hòa, thăm Mộc Trụ, Phú Đa. Câu chuyện hy sinh của vợ chồng Nguyễn Hồng và các đồng đội vẫn được đồng bào địa phương nhớ mãi.

Nhân ngày thương binh liệt sỹ, tôi viết những dòng này mong các bạn biết thêm chi tiết về sự hy sinh to lớn của đội tuyên truyền tỉnh nhà, báo cho gia đình và các cơ quan chức năng biết để thi hành chính sách cho các đồng đội của chúng ta.

Huế, ngày 12/4/1992

M.H
(TCSH50/07&8-1992)

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • BỬU Ý

    Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí) từng sống mấy năm ở Huế khi còn rất trẻ: từ 1928 đến 1930. Đó là hai năm học cuối cùng cấp tiểu học ở nội trú tại trường Pellerin (còn gọi là trường Bình Linh, thành lập năm 1904, do các sư huynh dòng La San điều hành), trường ở rất gần nhà ga tàu lửa Huế. Thời gian này, cậu học trò 17, 18 tuổi chăm lo học hành, ở trong trường, sinh hoạt trong tầm kiểm soát nghiêm ngặt của các sư huynh.

  • LÊ QUANG KẾT
                   

    Giai điệu và lời hát đưa tôi về ngày tháng cũ - dấu chân một thuở “phượng hồng”: “Đường về Thành nội chiều sương mây bay/ Em đến quê anh đã bao ngày/ Đường về Thành nội chiều sương nắng mới ơ ơ ơ/ Hoa nở hương nồng bay khắp trời/ Em đi vô Thành nội nghe rộn lòng yêu thương/ Anh qua bao cánh rừng núi đồi về sông Hương/ Về quê mình lòng mừng vui không nói nên lời…” (Nguyễn Phước Quỳnh Đệ).

  • VŨ THU TRANG

    Đến nay, có thể nói trong các thi sĩ tiền chiến, tác giả “Lỡ bước sang ngang” là nhà thơ sải bước chân rong ruổi khắp chân trời góc bể nhất, mang tâm trạng u hoài đa cảm của kẻ lưu lạc.

  • TRẦN PHƯƠNG TRÀ

    Đầu năm 1942, cuốn “Thi nhân Việt Nam 1932-1941” của Hoài Thanh - Hoài Chân ra đời đánh dấu một sự kiện đặc biệt của phong trào Thơ mới. Đến nay, cuốn sách xuất bản đúng 70 năm. Cũng trong thời gian này, ngày 4.2-2012, tại Hà Nội, Xuân Tâm nhà thơ cuối cùng trong “Thi nhân Việt Nam” đã từ giã cõi đời ở tuổi 97.

  • HUYỀN TÔN NỮ HUỆ - TÂM
                                      Đoản văn

    Về Huế, tôi và cô bạn ngày xưa sau ba tám năm gặp lại, rủ nhau ăn những món đặc sản Huế. Lần này, y như những bợm nhậu, hai đứa quyết không no nê thì không về!

  • LƯƠNG AN - NGUYỄN TRỌNG HUẤN - LÊ ĐÌNH THỤY - HUỲNH HỮU TUỆ

  • BÙI KIM CHI

    Nghe tin Đồng Khánh tổ chức kỷ niệm 95 năm ngày thành lập trường, tôi bồi hồi xúc động đến rơi nước mắt... Con đường Lê Lợi - con đường áo lụa, con đường tình của tuổi học trò đang vờn quanh tôi.

  • KIM THOA

    Sao anh không về chơi Thôn Vỹ
    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên        
          
                       (Hàn Mạc Tử)

  • NGUYỄN VĂN UÔNG

    Hôm nay có một người du khách
    Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên         
     

    (Xóm Ngự Viên - Nguyễn Bính)

  • HOÀNG THỊ NHƯ HUY

    Tôi biết Vân Cù từ tấm bé qua bóng hình người đàn bà gầy đen, gánh đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, rảo khắp các xóm nhỏ ở Thành Nội, với giọng rao kéo dài: “Bún…bún…ún!” mà mẹ đã bao lần gọi mua những con bún trắng dẻo mềm.

  • LÊ QUANG KẾT                
                      Tùy bút

    Hình như văn chương viết về quê hương bao giờ cũng nặng lòng và giàu cảm xúc - dù rằng người viết chưa hẳn là tác giả ưu tú.

  • TỪ SƠN… Huế đã nuôi trọn thời ấu thơ và một phần tuổi niên thiếu của tôi. Từ nơi đây , cách mạng đã đưa tôi đi khắp mọi miền của đất nước. Hà Nội, chiến khu Việt Bắc, dọc Trường Sơn rồi chiến trường Nam Bộ. Năm tháng qua đi.. Huế bao giờ cũng là bình minh, là kỷ niệm trong sáng của đời tôi.

  • LÊ QUANG KẾT

    Quê tôi có con sông nhỏ hiền hòa nằm phía bắc thành phố - sông Bồ. Người sông Bồ lâu nay tự nhủ lòng điều giản dị: Bồ giang chỉ là phụ lưu của Hương giang - dòng sông lớn của tao nhân mặc khách và thi ca nhạc họa; hình như thế làm sông Bồ dường như càng bé và dung dị hơn bên cạnh dòng Hương huyền thoại ngạt ngào trong tâm tưởng của bao người.

  • HUY PHƯƠNG

    Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
    Mà mưa trắng đất, trắng trời Thừa Thiên         
                          
                                              (Tố Hữu)

  • PHAN THUẬN AN

    Huế là thành phố của những dòng sông. Trong phạm vi của thành phố thơ mộng này, đi đến bất cứ đâu, đứng ở bất kỳ chỗ nào, người ta cũng thấy sông, thấy nước. Nước là huyết mạch của cuộc sống con người. Sông là cội nguồn của sự phát triển văn hoá. Với sông với nước của mình, Huế đã phát triển theo nguyên tắc địa lý thông thường như bao thành phố xưa nay trên thế giới.

  • MAI KIM NGỌC

    Tôi về thăm Huế sau hơn ba thập niên xa cách.Thật vậy, tôi xa Huế không những từ 75, mà từ còn trước nữa. Tốt nghiệp trung học, tôi vào Sài Gòn học tiếp đại học và không trở về, cho đến năm nay.

  • HOÀNG HUẾ

    …Trong lòng chúng tôi, Huế muôn đời vẫn vĩnh viễn đẹp, vĩnh viễn thơ. Hơn nữa, Huế còn là mảnh đất của tổ tiên, mảnh đất của trái tim chúng tôi…

  • QUẾ HƯƠNG

    Năm tháng trước, về thăm Huế sau cơn đại hồng thủy, Huế ngập trong bùn và mùi xú uế. Lũ đã rút. Còn lại... dòng-sông-nước-mắt! Người ta tổng kết những thiệt hại hữu hình ước tính phải mươi năm sau bộ mặt kinh tế Thừa Thiên - Huế mới trở lại như ngày trước lũ. Còn nỗi đau vô hình... mãi mãi trĩu nặng trái tim Huế đa cảm.

  • THU TRANG

    Độ hai ba năm thôi, tôi không ghé về Huế, đầu năm 1999 này mới có dịp trở lại, thật tôi đã có cảm tưởng là có khá nhiều đổi mới.

  • TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ

    Có lẽ bởi một nỗi nhớ về Huế, nhớ về cội nguồn - nơi mình đã được sinh ra và được nuôi dưỡng trong những tháng năm dài khốn khó của đất nước, lại được nuôi dưỡng trong điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt. Khi đã mưa thì mưa cho đến thúi trời thúi đất: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi/ Mà mưa xối xả trắng trời Trị Thiên…” (Tố Hữu). Và khi đã nắng thì nắng cho nẻ đầu, nẻ óc, nắng cho đến khi gió Lào nổi lên thổi cháy khô trời thì mới thôi.